Kính
thưa chư liệt vị,
Tôi
chân thành kính gửi đến chư liệt vị tham dự khóa hội
thảo hôm nay lời chào mừng nồng nhiệt nhất của một sa
môn, và kính nhờ quý vị chuyển đến toàn thể Phật giáo
đồ Việt Nam, đồng bào Việt Nam, Nhà Nước Việt Nam và
Phật tử cùng quần chúng toàn cầu lời cầu chúc thường
tinh tấn và an lạc.
Độc
lập thống nhất được phục hồi hơn 30 năm, bằng chiều
dài của hai cuộc chiến dành độc lập cho tổ quốc. Đất
nước đang có dấu hiệu khởi sắc, do đó cuộc hội thảo
với chủ đề Cơ Duyên và Thử Thách của PGTG Trong Thời Đại
Toàn Cầu trước tiên là một cố gắng đóng góp có ý nghĩa
cho biểu hiện khởi sắc này.
Xin
quý vị hỷ xả cho vì điều kiện sức khoẻ và tuổi tác
không cho phép tôi trực tiếp tham dự khóa hội thảo mà chúng
tôi thiết nghĩ thế nào cũng có ảnh hưởng đối với hiện
tại và tương lai của Phật giáo Việt Nam và Phật giáo thế
giới trong hạnh nguyện xây dựng và bồi đắp nền an lạc
hòa bình cho chúng sinh.
Để
đáp lại tấm thịnh tình của ban tổ chức, và lòng kính
ái của Phật tử VN cách trở, chúng tôi xin có một vài đóng
góp đơn sơ với cuộc hội thảo này.
1.
Thứ nhất, kiên trì và tinh tấn bám sát con đường Đấng
Từ Phụ đã đi. Qua những thời kinh nhật tụng, chúng ta thường
chỉ thấy Phật ngồi Phật nằm mà quên rằng, gần nửa thế
kỷ trụ thế, Phật là một kẻ lữ hành, luôn luôn lên đường.
Kinh nghiệm đó cho chúng ta hai bài học.
1.1.
Một, bất hành bất thực. Phật và thánh chúng phải ôm bình
bát đi xin mới có ăn.
1.2.
Hai, Phật đích thân đến với quần chúng chứ không ngồi
đợi quần chúng tìm đến Phật. Phật tìm đến quần chúng
để được quần chúng bố thí thức ăn quần áo thuốc thang,
và để tạo cơ duyên cho Phật và thánh chúng bố thí giáo
pháp lại cho quần chúng. Nhờ tinh thần có qua có lại tiên
khởi đó mà đạo tràng chùa chiền tự viện mới không trở
thành những hải đảo xa lánh hồng trần và các Trưởng Tử
Như Lai không hành xử như những chủ quán, ngồi một chỗ
chờ khách hàng tới để thù tiếp mà kiếm lợi, hay như những
người lính đứng trong pháo đài lâu lâu lại kêu lên Pháp
Nạn! Pháp Nạn! Đó là bài học đầu tiên chúng ta cần suy
gẫm để rút tỉa hệ luận cho Phật sự.
2.
Thứ hai, nhân loại luôn luôn bày chuyện để làm khó dễ
nhau. Xung đột ý thức hệ hơn nửa thế kỷ vừa tan vỡ theo
bức tường Bá Linh chưa được mười năm thì mối hận thánh
chiến được hà hơi tiếp sức cho sống lại. Vì hai bên xung
đối không chịu không lấy ân báo oán mà chỉ lấy mắt đổi
mắt, răng đền răng nên tương lai biết đâu có thể có những
vùng sẽ chỉ còn những người mù húp cháo, vì bị gãy hết
răng, móc hết mắt để làm sáng danh Đấng Tối Cao. Đạo
làm cho người gần nhau, nhưng người lại làm cho đạo trở
thành tử thù. Cho nên, dù Phật giáo đang xuất hiện như một
liều thuốc giải cho căn bệnh thời đại, một hi vọng cho
tình huống tuyệt vọng của nhân loại đang tấp tễnh bước
vào thế kỷ 21, chúng ta cũng nên để ý đến hai điều này
để cho liều thuốc giải đó được hiệu dụng hơn.
Hai điều đó là,
2.1.
Một, Phật giáo không phải là một tôn giáo theo định nghĩa
thông thường của Tây phương. Người Tây phương đã dùng
chữ Buddhism hay Bouddhisme để chỉ đạo Phật, để bảo đạo
Phật là Phật giáo tương tự như Catolicism [Kytô giáo], Christianism
[Thiên Chúa giáo], Judaism [Do thái giáo], Islamism [Hồi giáo]...
nghĩa là những định chế chỉ tồn tại bằng những tín
điều tuyệt đối và một Đấng Tối Cao toàn năng toàn thiện
toàn mỹ và đại diện toàn quyền của Đấng Tối Cao ấy
ở trần gian. Đạo Phật với tự lực giải thoát, với khuyến
cáo tự thắp đuốc lên mà đi, với tính Không và vong ngôn
lự tuyệt chắc hẳn không thể nào đứng sắp hàng với các
tôn giáo thần quyền tuyệt đối đó. Cho nên, người Phật
tử, nhất là các Trưởng Tử Như Lai phải tinh tấn cảnh
giác giải hoặc để khỏi thấy sang bắt quàng làm họ mà
liên tôn hầu mong được ngang hàng với các tôn giáo bạn.
