Được
tham dự thảo luận về những Cơ Hội và Thách Thức của
Phật Giáo trong Thời Đại Mới, tôi xin đóng góp vài ý kiến
liên hệ đến vai trò của Giáo Hội Phật Giáo đối với
nền giáo dục và đào tạo của chư Tăng Ni thông qua cơ chế
của một Đại Học Phật Giáo. Bài đóng góp này chỉ gồm
những gợi ý chuyên môn trong ngành giáo dục đại học mà
chưa có tính quy mô vì những giới hạn nhất định trong quá
trình tìm tòi tài liệu cho bài viết từ hải ngoại.
Trước
hết là một vài nhận xét tổng thể và sơ lược: Bên cạnh
những phát triễn và đóng góp tích cực cho sinh hoạt Phật
sự trong những lãnh vực khác, Giáo Hội dường như đã gặp
rất nhiều khó khăn trong nỗ lực đào tạo Tăng Ni có trình
độ để kế thừa và phát huy nội lực của đạo pháp nhằm
góp phần xây dựng quê hương. Đối nội thì Giáo Hội có
lẽ đã chưa nắm bắt và vận dụng được những cơ hội
để chấn chỉnh và phát triễn sở học của Tăng Ni dù đất
nước đã thống nhất và hòa bình. Đối ngoại thì Giáo Hội
có vẽ như đã thụ động trước khuynh hướng toàn cầu hóa
(gồm cả Tây phương hóa và Thiên Chúa giáo hóa) mà ảnh hưỡng
tiêu cực đang và sẽ tiếp tục áp đảo sinh hoạt xã hội
và có khả năng làm biến tính cả nền văn hóa của dân tộc
ta.
Dù
nguyên nhân của các khó khăn này là gì thì tôi cũng rất
kính trọng và tán thán nỗi ưu tư về quê hương và đạo
pháp của Giáo Hội và hoàn toàn tin tưởng rằng mai đây Phật
Giáo, như một bộ phận đã từng và sẽ còn gắn bó liên
tục với vận mệnh của dân tộc suốt dọc chiều dài lịch
sử, sẽ vượt qua được mọi thử thách để tích cực nắm
lấy cơ hội mà xiển dương chánh pháp và xây dựng quê hương.
Trước
tình hình khó khăn trên, và trong bối cảnh của những mâu
thuẫn và xung đột mang tính văn hóa của thời đại hiện
nay, có lẽ nỗ lực quan trọng và tiên quyết nhất của Giáo
Hội Phật Giáo phải là chủ trương nâng cao trình độ học
vấn và mở rộng tầm kiến thức của chư Tăng Ni trẻ. Do
vậy, ưu tiên nhất và thực tế nhất của Giáo Hội phải
là một nền giáo dục cấp Đại Học cho Tăng Ni thông qua
việc xây dựng và phát triễn một Đại Học Phật Giáo Việt
Nam.
Từ
góc độ giáo dục, hãy xét sơ qua nền Đại Học của nước
ta hiện nay.
Gắn
liền với nỗi thăng trầm của đất nước, nhất là trong
lịch sử cận đại, nền Đại Học Việt Nam đã trãi qua
nhiều đổi thay cơ bản. Gần đây, ngoài những phát triễn
và đóng góp tích cực, nhiều dấu hiệu cho thấy cơ chế
Đại Học của nước ta đang kinh qua một giai đoạn khó khăn
mà các hiện tượng tiêu cực vừa nhiều về số lượng vừa
sâu về chất lượng đã làm cho nền Đại Học nầy bị trì
trệ và dường như mất định hướng. Điều này cho thấy
tiềm ẩn trong vai trò đào tạo nhân tài để phát triễn đất
nước và xây dựng quê hương của nền Đại Học ta là những
thách đố to lớn mà các nhà hoạch định chính sách và tổ
chức Đại Học phải đương đầu.
Một
số yếu tố sau đây có thể vừa là nguyên nhân vừa là hậu
quả của tình trạng trên:
- Yếu
tố cơ sở hạ tầng:
Theo
một báo cáo[1] vào năm 2003 của Tổ chức Bộ trưởng Giáo
dục các nước Đông Nam Á, Việt Nam có 191 cơ sở giáo dục
cấp đại học gồm 48 đại học công lập, 16 đại học tư
thục, và 127 trường cao đẳng (gồm cả công lập lẫn tư
thục). Quả là một bước nhảy vọt về số lượng cơ sở
giáo dục cấp đại học so với khoảng 10, 15 năm về trước.
Tuy nhiên, “bước nhảy vọt” này vẫn chưa cung cấp đủ
không gian đào tạïo so với sự gia tăng của số lượng sinh
viên và vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu học hỏi của
họ. Từ năm 1992 đến 1995, số lượng sinh viên đã tăng gấp
đôi, từ hơn 200.000 đến 414.000. Con số này lại tăng gấp
đôi một lần nữa từ năm 1995 đến 1997[2]. Năm 2002, trong
số một triệu hai trăm ngàn tuyễn sinh, lượng sinh viên đăng
ký tại các đại học đã lên đến gần một triệu. Người
ta ước lượng con số này sẽ tăng 5% mỗi năm trong 5 năm
sắp tới[3].
