So
với chiều dài lịch sử dân tộc, khoảng thời gian non 21
năm
(21/7/1954–30/4/1975)
thì quả hết sức ngắn ngũi, song chính trong khoảng thời
gian này, đất nước Việt Nam đã có những chuyển mình hết
sức diệu kỳ. Một dân tộc đất không rộng, người không
đông, nhưng bằng nỗ lực vô song của mình, nhân dân Việt
Nam đã làm nên Đại thắng mùa xuân 1975, xoá sạch nhục mất
nước, thu giang sơn về một mối, tạo dựng một “Dáng đứng
Việt Nam” gây cảm phục trong lòng nhân loại tiến bộ khắp
năm châu, bốn bể.
Trong
thành quả vĩ đại đó, Tăng Ni và Phật tử miền Nam đã
thực sự chung lưng, đấu cật cùng với cả dân tộc, trong
đó “Phong trào Phật giáo miền Nam năm 1963” được xem như
là sự kiện lịch sử tiêu biểu nhất. Tuy nhiên, trong hầu
hết các giáo trình “Lịch sử Việt Nam hiện đại” (chuyên
ngành lịch sử) ở bậc đại học và cao đẳng, “Phong trào
Phật giáo miền Nam năm 1963” vẫn chưa được đề cập một
cách cụ thể hoặc nếu có thì cách thể hiện chưa ngang tầm
với nội dung vốn có của nó. Nên cấu tạo như thế nào
về sự kiên lịch sử này trong “Giáo trình lịch sử Việt
Nam hiện đại”? Để có một lời giải nghiêm túc, thiết
nghĩ cần phải nắm bắt được ý nghĩa lịch sử của sự
kiện này.
1.
Phong trào Phật giáo miền Nam năm 1963 là một phong trào dân
tộc có qui mô rộng lớn.
Phong
trào Phật giáo miền Nam năm 1963 tuy mang màu sắc tôn giáo,
nhưng thực ra đây là sự vùng lên của cả một dân tộc
nhằm xoá bỏ chế độ độc tài, giáo trị, gia đình trị
Ngô Đình Diệm. Liền sau khi bùng nổ tại Huế, phong trào
đã nhanh chóng lan vào Sài Gòn và rộng ra khắp miền Nam, từ
thành thị đến nông thôn, có cả hàng triệu người không
phân biệt xu hướng, chính kiến, các nhà tư sản dân tộc,
các vị trí thức, sinh viên, học sinh, thanh niên, phụ nữ,
công nhân, nông dân, nhân dân lao động hưởng ứng và được
sự ủng hộ của những tín đồ Thiên Chúa giáo cấp tiến.
Ngay cả một số đông công chức, sĩ quan, binh sĩ trong bộ
máy chính quyền Ngô Đình Diệm cũng tích cực tham gia đấu
tranh. Đỗ Mậu, vừa là người trong cuộc, vừa là chứng
nhân lịch sử đã ghi lại trong hồi ký của mình như sau:
“Biến cố Phật giáo vào mùa thu năm 1963 đã để lại những
ấn tượng sâu xa trong tâm hồn tôi. Báo cáo của các Ty, Sở
An ninh quân đội cả khắp bốn quân khu gởi về đều nhấn
mạnh đến tình trạng suy sụp tinh thần quân nhân các cấp.
Riêng Quân khu I, đa số sĩ quan đều trực tiếp hoặc gián
tiếp yêm trợ cho phong trào đấu tranh của Phật giáo, chống
đối chính phủ” . Điều cần nhấn mạnh là sự tham gia
rộng rãi của mọi tầng lớp nhân dân không chỉ vì để
ủng hộ Phật giáo mà chính là ý thức dân tộc: “Cuộc
lay đổ chính quyền Ngô Đình Diệm 1963 đã động viên không
những được ý thức bảo vệ Phật giáo, mà cả ý thức
bảo vệ quốc gia nữa. Nơi những người Phật tử, hai ý
thức ấy hoà hợp với nhau không tách rời được. Chính rất
nhiều phần tử không Phật giáo cũng tham dự cuộc vận động
này, không phải vì để giúp đỡ Phật giáo, mà vì thấy
cuộc vận động của Phật giáo phù hợp với nguyện vọng
của dân tộc”. Trên thực tế, “phong trào đấu tranh của
đồng bào Phật giáo miền Nam đã vượt khỏi ranh giới đơn
thuần mà hình thành một phong trào yêu nước rộng rãi trong
toàn dân” .
