Nhân
dịp Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam (Vietnam Buddhist Research
Institute) tổ chức một cuộc hội thảo khoa học quốc tế
trong hai ngày 15 và 16 tháng 7 năm 2006 với chủ đề: “Phật
giáo trong thời đại mới: Cơ hội và thách thức”, tôi được
mời tham dự. Trưởng ban tổ chức cuộc hội thảo là TT.
Thích Trí Siêu – Lê Mạnh Thát, Viện trưởng viện Nghiên
cứu Phật học Việt Nam và cũng là người bị chính quyền
Việt Nam kết án tử hình vào tháng 2/1984.
Vốn
có nhiều cơ duyên làm việc và sinh hoạt trong những môi trường
tuổi trẻ (Liên đoàn trưởng GĐPT Liễu Hạ, 62-68, đoàn trưởng
đoàn Thanh niên Hồng Thập tự Quốc tế, phân hội Quảng
Trị, 73-74, hội trưởng hội Sinh viên Việt Nam Đại học
Sac State, 86-88, làm việc với Cơ quan Bảo vệ Thanh Thiếu niên
tại Sacto, 88-06, dạy học tại các trường trung và đại học
Việt, Mỹ…), tôi xin đóng góp một vài ý kiến khiêm tốn
trong lĩnh vực mà mình tiếp cận lâu dài qua bài viết sau
đây.
Sự
phát triển nhanh chóng phương tiện giao thông từ giữa thế
kỷ 19 đã góp phần năng động trong việc thay đổi bộ mặt
và trật tự về khoảng cách và không gian trên trái đất.
Và cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ 20 đã phá đổ
những biên giới và rào chắn giữa các quốc gia và lục địa
trên mặt địa cầu. Từ cái cũ bước qua cái mới trong nhiều
trường hợp không theo thứ lớp của một quá trình chuyển
mình tự nhiên theo mô thức cổ điển mà bằng những bước
nhảy vọt. Bước tiến nhảy vọt hôm nay vẫn còn bị coi
là hoang tưởng trong những thế kỷ trước. Do đó, khái niệm
“thời đại mới” không chỉ đơn thuần liên quan đến
trình tự thời gian như mới – cũ, xưa – nay, trước –
sau theo vòng quay tự nhiên ngày đêm, tháng năm của mặt trời,
mặt trăng và trái đất. Cái “mới” mang một ý nghĩa tích
cực và bứt phá vượt ra ngoài những quy ước truyền thống.
Thời
đại mới trong thế kỷ nầy được xác định với ý nghĩa
tân tiến (modernism), hiện đại (modernity) và cập nhật (up-to-dateness).
Những nguồn thông tin trên thế giới hiện nay được thông
báo gần như tức khắc và mọi biến cố, sự kiện xảy ra
trên khắp hành tinh nầy đều được cập nhật từng giây,
từng phút một. Một sự kiện mang tính toàn cầu như Giải
Bóng đá Thế giới năm nay chẳng hạn, tuy diễn ra tại Đức,
nhưng xuất hiện cùng lúc ngay trước mắt của khán giả mộ
điệu trên toàn thế giới qua phương tiện truyền thông đại
chúng.
Mặc
dầu “thời đại mới” không mang theo một biệt lệ đối
với bất cứ vùng đất hay sinh vật địa cầu nào. Tuy nhiên,
một thành viên hay đối tượng trong cộng đồng thế giới
có muốn hay có chịu mở mắt, mở tai ra để nghe, để nhìn,
để biết những chuyện gì đang xảy ra chung quanh mình hay
lại còn là chuyện khác nữa. Thí dụ như cái gọi là “thời
đại mới” mang nặng tính chất cạnh tranh, chuyển hướng,
sinh tử đối với xã hội Âu, Mỹ hay nói chung. Nhưng chẳng
có một mảy may ảnh hưởng hay tác động nào đối với các
bộ tộc người Mỹ Da Đỏ đang sống theo nền văn hóa bầy
đàn cổ sơ trong các khu biệt cư ở Trung Mỹ và Rocky Mountains
cả. Bởi vậy, nội hàm và tác động của thời đại mới
thường có giá trị và ảnh hưởng một cách tương đối
tùy theo con người và hoàn cảnh.