- Yếu
tố kinh tế và nhân văn:
Khó
khăn thứ hai nổi bật tính thời đại và phản ảnh sự lúng
túng của các xã hội truyền thống trước khuynh hướng toàn
cầu hóa áp đảo ào ạt đến từ phương Tây.
Dường
như các nhà hoạch định chính sách và tổ chức Đại Học
bị dằng co cùng một lúc bởi hai lực ngược chiều. Một
bên là chủ trương “đổi mới” xã hội, đẩy mạnh kinh
tế thị trường để hội nhập vào cộng đồng quốc tế
nhằm thỏa mãn xu thế toàn cầu hóa đang lên đến cao điểm
mà những ảnh hưỡng tích cực lẫn các hệ quả tiêu cực
đang tác động càng lúc càng rõ nét từ thập niên vừa qua.
Bên kia là những mẫu mực cũ, đã bắt rễ trong sinh hoạt
xã hội và là khuôn mẫu tư duy hướng dẫn hành động từ
mấy mươi năm trước. Trước mâu thuẫn này, các chuyên gia
giáo dục phải tìm đáp số cho bài toán hội nhập và phát
triễn để bắt kịp nhu cầu thời đại và thế giới nhưng
đồng thời cũng phải rất dè dặt vì nguy cơ bản sắc văn
hóa dân tộc có khả năng bị biến đổi sâu sắc đến độ
bất khả hồi.
Chúng
ta chưa thấy nền Đại Học Việt Nam đề xuất và chung quyết
được nội dung và hướng giải quyết các vấn nạn giáo
dục và xã hội hiện nay hay trã lời rõ ràng các câu hỏi
căn bản và toàn diện đã được nhiều người đặt ra: Phát
triễn quốc gia có phải chỉ là gia tăng sản xuất kinh tế?
Toàn cầu hóa có phải là rập theo khuôn mẫu phát triễn của
phương Tây? Làm sao gìn giử và phát triễn bản sắc dân tộc?
Làm sao tạo sự hài hòa giữa những tiến bộ cần thiết
về kỹ thuật và thương mại với sự phát triễn con người
nhân văn và nghệ thuật để nền văn minh có thể tiến bộ
một cách cân bằng?
- Yếu
tố bản chất:
Nhưng
thách đố lớn nhất có lẽ là sự khó khăn xác định mục
đích và vai trò hiện nay của cơ chế Đại Học. Ngoài những
nhiệm vụ có tính nghiên cứu như đóng góp vào các công trình
tìm hiểu lịch sử và phản ánh tình trạng xã hội để bảo
tồn và thăng hoa tinh thần dân tộc, cơ chế Đại Học cũng
được trao cho vai trò thực tế và cụ thể là đào tạo nhân
tài để xây dựng và phát triễn quê hương cùng đóng góp
vào nỗ lực giải quyết các vấn nạn xã hội...
Trong
thực tế, rất nhiều người có lòng và có phương tiện đã
dấn thân, đối diện với những thách đố nói trên. Đã
có rất nhiều buổi hội thảo, rất nhiều công trình nghiên
cứu và nhiều bài viết đầy tâm huyết của những người
có trách nhiệm gióng lên tiếng chuông cảnh báo để tìm một
giải pháp cho vấn nạn giáo dục hiện nay. Trước sự thúc
bách phải giải quyết nhu cầu học hỏi, do đó làm cho nhu
cầu trường lớp càng lúc càng tăng, cả nước đã tưng bừng
mở trường đại học như bông hoa nở rộ trong một cảnh
vườn, đua nhau khoe màu chen sắc. Trong khung cảnh đó, trong
khu vườn muôn sắc đó, sự thiếu vắng một đóa sen vàng
lại càng trở nên rõ nét!
Giáo
Dục là một đề tài mênh mông và Đại Học nói riêng cũng
đã là một chủ đề quá lớn và phức tạp. Trong giới hạn
của kiến thức và kinh nghiệm thu nhận tại Mỹ của bản
thân, do đó có lẽ không phản ánh hoàn toàn thực tế hiện
tại nơi quê nhà, người viết không mang tham vọng đề ra
những phương thức giãi quyết ba vấn nạn trên mà chỉ mạo
muội đóng góp một vài ý kiến cơ bản về vấn đề Tổ
Chức và Quản Trị Đại Học và những ứng dụng của nó
vào một Đại Học Phật Giáo.
*
* *
Trước
những “vấn đề” nêu trên và do những yếu tố đặc thù
của một trường Đại Học Phật Giáo trong không gian và thời
gian hiện nay, những khía cạnh quan trọng của vấn đề Tổ
Chức và Quản Trị Đại Học là: (a) Trường cần có một
cơ chế Uyển Chuyển để giúp người sinh viên đạt được
mục tiêu của mình; (b) Trường cần có tính phổ quát để
người dân dù ở đâu, và chỉ với một số vốn kiến thức
nào đó, cũng có thể được hưỡng nền giáo dục “hậu
Trung học”; (c) Trường cần là môi trường cho những công
trình nghiên cứu chuyên và sâu để Khu vực, Châu lục, và
Thế giới phải chấp nhận ngành học và bằng cấp của Đại
Học Việt Nam. Nhưng Trường cũng cần cung cấp những kiến
thức đại cương để mở rộng tầm nhìn của người sinh
viên ra ngoài kiến thức chuyên và sâu của họ; (d) Trường
cần là nơi phát huy và chuyên chở được văn hóa và học
thuật đặc thù của dân tộc để Việt Nam trở thành điểm
đến có giá trị và có khả năng thu hút du học sinh và nghiên
cứu sinh từ khắp thế giới; và (e) Trường cần là nơi mà
thông tin được lưu Chuyển một cách tự do, không bị giới
hạn hay áp lực vì bất kỳ một sức ép nào ngoại trừ các
tiêu chuẩn tôn trọng thuần phong mỹ tục của dân tộc.