2.2.
Hai, dù đạo Phật có thể là một phương thuốc của thời
đại, nhưng chúng ta cũng đừng quên những biến động chính
trị và tôn giáo đang xảy ra ở Thái Lan, Sri Lanka, Miến Điện
và Nepal là những xứ mà đạo Phật là tuyệt đại đa số,
để thấy rằng muốn cho đạo Phật trở thành phương thuốc
hòa bình thì người Phật tử phải tinh tấn cảnh giác và
cố gắng nhiều hơn nữa.
3.
Thứ ba, người Phật tử Việt Nam phải gia tâm học tập bài
học dấn thân hiện đại hóa đạo Phật khởi phát gần như
song hành với phong trào cách mạng trong những thập niên đầu
thế kỷ trước. Không có quá trình đổi mới hiện đại
hóa đó thì cũng không có biến cố 1963, không có biến cố
1963 thì cũng không có Phật giáo hôm nay. Sợi chỉ xuyên suốt
quá trình đổi mới hay hiện đại hóa đó là quyết tâm tạo
cơ duyên, và dành lấy cơ duyên để phục vụ dân tộc trong
ánh sáng của đạo pháp và phục vụ đạo pháp trong điều
kiện khế hợp của dân tộc. Uống nước nhớ nguồn, người
Phật tử, nhất là các Trưởng Tử Như Lai quyết ghi nhớ
và học tập kinh nghiệm, sự nghiệp và những hi sinh của
các Tăng Ni Phật tử trong suốt quá trình hiện đại hóa đó.
Điều tôi tâm nguyện nhắc nhở ở đây là không có cuộc
vận động năm 1963 thì đạo Phật ngàn năm đã trở thành
một tổng hội tương tế của những ông thầy cúng chỉ biết
lo ma chay cầu đảo. Cầu mong các chùa, các tự viện quay nhìn
vào chánh điện để hương khói trên bàn thờ Thầy Quảng
Đức và các thánh Tăng Ni Phật tử vị pháp vong thân đừng
tàn úa vắng lạnh. Họ đã vì thương nước, thương đạo
mà hy sinh và đó là những hi sinh không so đo địa phương,
không kỳ thị tông phái, định chế tổ chức hay khuynh hướng
thế trị. Đó là những hi sinh đã làm cho đạo Phật là đạo
Phật Việt Nam, là đạo Phật của con cháu Hồng Bàng.
4.
Thứ tư, tăng bổ nội dung thời đại của Phật giáo Việt
Nam. Trong hạnh nguyện đó, chúng ta sẽ ghi nhớ hai chuyện.
4.1.
Một, ở trong nước, đại khối thanh niên thiếu nữ ra đời
sau năm 1975 đang là rường cột của công cuộc xây dựng đất
nước, và đại khối quân cán chính, cán bộ công nhân viên
đang phục vụ đất nước đã được nhào nặn trong nề nếp
suy nghĩ phi tôn giáo, hay xa lạ với tôn giáo, ngay cả các
tôn giáo dân tộc như Tam giáo. Ở nước ngoài, hơn 70 phần
trăm người Việt xa xứ là Phật tử đang quên dần văn hóa
Việt, ngôn ngữ Việt, cũng như đang lo âu trước những bế
tắc của xã hội nhưng chưa thấy rõ khả năng đóng góp của
Phật giáo để khai thông những bế tắc đó. Nhìn thấy được
vấn đề đó tức là nhìn thấy nhu cầu phải triển khai một
nội dung thời đại cho việc đem đạo vào đời, phục vụ
đời trong ánh sáng đạo pháp vậy.
4.2.
Hai, nội dung thời đại đó phải bao gồm ít ra ba điểm sau
đây.
4.2.1.
Một, nêu cao tinh thần hòa hợp hòa giải trên bình diện quốc
gia cũng như trong nội bộ Phật giáo.
4.2.2.
Hai, nâng cao ý thức của quần chúng Phật tử về trách nhiệm
và sự đóng góp của Phật giáo đối với công cuộc tái
thiết đất nước, bảo vệ tổ quốc và xây dựng dân chủ.
4.3.
Ba, thu hút sức ủng hộ của dư luận quốc tế, nhất là
Phật giáo quốc tế đối với chính nghĩa Việt Nam, và hạnh
nguyện phục vụ đạo pháp và phục vụ dân tộc của Phật
giáo Việt Nam. Chính nghĩa Việt Nam là chính nghĩa đã đem
lại độc lập hòa bình thống nhất cho đất nước. Chính
nghĩa Việt Nam là nỗ lực phấn đấu cho dân giàu nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ văn minh. Dân giàu nước mạnh
không phải được đo lường bằng số người triệu phú hay
tỷ phú, nhưng là bằng thành tích xóa đói, giảm nghèo, thay
nhà dột nát, thành tích xây dựng mạng lưới an toàn cho những
thành phần xã hội thiệt thòi thiếu may mắn đúng với tinh
thần Tứ Nhiếp Pháp, Lục Hòa và cũng đúng với hạnh nguyện
một người vì mọi người.