Khái
niệm “thời đại mới” trong bài nầy nhấn mạnh đến
bối cảnh của một không gian toàn cầu hóa và một mô thức
tiếp cận, liên lạc cấp thời và trực tiếp. Mọi mặt của
đời sống chuyển biến tận gốc rễ về tốc độ cũng như
về quy mô. Tốc độ nhanh chóng và tính đại chúng về phương
tiện giao thông; không gian rộng lớn và bao quát về mặt truyền
thông… đã lay chuyển tầm nhìn, tầm nghĩ, vừa mới, vừa
xa, vừa sâu hơn so với giới hạn trong một quá khứ chỉ
mới mấy năm về trước.
Việt
Nam ngày nay với dân số 83 triệu người được xem là một
nước “trẻ trung” trong vùng châu Á Thái Bình Dương (Asian
Pacific Rim). Trẻ trung vì dân số sinh ra sau năm 1975 chiếm đa
số; trẻ trung vì đang ở trên một tốc độ chạy đua về
phát triển kinh tế được giới chuyên môn kinh tế thế giới
ghi nhận là khá nhanh; và trẻ trung vì cả nước đang chuẩn
bị “gân cốt” để bước vào một thế hệ mới – thế
hệ của văn hóa thị trường.
Khoảng
cách thế hệ (Generational gaps)
Khi
nói đến tuổi trẻ, người ta thường hỏi rằng, dựa trên
tiêu chí nào để xác định tính chất “trẻ” ở mỗi con
người. Các nhà sinh vật học thì dựa trên tuổi tác và sự
phát triển về thể lực. Các nhà tâm lý học, nhất là ngành
tâm lý trị liệu (psychotherapy), thì dựa trên sự phát triển
tâm sinh lý. Một số các ngành nghề và lĩnh vực chuyên môn
khác thì dựa trên khả năng tạo ra “sản phẩm” để phân
biệt tuổi tác. Một nhà phê bình nghệ thuật Mỹ, Heather
Atkins, đã cho rằng Monet, Picasso… là những người trẻ mãi
trong màu sắc; Sinatra, Brahms, Stravinsky… là những người trẻ
mãi trong âm thanh. Tuy rằng, trong một thế giới khái niệm
mang đầy tính chủ quan và tương đối về tuổi trẻ như
thế, nhưng khi nói đến tuổi trẻ, không ai có thể đảo
ngược thời gian hay chỉ đơn giản căn cứ trên “khả năng
tạo ra sản phẩm” để cho rằng Nguyễn Trãi “trẻ” hơn
Nguyễn Du vì “Bình Ngô đại cáo” xốc nổi hơn Đoạn trường
tân thanh (!)
Trong
một vài bài viết trước đây, người viết bài nầy đã
có dịp nhắc lại một vài quan niệm điển hình về tuổi
tác trong truyền thống văn hóa và xã hội Việt Nam. Theo quan
niệm tương đối phổ biến nhất thì một đời người được
chia ra làm 4 giai đoạn: (1) Thiếu niên, (2) thanh niên, (3) trung
niên và (4) lão niên. Khi nói đến tuổi trẻ, nếu nhấn mạnh
đến vai trò kế thừa và chuyển tiếp, người ta thường
đề cập đến tuổi thiếu niên và thanh niên. Nhưng để nhấn
mạnh vai trò năng động và trách nhiệm với xã hội, người
ta nói đến tuổi thanh niên và trung niên. Trong đó, trung niên
là một thế hệ bắc cầu (the bridge generation) giữa hai thế
hệ già và trẻ. Thế hệ bắc cầu giúp làm gạch nối thu
hẹp sự khác biệt giữa hai thế hệ già và trẻ hay thế
hệ đàn anh và thế hệ đàn em.
Hình
ảnh "thanh thiếu niên" tượng trưng cho mầm non tươi mát,
sức sống tràn đầy và sự kế thừa đầy hy vọng. Trong
hoàn cảnh thực tế của Việt Nam sau chiến tranh, cuộc chiến
30 năm (1945-1975) là cái mốc lịch sử tiêu biểu để những
nhà xã hội học và tâm lý học phân chia thế hệ. Có thể
nói những người Việt Nam đang sống có 4 thế hệ: (1) Thế
hệ trước chiến tranh Việt Nam (Pre-Vietnam War generation), (2)
thế
hệ chiến tranh Việt Nam (Vietnam War generation), (3) thế hệ
sau chiến tranh Việt Nam (Post-Vietnam War generation) và (4) thế
hệ ấu nhi gồm những trẻ em từ sơ sinh đến lứa tuổi
tiểu học.