Phân
loại thành 5 khía cạnh trên chỉ là để giản lược sự
trình bày, nhưng rõ ràng các khía cạnh này có mối liên hệ
trùng trùng duyên khởi nên sự áp dụng chúng phải triệt
để, đồng bộ và toàn diện.
Chúng
ta thử xem xét các khía cạnh nầy:
A.
Cơ Chế Uyển Chuyển
Cơ
chế tổ chức đại học hiện nay có tính cục bộ (trường
nào trách nhiệm trường đó), địa phương (sinh viên gặp
khó khăn đổi trường từ nơi này sang nơi khác), và cứng
nhắc trong giáo trình (sinh viên khó đổi ngành học nếu không
muốn bắt đầu lại từ đầu). Điều này phản ánh “lối
suy nghĩ truyền thống của giáo dục trong đó trọng tâm của
việc giảng dạy và học tập là người thầy mà không bắt
kịp tư duy hiện đại trong đó sự sáng tạo, kiểm chứng
và sử dụng kiến thức, cùng sự thay đổi thái độ, kỹ
năng, và kỹ xảo của sinh viên được nhấn mạnh”[4].
Một
vài thay đổi trong cách tổ chức và quản lý đại học sẽ
làm cho cơ chế này trở nên linh động hơn, giúp cho sinh viên
không mất những chứng chỉ đã hoàn tất hay bỏ phí thời
gian học trước đây, mà phẩm chất giáo dục vẫn không thay
đổi nếu không muốn nói là còn được tăng thêm:
- Hệ
thống tín chỉ (Unit/Credit):
Đây
là một ý niệm phổ biến đã được áp dụng từ lâu trong
hệ thống giáo dục tại nhiều quốc gia trên thế giới. Tại
Việt Nam, vào những năm đầu thập niên 1970, một số đại
học tư thục trong miền Nam cũng đã bắt đầu xử dụng hệ
thống này. Một cách đơn giản, chúng ta có thể so sánh hai
hệ thống, một theo “Chứng chỉ” [hay “năm (học)”] và
một theo “Tín chỉ”, qua sự xác định đơn vị của bằng
cấp: Nguyên tắc của cả hai hệ thống này giống nhau ở
chổ bằng cấp là một tập hợp của nhiều lớp nhưng trong
hệ thống “chứng chỉ”, số lượng cũng như sự chọn
lựa môn học của các lớp để hoàn tất chương trình Cử
nhân rất bị giới hạn. Ngược lại, trong hệ thống “tín
chỉ” thì số lượng và sự chọn lựa môn học của các
lớp lại rất đa dạng và phong phú.
Nhưng
áp dụng hệ thống tín chỉ không phải là việc đơn giản:
(a) Phải mất một quá trình dài lâu để tạo nên được
một số lượng các lớp cần thiết đủ để người sinh
viên chọn lựa và đủ để đảm bảo cho chất lượng của
bằng cấp; (b) Phải mất một thời gian dài để trường đại
học xây dựng nên học trình và thảo luận sự hợp lý và
đầy đủ của nó trước khi được Bộ Giáo Dục và Đào
Tạo phê chuẩn...; (c) Phải mất một thời gian nữa để các
cán bộ quản lý, giáo sư, sinh viên, và cộng đồng hiểu
và chấp nhận hệ thống mới này; và (d) Để phát huy tối
đa hiệu quả của hệ thống tín chỉ, sự áp dụng phải
đồng bộ và nhất quán.
Bên
cạnh yếu tố thời gian, bốn yêu cầu này cũng đòi hỏi
một ngân sách phong phú. Tuy nhiên một khi đã được áp dụng
thì hệ thống tín chỉ sẽ mang lại ít nhất bốn điều tích
cực sau đây: (a) Sự Uyển Chuyển trong việc thành lập học
trình làm cho nó trở thành đa dạng và phong phú, cho sinh viên
có nhiều lựa chọn; (b) Sự linh động này giúp cho sinh viên
được dễ dàng trong việc Chuyển trường qua “quá trình
lượng giá tương đương các lớp học” (Articulation process)
sẽ đề cập dưới đây; (c) Nếu cần sinh viên cũng có thể
theo học tại nhiều trường để rút ngắn thời gian ra trường;
và (d) Sinh viên dễ thiết kế thời khóa biểu và chương trình
học phù hợp với đời sống gia đình và việc làm của cá
nhân mình.
Gần
đây, “tín chỉ” đã được thảo luận nhiều ở một số
trường tại Việt Nam như Đại Học Bách Khoa T/P HCM và Đại
Học Xã Hội Nhân Văn và đang được chuẩn bị triễn khai
thí điểm ở vài khoa dù vẫn còn một số trở ngại[5].