2.
Với phong trào Phật giáo miền Nam năm 1963, lần đầu tiên
trong lịch sử dân tộc, phương pháp “bất bạo động”
đã được sử dụng trong cuộc đấu tranh chống chế độ
bạo quyền.
“Bất
bạo động” (Satyagraha)? một phương pháp cốt lõi của Phật
giáo được giới lãnh đạo Phật giáo miền Nam chọn làm
phương pháp chỉ đạo cuộc đấu tranh đòi quyền bình đẳng
tôn giáo. Chọn “bất bạo động” làm phương pháp chỉ
đạo cho cuộc đấu tranh chống lại chế độ bạo quyền
Ngô Đình Diệm, Tăng Ni và Phật tử miền Nam biết trước
là phải “chấp nhận một sự hy sinh đến cùng độ”, nhưng
họ vẫn tin tưởng rằng sự hy sinh ấy sẽ làm “rung động
đến tận lòng người, chứ không chỉ rung động chính sách
mà thôi” . Chính quyền Ngô Đình Diệm đã thi hành một chính
sách đàn áp hết sức dã man và vô cùng quyết liệt, gây
chết choc không biết bao nhiêu sinh mạng, làm bị thương hoặc
bị tàn phế không biết bao nhiêu con người vô tội, nhưng
Tăng Ni, Phật tử và đồng bào miền Nam quyết không chịu
lùi bước.
Thực
tế “bất bạo động” trong “Phong trào Phật giáo miền
Nam năm 1963”, mà đỉnh cao là ngọn lửa của Hoà thượng
Thích Quảng Đức, đã làm “rung động đến tận lòng người”,
có sức hấp dẫn tuyệt vời khiến mọi nguời không phân
biệt chính kiến kết khối vùng lên đạp đổ bạo quyền.
Giáo sư Trần Văn Giàu viết: “Kết tinh trong một vị chân
tu những nỗi căm hờn đối với một chế độ độc tài
cá nhân gai đình trị, vô nhân đạo và bạo ngược, hành
động dũng cảm của Hoà thượng Thích Quảng Đức là một
bản án không gì bôi được với chế độ bù nhìn của Mỹ
ở Sài Gòn, đồng thời là một lời kêu gọi đồng bào Phật
tử đấu tranh chống phát-xít, dù chết không chịu lùi bước.
Thật không phải thường có những cái chết kích động nhân
tâm sâu sắc và rộng rãi như cái chết của Hoà thượng Thích
Quảng Đức” .
“Bất
bạo động” trong “Phong trào Phật giáo miền Nam năm 1963”
đã trở thành sức mạnh góp phần cô lập cao độ chính quyền
Ngô Đình Diệm, đẩy chính quyền này đi đến chỗ sụp đổ.
Lần đầu tiên, lịch sử Việt Nam ghi nhận một phương pháp
đấu tranh mới – phương pháp bất bạo động-mà kết quả
đem lại thật là lớn lao, một chế độ độc tài, giáo trị,
gia đình trị xây dựng trong 9 năm đã bị sụp đổ trong chớp
mắt dù Diệm và tay chân cứ “đinh ninh rằng không một lực
lượng nào dưới quyền thống trị của chúng có thể dám
động đến” .
3.
Phong trào Phật giáo miền Nam năm 1963 tạo được tiếng vang
rộng lớn trên bình diện quốc tế.
Trên
bình diện quốc tế, “Phong trào Phật giáo miền Nam năm 1963”
hầu như không bị cô lập đối với bất cứ ai. Khắp nơi
trên thế giới, từ các cơ quan báo chí, các hãng thông tấn,
các tổ chức chính trị, ... đến các nguyên thủ quốc gia
và cả Liên hiệp quốc, với nhiều hình thức và biện pháp
khác nhau đã vạch trần những tội ác của chính quyền Ngô
Đình Diệm, đồng tình với cuộc đấu tranh chính nghĩa của
Tăng Ni và Phật tử miền Nam. Về vấn đề này, trong “The
New Face of War”, Malcoln W. Brown viết: “Vụ Phật giáo năm
1963 đã làm chấn động các quốc gia ngoài châu Á kể từ
khi xảy ra vụ tự thiêu của Hoà thượng Thích Quảng Đức:
Hoa Kỳ, Pháp, Anh, Thuỵ sĩ, Bỉ, Úc, Đức... Tấm hình tự
thiêu của Hoà thượng đã được phổ biến khắp nơi thế
giới từ trên bàn giấy của Tổng thống Hoa Kỳ tới văn
phòng các lãnh tụ Trung Cộng và chính nước cộng sản này
đã cho in ra hàng triệu tấm hình ấy để phân phát đi khắp
Á Phi với lời ghi chú: “Một tăng sĩ Phật giáo Việt Nam
tự thiêu trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ-Diệm”
.