Thế
hệ sau chiến tranh Việt Nam là một thế hệ điển hình cho
tuổi trẻ Việt Nam hiện đại. Đó là tầng lớp thanh thiếu
niên nam nữ sinh ra sau 1975. Tuổi trung bình từ 10 cho đến
30. Thế hệ đàn anh đang lũ lượt từ giã những vai trò then
chốt trong cơ chế lãnh đạo và quản lý xã hội và thế
hệ đàn em – thế hệ tuổi trẻ Việt Nam – lần lượt
thay thế.
Sự
kế thừa và chuyển tiếp giữa hai thế hệ tại các nước
Âu Mỹ cũng như ở nước ta, đều gặp phải những “trở
ngại mới phát sinh” (unprecedented disadvantages) mà những biểu
hiện thường thấy nhất là:
·
Tinh thần bảo thủ của thế hệ già dựa trên những kinh
nghiệm cũ mà mình đã có xung đột với khuynh hướng cấp
tiến của thế hệ trẻ dựa trên sự tìm tòi, khai phá mà
mình đang phấn đấu vươn tới.
·
Thế hệ già khư khư bám chặt vào địa vị và quyền lực,
trong khi thế hệ trẻ cần có điều kiện và môi trường
để sử dụng năng lực và thể hiện lý tưởng của mình.
·
Thế hệ già không bắt kịp với tốc độ càng ngày càng
nhanh đến chóng mặt của của những tiến bộ khoa học, kỹ
thuật; trong khi thế hệ trẻ đang vật lộn và nắm bắt để
áp dụng một cách hữu hiệu những tiến bộ nầy. Sự tụt
hậu và đương đầu trước hiện thực mang tính thời đại
giữa hai lứa tuổi tạo ra một khoảng cách (hay xung đột)
giữa hai thế hệ già và trẻ là hậu quả tất yếu.
·
Nếu sự xung đột thế hệ thiếu một mẫu số chung để
hóa giải, thế hệ trẻ và thế hệ già sẽ dẫn nhau đến
sự khủng hoảng tâm lý mà tác động tiêu cực và nghiêm
trọng nhất là sự chối bỏ, loại trừ nhau giữa hai thế
hệ.
Ngoài
những hiện tượng tiêu cực mang tính chất chung và phổ biến
trên đây, mối tương quan giữa tuổi già và tuổi trẻ Việt
Nam đương đại còn mang thêm gánh nặng của thời cuộc, kinh
tế và địa lý.
Về
mặt thời cuộc, lịch sử chiến tranh đã để lại những
dấu vết khắc nghiệt trong tâm hồn và trên thể xác Việt
Nam. Thế hệ già – thế hệ đàn anh – đã sinh ra và lớn
lên trong chinh chiến; trong khi thế hệ đàn em sinh ra và lớn
lên giữa hòa bình. Những ám ảnh kinh hoàng, những giá trị
nhân văn bị gãy đổ, những hận thù núp bóng dưới nhân
danh… đã thiêu đốt thế hệ đàn anh nhạt dần hay chẳng
còn dấu vết trong tâm thức thế hệ đàn em. Lối nhìn khác
nhau về quá khứ sẽ mang theo phản ứng và cách hành xử khác
nhau trong hiện tại và hướng nhìn tương lai.
Nền
kinh tế suy yếu và tụt dốc sau cuộc chiến đã kéo theo những
tệ nạn xã hội đã trực tiếp hay gián tiếp tạo ra sự
thất vọng và hoài nghi cho thế hệ đàn em khi nhìn về thế
hệ đàn anh.
Những
suy nghĩ xót xa về sự yếu kém đã tạo ra mặc cảm tự ty
cho tuổi trẻ khi tương giao và tiếp cận với các dân tộc
và các nước láng giềng cũng như cộng đồng thế giới.
Tuổi trẻ không tìm ra một sự kế thừa mang ý nghĩa tích
cực và đầy thuyết phục từ phía cha anh mình.