- Quá
trình lượng giá tương đương các lớp học (Articulation
Process):
Điều
quan trọng nhất làm cho hệ thống đại học trở nên linh
động và Uyển Chuyển chính là quá trình này. Đây là một
nỗ lực có tính tập thể gồm các giáo sư và cán bộ quản
lý của các trường đại học và những chuyên viên của Bộ
Giáo dục và Đào tạo nhằm lượng giá sự tương đương
của các lớp trong những bộ môn được giảng dạy tại nhiều
trường khác nhau. Càng nhiều lớp được quy định là tương
đương giữa các trường (qua nội dung, phương pháp giảng
dạy, sách giáo khoa, cách thiết lập thang điểm...) thì càng
dễ dàng cho sinh viên Chuyển từ trường này qua trường khác
hay thay đổi ngành học mà không bị mất thì giờ vì vẫn
có thể tiếp tục học trình (curriculum) nhờ các lớp đã
hoàn tất trước đó, tương tự như hệ đào tạo “văn bằng
2” hiện đang được áp dụng ở một số đại học.
Quá
trình này khá phức tạp và đòi hỏi các nhân sự và cơ chế
liên hệ làm việc chặt chẽ và liên tục với nhau để xây
dựng một danh sách các lớp tương đương giữa những trường
đại học trên toàn quốc. Điều căn bản để làm cho quá
trình này đơn giản và thành công chính là sự chuẫn hóa
tiến trình xây dựng nên giáo trình (curriculum) của một lớp
với đầy đủ nội dung, phương pháp giảng dạy, sách giáo
khoa, thang điểm, và những điều phụ thuộc.
Từ
lâu, bộ Giáo dục của nhiều nước tiền tiến đã xử dụng
cả hai giải pháp nói trên để nâng cao tính Uyển Chuyển
của nền Đại Học của họ. [Ví dụ như hệ thống California
Articulation Number (CAN) tại bang California, Hoa Kỳ, hiện đang
được nâng cấp]
Tính
Uyển Chuyển này của tổ chức đại học cũng rất phù hợp
với tinh thần khế lý và khế cơ của Phật giáo và nhất
là nhu cầu phát triễn trí dục của chư Tăng Ni sinh. Hiẹân
nay. chư Tăng Ni sinh hoàn tất chương trình Trung Học phổ thông
càng lúc càng đông và nhu cầu của một nền giáo dục hiện
đại ở trình độ đại học càng lúc càng lớn. Vậy nhưng
chùa chiền thì tản mác khắp nước mà Phật Giáo lại không
có bao nhiêu cơ sở đại học! Do vậy, Đại Học Phật Giáo
trong tương lai phải phát triễn nhịp nhàng với các đại
học khác, công cũng như tư, trong cũng như ngoài nước. Nếu
không thay đổi cơ chế cứng nhắc đã lỗi thời của nền
đại học xưa cũ bằng sự Uyển Chuyển và linh động mới
mẽ của cách tổ chức và quản lý đại học hiện đại
thì e rằng nhân sự tương lai của Phật giáo sẽ cứ tiếp
tục dậm chân tại chỗ vì những giới hạn về địa lý,
vì nhu cầu hoằng pháp, và vì các thiếu hụt về tài chánh.
B.
Tính
Phổ Quát
Cơ
chế đại học hiện nay với các kỳ thi tuyễn sinh khó khăn
đã làm cho nền giáo dục đại học dần dà trở nên giới
hạn chỉ dành cho thành phần ưu tú (elitist) mà thôi. Tình
trạngï thiếu thốn trường ốc, phương tiện giảng dạy,
và phí tổn đại học cao quả đã làm đậm nét thêm nữa
sự bất công hay bất quân bình trong việc san sẻ kiến thức
đại học hiện nay như giáo sư Dương Thiệu Tống đã suy
nghĩ, “nếu nền giáo dục của ta còn có sự phân biệt giàu
nghèo, sự phân biệt thành phần xã hội, thi cử và tuyễn
chọn còn thiếu công bằng... [thì] không những đóng góp vào
sự thất bại của công cuộc đầu tư, mà điều đáng lo
nhất là nó sẽ làm hao mòn, nếu không nói là hủy hoại,
một truyền thống tốt đẹp hàng nghìn năm của dân tộc
ta”[6]. Ở các nước tiền tiến, dân trí được nâng cao
là nhờ tính phổ quát của nền giáo dục đại học. Không
phải ai cũng hoàn tất được học trình và có bằng cấp
đại học nhưng ít nhất ai cũng có cơ hội được học hỏi
những kiến thức đại học bất kể tuổi tác hay giới tính.
Chức năng này của đại học sẽ là một đóng góp lớn vào
công cuộc nâng cao dân trí nói chung.
Vài
đề nghị dưới đây về cách tổ chức và quản lý đại
học sẽ giúp đại chúng hóa nền giáo dục đại học và
mang kiến thức đại học đi sâu và đi xa hơn vào Tăng, Ni
chúng và cộng đồng dân cư.