Chính
nguồn tư liệu từ phía “Việt Nam cộng hoà” đã thú nhận
điều này. Công văn số 43/DK/VP/M ngày 21-8-1963 của Toà đại
sứ “Việt Nam cộng hoà” tại Tokyo gởi Bộ trưởng Ngoại
giao chính quyền Ngô Đình Diệm tiết lộ “Dư luận Nhật
Bản trở nên sôi nổi đối với vấn đề Phật giáo ở Việt
Nam. Một số đoàn thể hoặc tư nhân có uy tín đã tiếp xúc
thẳng với Thiểm toà để thăm dò tin tức và chất vấn về
những biến cố đáng tiếc mới xảy ra; một số khác viết
thư gởi điện tín đến Thiểm toà để phản kháng những
hành động mà họ cho rằng có tính cách đàn áp Phật giáo
ở Việt Nam” .
Ở
Thái Lan, theo báo cáo của Toà đại sứ “Việt Nam cộng hoà”
ngày 2-9-1963 thì “hôm 31-8-1963, một Đại hội đồng Phật
giáo đã được triệu tập tại Băngkok để thảo luận về
vụ Phật giáo tại Việt Nam. Tham dự phiên họp này có 800
Phật giáo đồ, thuộc các giới cựu bộ trưởng, dân biểu,
luật sư, ký giả, đại diện Phật giáo tại Bangkok và 63
trong số 73 tỉnh của Thái Lan, hội Phật giáo Trung Hoa, Ấn
Độ, Mã Lai, và cả Hồi giáo cùng Bà La môn (Brah-man) cũng
gởi đại diện đến dự họp... Cuộc thảo luận đã diễn
ra trong bầu không khí cực kỳ sôi nổi. Ngót hơn 5 tiếng
đồng hồ, hơn 20 diễn giả luân phiên nhau lên diễn đàn
bày tỏ quan điểm về vụ Phật giáo ở Việt Nam.... phần
đông diễn giả đã dùng những lời lẽ chua cay để công
kích chính phủ ta... Một số diễn giả, vì cảm tình với
ta, đã lên tiếng bênh vực chánh phủ ta nhưng không không
được cử toạ hoan nghênh” .
Ngay
ở Mỹ, nhiều tờ báo, nhiều chính khách công khai đả kich,
lên án chính quyền Ngô Đình Diệm. Tờ San Francisco Chinese
World cho rằng: “Đã đến lúc chính quyền Hoa Kỳ phải từ
giả ông Ngô Đình Diệm. The Chinese World khẩn thành kêu gọi
tất cả mọi người Mỹ lên án ông Diệm, một kẻ độc
tài của Sài Gòn” . Thượng Nghị sĩ Wayne L. Morse, bang Oregon,
thì nói rằng “ông sẽ không đồng ý cho một đôla nào nữa
để ủng hộ một chế độ độc ác tàn bạo của Tổng thống
Ngô Đình Diệm tại miền Nam Việt Nam” . Dean Rusk, Ngoại
trưởng Mỹ, trong cuộc họp báo ngày 16-6-1963, cho rằng Mỹ
“không sung sướng gì trước những sự việc xảy ra ở miền
Nam”, rằng Mỹ “rất buồn phiền về những sự chia rẽ
đang xảy ra ở miền Nam”. Tờ New York Times (19-7-1963) dẫn
lời Tổng thống Kennedy: “Sự động chạm giữa Tổng thống
Ngô Đình Diệm với Phật giáo đồ rất có hại cho công cuộc
chống Cộng tại Nam Việt Nam” .