Tuổi
trẻ Phật tử Việt Nam
Tín
đồ của một tôn giáo trước hết là một người công dân
của một xứ sở nào đó. Tuổi trẻ Phật tử (TTPT) Việt
Nam là một người dân Việt trẻ tuổi có tôn giáo là đạo
Phật đang lớn lên trên xứ mình hay xứ người. Người tuổi
trẻ Phật tử Việt Nam từ căn bản là một thành viên của
dân tộc; cùng thừa hưởng hay chịu đựng những vinh quang
và cay đắng chung với cộng đồng dân tộc. Bên cạnh việc
mang đầy đủ yếu tính của một công dân bình thường, người
TTPT còn có thêm một đời sống tâm linh, một đức tin tôn
giáo, một sự gắn bó và hướng về nếp nghĩ, thái độ,
lối sống của một người theo đạo Phật.
Với
sự vắng bóng của mọi hình thức tôn giáo theo nguyên lý
giáo dục trong nhà trường xã hội chủ nghĩa, TTPT tại quê
nhà tìm đến với đạo Phật thông qua 3 nguồn suối chính:
(1) Truyền thống gia đình; (2) bạn bè, tu sĩ và chùa chiền
tự viện; (3) tự mình tìm hiểu và học hỏi qua sách vở
và môi trường truyền thông. Động lực làm cho tuổi trẻ
tìm đến với tôn giáo là nhu cầu của đời sống tâm linh.
Đấy là một hiện tượng bình thường của một đời sống
toàn diện. Một đời sống thể chất linh động cần sự
hỗ trợ vô hình, nhưng không kém về sức mạnh, của nếp
sống tinh thần. Theo nhà tâm lý học danh tiếng Erik Erikson
thì 95 phần trăm những nhà khoa học và những thiên tài của
nhân loại có đời sống tôn giáo rất hài hòa với đời
sống nghiệp vụ bình thường. Ngay Karl Marx và Friedrich Engels
xuất thân cũng là những người theo tín lý tôn giáo Cơ Đốc.
TTPT
tại quê nhà cũng như ở hải ngoại tìm đến đạo Phật
bằng một sức mạnh tinh thần dũng mãnh và tự nguyện hơn
bao giờ hết vì cả hai xã hội trong cũng như ngoài nước
trong ba thập niên qua đều là những vùng đất “khó”; không
phải là những vùng đất màu mỡ cho mầm Phật giáo bén rể,
đâm chồi. So với thế hệ đàn anh, TTPT giữ vững được
niềm tin tôn giáo, hướng về Tam Bảo trong những điều kiện
xã hội, chính trị và kinh tế muôn vàn khó khăn hơn. Bởi
vậy, các em là những viên ngọc quý mà thế hệ đàn anh cần
phải trân trọng và đánh giá đúng mức để nuôi dưỡng
và phát huy trên hướng về tương lai của Đạo Pháp.
Đồng
thời với TTPT nói chung, Gia đình Phật tử (GĐPT) Việt Nam
là một tổ chức Tuổi trẻ Phật Tử thuần túy mà không
một giáo hội Phật giáo nước nào ngoài Việt Nam đang có.
GĐPT
được thành lập năm 1943, qua các danh xưng như Đoàn Đồng
ấu Phật tử, Phật học Đức dục, Gia đình Phật hóa Phổ.
Trong
gần 60 năm qua, GĐPT Việt Nam trong nước và ở hải ngoại
đã trở thành một hình ảnh sinh động, tươi mát, trẻ trung
và đầy hứa hẹn trong nhiều sinh hoạt của Phật giáo Đại
thừa. Đây là một tổ chức của TTPT Việt Nam có một hệ
thống cấu trúc chặt chẽ và rộng khắp. GĐPT có cương lĩnh,
đường lối hoạt động phù hợp với tinh thần chung Phật
giáo. Căn bản là lấy châm ngôn Bi – Trí – Dũng làm nền
tảng sinh hoạt và dựa vào Năm Điều Luật tượng trưng cho
năm hạnh: Tinh Tấn, Hỷ Xả, Thanh Tịnh, Trí Tuệ và Từ Bi
của đạo Phật. Hơn nửa thế kỷ qua, GĐPT Việt Nam là hình
ảnh tiêu biểu cho thế hệ trẻ Phật tử Việt Nam.