- Giáo
dục từ xa (Distance Education):
Ngoài
phương pháp giáo dục truyền thống qua mẫu mực một lớp
học với thầy/cô đứng lớp và sinh viên ghi chép nơi ghế
ngồi, trường đại học hiện đại phải thiết kế những
chương trình giáo dục sử dụng công nghệ mới của thời
đại tin học. “Mạng” thông tin điện tử (Internet) có thể
được dùng làm môi trường trao đổi giữa Thầy và Trò,
để giảng dạy và học hỏi. Các lớp “on-line” này cũng
cần được tổ chức để đạt tiêu chuẩn và được công
nhận như những lớp truyền thống nhằm thỏa mãn đòi hỏi
của học trình. Tuy không phải môn học nào cũng có thể dạy
trên mạng tin học, loại lớp “on-line” này càng lúc càng
thịnh hành vì vượt qua được rào cản địa lý và giới
hạn về tài chánh, cho phép nhiều sinh viên tham dự hơn là
một lớp học truyền thống. Ở những địa phương chưa có
khả năng truy cập vào mạng thì trường đại học hiện đại
phải thiết kế những lớp học dùng vô tuyến truyền hình
làm môi trường giảng dạy.
Cái
thời mà “giáo dục từ xa” bị xem thường và bị coi là
“phi chính quy” đã qua rồi, Hiện nay, ở các nước tiền
tiến, “giáo dục từ xa” đang được phát huy mạnh mẽ,
song song với sự phát triễn của mạng tin học hiện đại.
Dù cả hai phương pháp, internet và truyền hình, đều có một
số giới hạn nội tại nhưng cả hai đều gia tăng đáng kể
tính phổ quát của kiến thức đại học để bổ túc cho
hình thức giãng dạy truyền thống hiện nay.
- Kiến
thức đại cương (General Education):
Học
trình Cử Nhân nên được thiết kế để bao gồm cả kiến
thức chuyên môn và kiến thức đại cương, giúp trang bị
cho người sinh viên những chuẩn bị đầy đủ cho ngành học
của mình đồng thời có được kiến thức rộng rãi về
những vấn đề khác.
Chính
phần “kiến thức đại cương” này sẽ làm tăng tính phổ
quát của Đai Học. Nhất là khi hệ thống “tín chỉ” được
áp dụng để tăng số lượng và chất lượng của các lớp
“kiến thức đại cương” này. Nếu đủ điều kiện tài
chánh, sinh viên cũng như người dân thường có thể ghi học
các lớp “đại cương” này mà không cần ưu tư về học
trình hay điều kiện để ra trường gì cả. Học chỉ vì
muốn hiểu một hay nhiều vấn đề nào đó. Các kiến thức
đại cương này sẽ nâng cao dân trí và làm giàu vốn kiến
thức của cả cộng đồng.
Ở
một số nước tiền tiến, kiến thức đại học được đại
chúng hóa qua những chương trình giáo dục cộng đồng (Community
Education). Vì những giới hạn về tài chánh và kỹ thuật,
Đại Học Phật Giáo có thể gồm chung phần học trình “chính
quy” với chương trình giáo dục cộng đồng.
Tính
phổ quát này hoàn toàn phù hợp với tinh thần khoa học và
bình đẳng của Phật giáo. Giáo dục Phật Giáo tôn trọng
con người vì con người là một vị Phật tương lai. Mọi
người đều có Phật tính nên mọi người đều bình đẳng,
không phân biệt sang hèn, giai cấp, giới tính, chủng tộc[7]...
Đại chúng hóa kiến thức đại học sẽ đóng một vai trò
quan trọng trong nổ lực nâng cao dân trí và trình độ của
đại đa số chư Tăng Ni. Nhất là cho những quý vị không
có cơ hội và phương tiện đến trường. Ngoài việc phổ
quát hóa kiến thức đại học, yếu tố này cũng sẽ tiếp
tục đóng góp một phần rất lớn cho công cuộc hoằng dương
chánh pháp, giúp Phật giáo thấm sâu hơn nữa vào đời sống
tâm linh và tinh thần của dân tộc.
C.
Đạt Tiêu Chuẩn Để Thế Giới Công Nhận
Hiện
nay học trình và văn bằng của đại học Việt Nam chưa được
chấp nhận rộng rãi trên thế giới. Đã xảy ra trường hợp
du học sinh, từng tốt nghiệp đại học tại Việt Nam và
từng được cơ quan tư nhân như International Education Research
Foundation ước lượng văn bằng tương đương với văn bằng
Cử Nhân của Mỹ (một chuyện hiếm hoi), nhưng vẫn bị đại
học Mỹ khước từ vào chương trình cao học hay tiến sĩ
vì không được coi là tương đương. Dĩ nhiên đây là điều
thiệt thòi và bất công đối với sinh viên nước ta.
Một
trong những mục tiêu chính và đáng được chú ý nhất của
Đai Học Phật Giáo là phải sớm đạt được tiêu chuẩn
cao cấp để học trình và văn bằng từ đại học Việt Nam
có khả năng được những quốc gia tiền tiến trên thế giới
chấp nhận. [Ngay cả những đại học hàng đầu, có tiếng
tăm và truyền thống ở Trung Quốc gần đây cũng đã nổ
lực để đạt được tiêu chuẩn quốc tế bằng cách mời
các nhà nghiên cứu tiếng tăm trên thế giới vào hàng ngũ
giáo sư, hiện đại hóa các phòng thí nghiệm, làm thêm nhiều
công trình nghiên cứu, và nâng cấp cơ sở trường ốc[8]...]