Đặc
biệt, “Vụ Phật giáo” đã được đưa ra thảo luận tại
Đại Hội đồng Liên hiệp quốc, và Ông Uthan, Tổng Thư ký
Liên hiệp quốc đã gửi đến Ngô Đình Diệm những lời
lẽ đầy bức xúc trước chính sách đàn áp Phật giáo của
chính quyền Ngô Đình Diệm: “... Thúc dục bởi những ý
tưởng nhân đạo mà toàn thể chúng tôi đều tôn trọng,
nhân danh thành phần của đại gia đình nhân loại, tôi thấy
có bổn phận gởi tới Ngài, cùng với những lời kêu gọi
thiết tha của các nhân tôi”. Ngày 24-10-1963, Liên hiệp quốc
đã cử một phái đoàn đến miền Nam để điều tra “Vụ
Phật giáo”. Đây được xem như là điểm nút cuối cùng
“buộc Mỹ gấp rút thủ tiêu bị cáo, tức chính quyền Ngô
Đình Diệm, mà phải thủ tiêu trước lúc Liên hiệp quốc
tái nhóm để xét về tờ trình của phái đoàn điều tra,
khiến cho cuộc đảo chính lật đổ chính quyền Ngô Đình
Diệm nhanh chóng diễn ra” .
Rõ
ràng, trên bình diện quốc tế, “Phong trào Phật giáo miền
Nam năm 1963” có tác dụng gom mọi người dù khác chính kiến,
khác màu da vào cùng một khối, kết tụ được tinh anh của
những khối óc và trái tim vì tình thương mà quyết không
chịu lùi bước trước bạo quyền. Ngay cả những nhà nước
không cùng thể chế chính trị, thậm chí là đối địch nhau,
song trước cuộc đấu tranh của Phật giáo miền Nam họ đều
cùng đứng chung một trận tuyến chống lại bạo quyền. Điều
này làm cho qui mô phong trào vượt hẳn bất cứ phong trào
nào đối lập hoặc độc lập với chính quyền Ngô Đình
Diệm trước đó. Cũng chính vì vậy, mà trên phương diện
học thuật, cho đến tận ngày nay, “pPong trào Phật giáo
miền Nam năm 1963”, tiêu biểu là sự hy sinh dũng cảm của
Hoà thượng Thích Quảng Đức, vẫn là nguồn cảm hứng bbất
tận đối với giới nghiên cứu Đông – Tây. Tiến sĩ Robert
Topmiller (Mỹ) viết: “Ngày nay, “ngọn đuốc sống” của
Ngài vẫn được nhiều người Mỹ quan tâm nghiên cứu. Đó
là một đề tài bất tận đối với khoa học phương Tây”
.
4. Phong trào Phật giáo miền Nam góp phần quan trọng trong cuộc
đấu tranh lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm, bước đầu
làm phá sản chính sách can thiệp của Mỹ ở Việt Nam, tạo
điều kiện cho cách mạng miền Nam phát triển.
Đối
lịch sử dân tộc, “Phong trào Phật giáo miền Nam năm 1963”
không chỉ làm riêng việc giải thoát cho sức sống, cho sự
phát triển và trường tồn của Phật giáo Việt Nam vốn đã
gắn bó máu thịt với dân tộc qua các thời kỳ lịch sử
dựng nước và giữ nước, mà hơn thế là góp phần phá bỏ
cái thảm hoạ “chín năm máu dưới chế độ độc tài gia
đình trị Ngô Đình Diệm” đã tròng lên đầu lên cổ “một
nửa dân tộc” Việt Nam. Chính vì ý nghĩa lớn lao đó nên
khi phong trào vừa mới diễn ra ở Huế, Xã luận báo Nhân
Dân ngày 15-5-1963 đã lên tiếng ủng hộ và khẳng định về
tính tất thắng của phong trào. Bài xã luận viết: “Cuộc
đấu tranh của đồng bào theo đạo Phật và các tầng lớp
đồng bào khác ở Huế là một cuộc đấu tranh chính nghiã
được nhân dân cả nước ủng hộ. Nhân dân miền Bắc vô
cùng khâm phục tinh thần đấu tranh bất khuất của đồng
bào Huế được sự ủng hộ rộng rãi ở miền Nam. Chúng
ta tin chắc cuộc đấu tranh bền bỉ và anh dũng của đồng
bào Huế và ở toàn miền Nam mặc dù phải trải qua nhiều
khó khăn, gian khổ nhưng nhất định sẽ giành được thắng
lợi cuối cùng”.