5.
Thứ năm, biến nguyện ước thành hành động cụ thể bằng
những điểm sau đây.
5.1.
Một, tôi xin đưọc tán thán công đức của chư vị tổ chức
đại lễ cầu siêu cho toàn bộ người dân Việt Nam đã khuất
từ khi dựng nước tại Khu Văn Hóa Lịch Sử Đại Nam ở
Bình Dương hồi tháng Ba/2006. Ước mong sao đại nguyệnnày
sẽ được cụ thể hóa trong chiều hướng hòa hợp hòa giải
dân tộc bằng quyết định lấy ngày lễ Vu Lan hàng năm làm
ngày tuởng Niệm anh hùng tử sĩ và nạn nhân chiến cuộc
tương tự như ngày 23 tháng 5 ở Huế. Địa điểm hành lễ
chính hàng năm này sẽ là Đàn Nam Giao Huế, nghĩa trang Biên
Hòa, địa đạo Củ Chi, một địa điểm ở vùng Mõ Vẹt,
ở U Minh, công trường Điện Biên Phủ, Chùa Một Cột, Chùa
Tam Thanh Lạng Sơn... Cũng trong tinh thần hòa hợp hòa giải
này, tôi cầu mong Nhà Nước sẽ phối hợp với các tôn giáo
dân tộc từng bước thực hiện những đền bồi cho những
quá đà đã xảy ra trong quá khứ. Can trường thừa nhận và
sám nguyện những sai trái để tìm cách đền bồi là hành
động của kẻ trượng phu.
5.2.
Hai, xúc tiến xây dựng một Đạo Tràng hay Trung Tâm Phật
Giáo Á Châu tại một địa điểm có ý nghĩa ví dụ như vùng
ba biên giới Đông Hà với sự tham dự của Phật giáo Sri
Lanka, Ấn Độ, Nepal, Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc, Miến Điện,
Thái Lan, Campuchia, Lào, Đài Loan... Trung Tâm này sẽ có một
đại điện, một thiền đường, một phòng hội nghị quốc
tế chứa tối thiểu 1.000 người, một thư viện Phật học
quốc tế kiêm phòng triển lãm với phương tiện hiện đại.
Nhà Nước gồm Chủ Tịch Nước, Thủ Tướng, Chủ Tịch Quốc
Hội và Chủ tịch Mặt Trận sẽ phối hợp với Phật giáo
trong việc xây dựng cũng như lễ đặt đá khởi công. Trung
Tâm này cũng có thể trở thành trụ sở trung ương của một
Đại Học Phật Giáo đúng với tầm cỡ một quốc gia có
80 phần trăm dân số là Phật tử.
6.
Thứ sáu, Sơn Môn phải tạo cơ duyên cho Phật tử tại gia
đóng góp vào công cuộc giữ nước dựng nước, nhưng Sơn
Môn cũng phải tránh vết xe đổ của việc quá cận kề với
quyền lực thế trị. Muốn vậy thì về phương diện định
chế, Phật giáo như một đạo hay một tôn giáo phải tách
biệt hẳn với phạm vi thế trị. Phật đã chối từ ngai
vàng không phải để làm vua, nói chi đến chuyện làm vua của
những vì vua. Phật chối bỏ ngai vàng để làm thầy, làm
tấm gương cho đời. Thời đại vàng son Lý Trần, cũng như
thời oanh liệt 1963 chứng tỏ đạo và đời chỉ là hai mặt
của một ước vọng tự giác nhi giác tha. Phật giáo cần
chính quyền, và chính quyền cũng cần Phật giáo, thế trị
cần mà đức trị cũng cần, những biện pháp kinh tế, xã
hội, chính trị chỉ có ý nghĩa khi tạo cơ duyên tu chứng,
sống đạo. Tôi ghi nhận quyết tâm của Nhà Nước trong cuộc
chiến cam go chống quan liêu tham nhũng, thụ hưởng và vọng
ngoại. Tôi cầu mong toàn thể Phật tử xuất gia cũng như
tại gia, cá nhân cũng như đoàn thể cảnh giác và quyết tâm
ngăn chận những biểu hiện tiêu cực đó không xâm nhập
vào chùa chiền tự viện và các tổ chức Phật sự.
Phật
đã từ bỏ chức quyền tự lợi thế tục để trở thành
một vị Thầy, một gương sáng, trở thành một kẻ lữ hành
dấn thân vào đời, đến với quần chúng. Cuộc hội thảo
Cơ Duyên và Thử Thách của Phật Giáo Thế Giới và Phật
Giáo Việt Nam mà quý vị gia tâm tham dự hôm nay là một hạnh
nguyện dấn thân nhập cuộc loại ấy.
Kính
chúc qúy vị thường tinh tấn đạt thành ước nguyện, và
xin kính chào quý vị.