Ở một nước nhỏ như Việt Nam ta, vài đề nghị dưới đây
về việc tổ chức và quản lý đại học có thể sẽ tạo
được nền móng đưa đến khả năng đạt tiêu chuẩn cao
cấp đó.
- Quá
trình công nhận (Accreditation Process):
Có
thể nói đây là điều quan trọng nhất cho sự hiện hữu
của một đại học. “Quá trình công nhận” này làm
cho văn bằng của trường đại học có giá trị, được chính
phủ và các trường đại học khác trong nước công nhận.
Ngoài ra, nếu quá trình này càng được thực hiện đúng đắn
thì khả năng được các cơ chế giáo dục trong khu vực, châu
lục, và quốc tế công nhận lại càng cao. Ở các nước tiền
tiến, quá trình này cũng giúp cho trường đại học nhận
được sự hỗ trợ tài chánh từ các cơ quan chính phủ, các
tổ chức tư nhân, và cơ sở doanh nghiệp... để phát triễn
thêm hoặc để thực hiện các công trình nghiên cứu quan trọng.
Hiện
nay, Việt Nam chưa có một cơ chế để thực thi và giám sát
“quá trình công nhận” này dù chính phủ dường như đang
có xu hướng chọn một số trường để chuẫn hóa chương
trình đào tạo cho đạt được tiêu chuẩn quốc tế nhằm
nâng cao chất lượng để bằng cấp được công nhân rộng
rãi hơn5. Đại Học Phật Giáo sẽ phải theo một số tiêu
chuẩn gắt gao và có tính quốc tế để tự thiết kế quá
trình này với sự hợp tác của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo.
Việc làm này là để nâng cao chất lượng của tiến trình
dạy và học, của học trình, và bằng cấp của chính Đại
Học Phật Giáo, và cũng để góp phần vào ý thức tự giác
tập thể giữa các trường Đại Học hầu thiết lập, phát
huy và gìn giữ phẩm chất cao. Gần đây, Đại Học Quốc
Gia t/p HCM thành lập đoàn đi đánh giá một vài khoa của các
trường thành viên5. Dù chưa được thể chế hóa nhưng đây
đã là bước đầu đúng hướng.
“Quá
trình công nhận” cần nhiều yếu tố để đạt được tiêu
chuẩn hầu bảo đảm chất lượng của giáo dục đại học.
Ví dụ như tiêu chuẩn tỷ lệ Thầy/Cô đối với số sinh
viên trong lớp; số giáo sư có văn bằng Tiến Sĩ; tỷ lệ
số giáo sư đã vào biên chế so với số giáo sư thỉnh giãng;
sự sâu rộng cùng chất lượng của “quá trình lượng giá
tương tương” (articulation process) của lớp học giữa các
trường, số lượng cùng phẩm chất các công trình nghiên
cứu của lớp sinh viên tiến sĩ... Ngoài ra, đại học phải
có hệ thống thư viện được các tổ chức thư viện quốc
tế công nhận về số lượng và chất lượng tài liệu chuyên
ngành để tham khảo, số lượng máy vi tính và khả năng truy
cập mạng thông tin điện tử, tỷ lệ số quản thủ thư
viện so với số sinh viên... Ngoài các thông tin “tĩnh” đó,
quá trình công nhận (accreditation process) còn chú ý đến những
thông tin “động” như chất lượng của mối liên hệ giữa
ban quản lý đại học và hội đồng giáo sư, khả năng đạt
được những mục tiêu dài hạn và ngắn hạn mà trường
đại học đặt ra, tỷ lệ sinh viên ra trường, số công trình
nghiên cứu hàng năm của ban giảng huấn...
Đóng
góp mạnh mẽ vào nỗ lực đạt được các tiêu chuẩn cao
cấp này là một số yếu tố đã đề cập trước như “Hệ
thống tín chỉ” (Units), “Quá trình lượng giá tương đương”
(Articulation), và “Giáo dục từ xa” (Distance learning)... Ngoài
ra sự “tự do lưu chuyển thông tin” như sẽ nói đến dưới
đây cũng đóng một vai trò quan trọng không kém.
Đối
với Đại Học Phật Giáo thì vấn đề đạt tiêu chuẩn quốc
tế là điều tối quan trọng vì vai trò đào tạo nhân tài
của trường và nhất là vì chính nhiệm vụ tiên phong của
trường trong sinh họat Phật Giáo hiện đại của hôm nay và
mai hậu. Mượn tên một trong những đầu sách bán chạy nhất
mới đây (“The World Is Flat”), vì những tiến bộ trong địa
hạt khoa học và tin học, thế giới ngày nay không còn là
hình cầu nữa mà lại là một mặt phẳng chật hẹp, trên
đó mọi liên hệ đều hổ tương và gắn bó chặt chẽ, chúng
ta có thể ý thức ngay là, trong bối cảnh đó, Đại Học
Phật Giáo với học trình và bằng cấp của trường cần
được công nhận càng rộng rãi càng tốt trong quốc nội,
trong khu vực, châu lục, và trên thế giới.
D.