Ngày
30-6-1963, tức hơn hai tuần sau khi Hoà thượng Thích Quảng
Đức tự thiêu, trong một bài giảng tại nhà thờ ở New York,
Mục sư Donalds Harrington đã cho rằng cái chết của Thích Quảng
Đức “đã cứu vớt bao nhiêu sinh linh đang chìm đắm trong
khổ hận, kẻ đàn áp cũng như kẻ bị đàn áp đều bừng
tỉnh. Ngài đã tô đậm nét vàng son và trang sử huy hoàng
của Phật giáo và dân tộc” .
Khi
phong trào vừa kết thúc, Báo cáo về tôn giáo của Uỷ ban
Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam
tại Đại hội Mặt trận lần thứ II (1-1-1964) viết: “Trong
phong trào chung của các tôn giáo chống chế độ độc tài
phát-xít Mỹ-Diệm và đòi tự do dân chủ, tự do tín ngưỡng,
bình đẳng tôn giáo, phong trào đấu tranh của đồng bào theo
đạo Phật vừa qua đã ghi đậm nét trong lịch sử đấu tranh
giải phóng dân tộc của nhân dân miền Nam” . Phong trào được
xem như là “sự kiện mở đầu phong trào đô thị sau hơn
9 năm dưới chính quyền phát-xít Mỹ-Diệm .... được ghi
nhận như là một sự kiện lịch sử của Mặt trận Dân tộc
Thống nhất” .
Bàn
về ý nghĩa của “Phong trào Phật giáo miền Nam năm 1963”,
Tổng Bí thư Lê Duẩn viết: “Cả trong thành thị cũng dấy
lên những làn sóng cách mạng quyết liệt, làm rối loạn
hậu phương của địch, làm lung lay tận gốc chế độ bù
nhìn. Hoang mang trước sự lớn mạnh và thế tiến công cách
mạng, đế quốc Mỹ buộc phải thay đổi tay sai, phế bỏ
Ngô Đình Diệm hòng cải thiện tình hình chính trị và quân
sự để cứu vãn thất bại. Song Mỹ đã phạm phải sai lầm.
Sau sự sụp đổ của Diệm, chiến tranh cách mạng đã phát
triển lên môt bước mới” .
Đúng
là “chiến tranh cách mạng đã phát triển lên môt bước
mới” . Sau đảo chính, chính quyền Sài Gòn chẳng những
không ổn định mà trái lại càng khủng hoảng trầm trọng:
“Tình trạng Việt Nam cộng hoà còn tồi tệ hơn hồi chính
quyền Diệm: Kinh tế suy sụp, vật giá leo thang, tiền sụt
giá so với Mỹ kim, nạn thất nghiệp, đầu cơ trích trữ
và tham nhũng gia tăng” . Đảo chính và phản đảo chính diễn
ra liên tục. Theo thú nhận của chính quyền Sài Gòn: “Trong
vòng ba tháng sau đảo chính, Việt Cộng nổi dậy khắp nơi.
Tỉnh Kiến Hoà phải rút đi 51 đồn bót, mất 15 xã. Ở miền
Trung từ Phan Thiết trở ra trong vòng hai tháng sau đảo chính,
2200 ấp chiến lược trong tổng số 2700 ấp chiến lược hoàn
toàn bị tan tác. Tổng số 4248 ấp chiến lược ở miền Nam
thì có 3915 ấp bị phá hẳn. Trong phúc trình gửi Tổng thống
Johnson ngày 16-3-1964, Mc. Mamara đưa ra một bức tranh bi thảm,
hậu quả của cuộc đảo chính lật đổ chế độ Ngô Đình
Diệm: “Trong số đất đai của 22 tỉnh (trong 44 tỉnh), Việt
Cộng kiểm soát tới 50% hoặc nhiều hơn thế. Phước Tuy,
Việt Cộng kiểm soát 80%; Bình Dương 90%; Hậu Nghĩa 90%; Long
An 90%; Định Tường 90%; Kiến Hoà 90%; An Xuyên (Cà Mau) 85%.