Trong
quá khứ, dẫu qua những giai đoạn thăng trầm và ngay cả
trong những thời điểm dầu sôi lửa bỏng nhất của Dân
Tộc và Đạo Pháp như biến cố chiến tranh, pháp nạn, tỵ
nạn, tản cư, tạm cư…, GĐPT vẫn luôn luôn có mặt bên
cạnh chư tôn đức và quý đạo hữu một cách đoàn kết,
trung kiên, sinh động và không phân biệt sự dị đồng của
chùa chiền hay bộ phái. Thế nhưng trong vòng 30 năm qua, từ
năm 1975 trở về sau, GĐPT đã và đang trải qua một thời
kỳ chao đảo nhất trong lịch sử 63 năm tổ chức và sinh
hoạt.
Sự
thách đố từ trong nội bộ giữa thời đại mới
Trong
số những vấn đề điển hình nhất mà TTPT Việt Nam phải
đương đầu trong thời đại mới có những vấn đề truyền
thừa từ thế hệ đàn anh sang thế hệ đàn em. Có những
vấn đề phát sinh do sự phản ứng trước hoàn cảnh tạm
thời. Có những vấn đề do thời cuộc, địa lý và nhân
văn. Có những vấn đề nẩy mầm, mọc rễ và ăn sâu (thâm
căn cố đế) từ trong nội bộ.
Liên
tiếp trong 6 bài viết dưới tiêu đề “Lá thư huynh trưởng”
đã đăng trên Tạp chí Văn hoá Phật giáo và Website Phật
Tử Việt Nam (www.phattuvn.org), người viết bài nầy đã có
cơ hội trình bày và phân tích những thử thách và cơ hội
đối với TTPT Việt Nam. Nhưng đó chỉ mới là những thách
đố đến từ hoàn cảnh bên ngoài. Những thử thách đến
từ bên trong mới là điều nghiêm trọng đáng nói trong lúc
nầy. Đây là một thời điểm quá tầm chờ đợi bởi vì
thế hệ đàn anh hầu hết đang bước vào lứa tuổi sáu,
bảy mươi và thế hệ đàn em đang mạnh mẽ bước vào đời
để nhận lấy trách nhiệm thay cho thế hệ đàn anh. Nếu
sự kế thừa chỉ là phân hóa và xung đột; nếu gia tài truyền
thống về mặt tổ chức lâm vào cảnh “nhất giang lưỡng
quốc”, một Giáo hội Phật giáo Việt Nam bị phân chia ra
hai hay nhiều phe phái… thì TTPT không vay, không tạo mà lại
thành con nợ của tương lai.
Những
vấn đề đến từ bên trong gây xung đột và phân hóa như
thế, có thể coi như là “Pháp nạn tự thân”.
Trong
lịch sử 25 thế kỷ, đạo Phật đã trải qua nhiều thời
kỳ hưng thịnh và thoái trào. Có những triều đại hoàng
kim Phật giáo như thời vua A Dục (268-232 trước kỷ nguyên).
Đạo Phật không những trở thành quốc giáo mà đạo lý nhà
Phật còn trở thành quốc sách trị nước an dân. Triều đại
A Dục đánh dấu bước chuyển mình trọng đại của Phật
giáo. Từ một tôn giáo giới hạn trong vùng lưu vực sông
Hằng, xứ Ấn Độ, đã mạnh mẽ vươn lên thành một tôn
giáo hoàn vũ.
Ngược
lại, cũng có những triều đại Phật giáo bị bức hại tang
thương. Như trong triều đại Sunga, võ thần Bồ Sa Mạt Đa
La (Pusimitra) cướp ngôi lên làm vua đã ra lệnh phá huỷ chùa
chiền, tu viện, tàn sát chư tăng và treo giải thưởng 100
đồng tiền vàng cho ai lấy được một cái đầu của một
nhà sư. Đây là pháp nạn lần thứ nhất của Phật giáo Ấn
Độ, xẩy ra vào thế kỷ thứ 2 trước kỷ nguyên. Tiếp theo
những triều đại Bà La Môn và Hồi giáo giữ vai trò ngự
trị, đạo Phật đã bị mai một dần ngay trên xứ Phật.