Việt
Nam Là Điểm Đến Của Du Học Sinh Thế Giới
Hiện
nay, văn bằng và nền giáo dục đại học của nước ngoài
luôn luôn được coi là có giá trị hơn hẳn văn bằng và
nền giáo dục đại học ở Việt Nam. Cơ chế giáo dục hiện
tại dường như đã thụ động chấp nhận điều này như
một tình trạng hiển nhiên. Du học nước ngoài có lẽ
là niềm mơ ước lớn nhất của đại đa số học sinh và
sinh viên Việt Nam. Theo một trong những ước tính của Bộ
Giáo Dục và Đào Tạo, có tới 47.000 sinh viên Việt Nam đang
du học trên toàn thế giới trong năm 20059. Ngược lại, ngoài
một số ít sinh viên ngoại quốc và Việt kiều xa xứ theo
học các chương trình tiếng Việt và văn hóa Việt ở một
vài đại học lớn tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh,
số sinh viên ngoại quốc ghi tên học tại các đại học Việt
Nam có thể không đến một trăm người. Du học và trao đổi
sinh viên là chuyện thường xảy ra nhưng, trong trường hợp
Việt Nam, các sự kiện nói trên đã rõ ràng cho thấy tính
mất cân đối.
Đại Học Phật Giáo phải đóng vai trò tiên phong trong nỗ
lực biến các môn học, học trình, và bằng cấp Việt Nam
trở nên hấp dẫn đối với giới trí thức và sinh viên quốc
tế. Có rất nhiều điều lợi từ nỗ lực này: Về phương
diện chính trị, sinh viên ngoại quốc sẽ là những sứ giả
mang trở về quê hương của họ những điều hay, đẹp của
Việt Nam. Nếu họ trở thành viên chức chính quyền hay là
nhân vật có uy tín trong quốc gia họ thì Việt Nam sẽ có
thêm bạn hữu trên thế giới. Về phương diện văn hóa, sự
giao tiếp với sinh viên ngoại quốc sẽ mở rộng tầm nhìn
và làm cho kiến thức của sinh viên Việt Nam thêm phong phú
mà không cần đi ra nước ngoài. Sự tiếp xúc này cũng sẽ
xóa đi những rào cản do định kiến và phân biệt chủng
tộc gây ra. Đó là chưa kể Việt Nam sẽ nhận được những
đóng góp “chất xám” từ các công trình khảo cứu của
những du học sinh ngoại quốc. Về phương diện kinh tế, sinh
viên ngoại quốc mang ngoại tệ vào nước, một phần có thể
dùng để trang trãi cho ngân sách giáo dục của Việt Nam.
Riêng
cho Phật Giáo, sinh viên ngoại quốc sẽ được học hỏi thêm
về những nét độc đáo của Đạo Phật và Thiền Tông Việt
Nam. Hơn nữa, đây cũng là cơ hội để thể hiện một trong
những ý hướng về giáo dục của Phật Giáo là quân bằng
lại trào lưu hiện hành trên thế giới: Bao lâu chúng ta chưa
đưa giáo dục quay trở về chính con người, giúp con người
tự tìm hiểu mình và tìm hiểu những người chung quanh thì
những hành động sai trái, gây nguy hại vẫn tiếp diễn. Nói
thế có nghĩa là giáo dục phải mang tính chất nhân bản hơn
để xứng dáng là giáo dục của con người, vì con người[9].
Vài
đề nghị sau đây trong khía cạnh tổ chức và quản lý đại
học có thể đóng góp vào hướng phát triễn này:
- Ngành
học đặc thù Việt Nam:
Ngoài
các ngành học thông thường cần thiết như công nghệ tin
học, quản trị kinh doanh, sư phạm, sinh ngữ, y tế công cọng,
và kỹ thuật công nghiệp, Việt Nam vốn là một nước nhỏ
và đang phát triễn nên để có thể cạnh tranh với các nước
khác trong lãnh vực thu hút sinh viên và nghiên cứu sinh trên
thế giới ta cần đưa ra những ngành học thật đặc thù
Việt Nam.
Trường
Đại Học Phật Giáo nên thành lập một ủy ban để chọn
lựa và thành lập một số ngành học nhằm thu hút sự chú
ý của thành phần trí thức thế giới. Các ngành này không
nhất thiết phải phản ánh khuynh hướng chung về phát triễn
kinh tế hiện nay trên toàn cầu mà, ngược lại, có thể gây
nên một sự tò mò trí thức về đất nước, văn minh và
con người Việt Nam. Vài ví dụ là các ngành khảo cổ và
nhân chũng học, sinh vật học miền nhiệt đới, hải dương
học miền nhiệt đới, lịch sử Việt Nam cận đại (có liên
hệ đến lịch sử của Trung Hoa, Nhật Bản, Pháp, và Hoa Kỳ),
kinh tế và văn hóa nông nghiệp, và Phật Giáo cùng Thiền
Tông Việt Nam...
- Sự
tham dự của các giáo sư ngoại quốc và sự liên kết với
đại học trên thế giới:
Trường
Đại Học Phật Giáo nên nổ lực để quốc tế hóa thành
phần giảng huấn với những giáo sư có uy tín nhằm thu hút
thêm số sinh viên ngoại quốc và cũng nhằm quốc tế hóa
các công trình nghiên cứu của giáo sư và sinh viên của trường.
Trong tiến trình tiếp xúc với các giáo sư (và sinh viên) ngoại
quốc, giáo sư và sinh viên Việt Nam cũng sẽ có cơ hội để
trao đổi và chia sẽ kiến thức và những cách dạy, cách
học mới.