Quận Mõ Cày và các xã Định Thuỷ, Bình Khánh, Phước Hiệp,
“đỏ 100%”; trên 900 xã như trong trường hợp ba xã này
... Sau đảo chính 1963, trong một thời gian ngắn, đường mòn
Hồ Chí Minh trở thành một “xa lộ thênh thang”, thực hiện
chỉ thị của Đảng: “Lấy phương thức vận tải cơ giới
làm chủ yếu, kết hợp với phương thức vận tải thô sơ,
vận dụng linh hoạt phương châm “đánh, phòng, tránh”. Trước
đây, đoàn vận tải ô tô chỉ vào Khe Hó đổ hàng rồi từ
đây dùng voi hay sức người chuyển vào Palin Thừa Thiên. Đầu
năm 1964, các đoàn ô tô đã có thể đi tới điểm trạm ngã
ba biên giới Kontum, số lượng vận tải tăng 40 lần so với
năm trước, tỉ trọng vận tải cơ giới là 51%” .
Từ
trước tới nay, khi bàn về “Phong trào Phật giáo miền Nam
năm 1963”, hầu hết các nhà nghiên cứu chỉ giới hạn ý
nghĩa lớn lao của nó trong việc góp phần đánh đổ chế
độ độc tài gia đình trị, giáo trị Ngô Đình Diệm. Trong
thực tế, ý nghĩa của phong trào còn vượt xa hơn, trong đó
vấn đề nổi trội nhất chính là ở chỗ phong trào bước
đầu làm phá sản chính sách can thiệp của Mỹ ở Việt Nam,
tạo đà cho phong trào cách mạng miền Nam đi đến thắng lợi
trọn vẹn trong Đại thắng mùa Xuân năm 1975. Tình hình chính
trường và chiến trường miền Nam trước và sau đảo chính
(1-11-1963) chứng minh cho nhận định này.
Từ
sự trình bày và phân tích trên đây, “Phong trào Phật giáo
miền Nam năm 1963” nên được cấu tạo như thế nào trong
giáo trình “Lịch sử Việt Nam hiện đại” (chuyên ngành
lịch sử) ở bậc đại học và cao đẳng?
Trước
hết phải khách quan mà nhận rằng trong hơn một thập kỷ
trở lại đây, các “Giáo trình Lịch sử Việt Nam hiện đại”
(chuyên ngành lịch sử) ở bậc đại học và cao đẳng đã
dành mươi dòng trình bày về “Phong trào Phật giáo miền
Nam năm 1963”. Gần đây, một số công trình nghiên cứu về
phong trào này đã được công bố . Kết quả nghiên cứu đã
được đưa vào chương trình giảng dạy dưới dạng chuyên
đề ở Khoa Lịch sử, trường Đại học Sư phạm Huế từ
năm học 2001-2002. Đây là một việc làm rất đáng trân trọng
của Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Huế. Tuy nhiên,
so với ý nghĩa lịch sử của phong trào như đã đề cập
thì chừng đó vẫn chưa đủ, cần phải đưa nó ra khỏi “tính
địa phương”. Điều này có nghĩa là việc giảng dạy “Phong
trào Phật giáo miền Nam năm 1963” phải được nhân rộng,
không phải nhân rộng dưới dạng chuyên đề (điều này còn
tuỳ thuộc đặc điểm của mỗi trường đại học), mà phải
nhân rộng bằng cách đưa nội dung phong trào thành một mục
trong “Giáo trình lịch sử Việt Nam hiện đại” dùng cho
chuyên ngành lịch sử ở các trường đại học và cao đẳng
với một dung lượng lớn hơn. Làm được như vậy, tức là
“đổi mới tư duy lịch sử”, tạo điều kiện cho đội
ngũ sinh viên sư phạm chuyên ngành lịch sử nắm bắt đúng
đắn và trọn vẹn về “cái biện chứng của lịch sử”
trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), nhằm làm
tốt nhiệm vụ của người giáo viên giảng dạy lịch sử
sau khi ra trường, cũng có nghĩa là góp phần giúp thế hệ
trẻ Việt Nam nhận thức sâu sắc hơn về điều mà như Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Phật giáo Việt Nam
với dân tộc như hình với bóng, tuy hai mà một” . Đạt
được như vậy, tất sẽ tạo thêm được nguồn lực trong
công cuộc xây dựng đất nước hôm nay và cả trong tương
lai