Cũng
trong hướng suy nghĩ này, trường Đại Học Phật Giáo cần
tìm mọi cơ hội để hợp tác với những đại học lớn
trên thế giới. Trường có thể tham dự vào chương trình
trao đổi giáo sư, trao đổi sinh viên. Trường có thể cùng
chia sẽ học trình cho những văn bằng chung (như hệ đào tạo
“liên kết hai năm” gồm 2 năm trong nước và 2 năm học
ở nước ngoài như dạng du học tự túc đang được áp dụng
ở một số trường bán công5). Trường cũng có thể hợp
tác với các đại học ở nước ngoài để tổ chức những
lớp học ngắn hạn ở Việt Nam hay ngoại quốc (study abroad)...
Đây là những mô hình đang được trường SOKA University, đại
học Phật giáo Nhật Bản tại Hoa Kỳ, áp dụng. Những cách
tiếp cận này là phương pháp hữu hiệu và tiết kiệm nhất
để Giáo Hội tạo điều kiện cho chư Tăng Ni có được một
nền học vấn đại học với phẩm chất quốc tế trong điều
kiện giới hạn về tài chánh như hiện nay.
Tuy
nhiên, những điều này chỉ có thể thành hiện thực nếu
các yếu tố đề cập trước đây được áp dụng hoàn toàn,
như quá trình công nhận (accreditation process), quá trình lượng
giá các lớp học (articulation process), và hệ thống tín chỉ
(unit system)...
E.
Sự Tự Do Lưu Chuyển Của Thông Tin
Những
yếu tố trên là các điều kiện Cần nhưng có lẽ điều
kiện Đủ để Phật Giáo Việt Nam có một Đại Học đúng
nghĩa là sự hiện hữu của một môi trường mà trong đó
thông tin phải được tạo thành và xữ lý một cách tự do,
rồi được lưu Chuyển, truy cập, và sữ dụng mà không bị
một rào cản nào khác. Sự kiện thông tin giáo dục và dữ
kiện nghiên cứu không bị vướng mắc hay giới hạn dưới
bất kỳ hình thức nào sẽ đảm bảo được tính vô tư của
nghiên cứu, gìn giữ được phẩm chất của môn học, cổ
súy sự lương thiện trí thức, và xác định chủ quyền của
nền Đại Học trong tiến trình đào tạo nhân tài để xây
dựng quê hương ở ngưỡng cửa của thế kỹ 21 này....
Môi
trường tự do này cũng hoàn toàn phù hợp với tinh thần giáo
dục của Phật Giáo. Hòa thượng Thích Minh Châu, trong bài
diễn văn khai mạc Hội Thảo Giáo Dục Phật Giáo cách đây
6 năm đã nói, “Ý nghĩa nổi bật của giáo dục là sự
truyền thọ, huấn luyện, đào tạo. Nhưng sẽ rất thiếu
sót nếu chúng ta không nhấn mạnh đến sự kích thích làm
phát triễn khả năng tư duy, sự tinh tấn, tinh thần tự do,
tính sáng tạo và thiện căn vốn có sẳn ở người được
giáo dục... Giáo dục Phật Giáo khích lệ sự tự do, tinh
thần sáng tạo, và phá chấp của người học...”[7] Dù
đang ở trong hoàn cảnh thiếu thốn và điều kiện giới hạn
hiện nay của quê hương, Đại Học Phật Giáo Việt Nam vẫn
phải luôn nhắm tới và tích cực vận dụng những điều
kiện có thể để đạt được yếu tố này. Đây sẽ là
khuynh hướng chung nếu Đại Học Phật Giáo nói riêng và nền
đại học nước nhà nói chung muốn thực hiện đúng đắn
chức năng của mình hầu đóng góp một cách hữu hiệu vào
sự phát triễn của quốc gia.
*
* *
Như
đã trình bày trên đây, điều ưu tiên để chấn hưng Giáo
Hội nhằm đáp ứng với những cơ hội, thách thức và đòi
hỏi của thời đại mới phải là nỗ lực đào tạo một
thế hệ Tăng Ni được trang bị bằng hành trang kiến thức
hợp lý gồm cả Nội điển lẫn Ngoại điển. Cung cấp những
kiến thức hiện đại ở trình độ đại học thông qua việc
thành lập trường Đại Học Phật Giáo rõ ràng là một quyết
định có tầm nhìn chiến lược đúng đắn và khả thi nhất
mà Giáo Hội có thể đầu tư vào để tiếp tục nhiệm vụ
truyền thống là phục vụ Đạo Pháp và Dân Tộc của mình.
Đã
đến lúc chúng ta cần nhận thức được tiềm năng tham dự
và đóng góp của nền giáo dục Phật Giáo vào phúc lợi của
dân tộc và của nhân loại. Đó là một nền giáo dục không
đặt nặng, không đòi hỏi niềm tin, sự tuân thủ giáo điều
tôn giáo. Đó là một nền giáo dục chú trọng đến sự
phát triễn của đời sống tâm linh, đạo đức và đòi hỏi
sự thực hành theo tiêu chuẩn của giá trị đạo đức giải
thoát.
Đỗ
Hữu Tâm
MỤC
LỤC
TIN
TỨC VÀ HÌNH ẢNH