Đánh giá lại thời kỳ suy yếu nhất của đạo Phật tại
xứ Ấn Độ, giáo sư chuyên khoa Phật giáo Koichi Shinohara,
đại học Berkeley, nhận định rằng: “Sự suy yếu của đạo
Phật tại Ấn Độ bắt nguồn từ sự suy thoái phẩm chất
từ bên trong. Số người xuất gia không có lý tưởng giác
ngộ, độ sanh mà chỉ vì đời sống cửa thiền đương thời
dồi dào; tăng sĩ được trọng vọng làm cho tăng già càng
ngày càng bị hủ hóa. Tại thành Vương Thị (Pàtaliputta),
tăng chúng suốt 7 năm không hề có lễ Bố Tát. Đời sống
tu viện phân chia giai cấp. Tăng già phân hóa thành phe nầy
chống báng phe kia. Mới nhìn qua thì ngỡ như chẳng có gì
quan trọng. Nhưng nếu nhìn suốt dòng lịch sử thì đó là
pháp nạn tự thân, “trùng sư tử ăn thịt sư tử”, người
đồng đạo xa lánh và từ bỏ nhau. Cả hai phía xung đột
đều nhân danh chánh pháp và kêu gọi hoằng dương chánh pháp;
nhưng thực chất là tự biến thành ngọn lửa thiêu hủy niềm
tin Tam Bảo trong cùng tận đáy lòng người. Pháp nạn đến
từ bên ngoài có thể gây khó khăn cho việc sinh hoạt Phật
sự qua những năm tháng, nhưng pháp nạn đến từ bên trong
có khả năng làm suy yếu tinh thần, phá hủy đức tin cho cả
thế hệ. Pháp nạn đến từ bên ngoài muôn lần dễ chữa
hơn pháp nạn đến từ bên trong.”
Tuy
lịch sử không bao giờ có sự lặp lại hoàn toàn giống nhau,
nhưng những bài học lịch sử giá trị thường biểu hiện
nguyên nhân và hậu quả tương tự như nhau. Người Phật tử
rất xót xa trước hiện trạng quý tăng ni, Phật tử phân
hóa tại quê nhà và trên quê người. Tuy giới Phật tử thuần
thành, kể cả người viết bài nầy, suốt 30 năm qua đã từng
an ủi rằng: “Đạo Phật không có phân hóa mà chỉ có những
người theo đạo Phật phân hóa. Chư tôn đức là những bậc
cao tăng thạc đức nên các ngài sẽ tự tìm ra phương hóa
giải giữa phía nầy, phía nọ, như trăm dòng sông, nghìn con
suối khác nhau rồi cũng sẽ chảy về chung dòng trong biển
mẹ.” Nhưng thực tế đã và đang nói lên rằng, đấy chỉ
là thi ca, là triết lý, là ước mơ chứ chưa phải là hiện
thực!
Tôn
giáo không phải chỉ đơn thuần là niềm tin như giữa cuộc
đời thường mà phải có đức tin vững chắc làm chỗ dựa
cho đời sống tâm linh. Bởi vậy, một tổ chức đời sống
tâm linh ổn định đòi hỏi các cấp chức sắc lãnh đạo
tinh thần phải có ít nhất là một hệ thống lãnh đạo thống
nhất về mặt cấu trúc và nhất quán về đường lối. Lãnh
đạo là cầm cương, là làm chủ một con đường, một phương
hướng rạch ròi và cụ thể. Một nước có cùng lúc hai vua,
hai triều đình là nước loạn. Một tổ chức có hai hệ thống
đầu não song hành là một tổ chức chỉ có giá trị tượng
trưng mà không có thực quyền, thực dụng.
TTPT
Việt Nam lớn lên trong gia đình có truyền thống Phật giáo
bỗng khám phá ra rằng: Có “chùa ta”, “chùa họ”; có
“thầy mình”, “thầy chúng nó”, có đạo Phật của phe
nầy là đúng đắn, đạo Phật của phe kia là sai lầm… Với
tâm hồn măng non như tờ giấy trắng, thế hệ cha anh đã
làm vẩn đục nguồn suối tinh thần tươi mát và trong sáng
của các em vì phải chọn lựa chùa nầy hay chùa nọ, nếu
không sẽ bị bơ vơ trước ngã ba đường.
Đâu
là nguyên nhân xa và nguyên nhân gần của tình trạng phân
hóa nầy? Nếu có chăng một sự phân ranh như thế thì lỗi
tại ai? Hẳn nhiên là không một người Phật tử xuất gia
hay tại gia nào lại muốn có một sự phân ranh như thế cả.
Đối với một người Phật tử bình thường, phải chọn
lựa phía nầy hay phía nọ; theo thầy nầy mà không theo thầy
kia là một việc làm bất đắc dĩ, một cố gắng đi tìm
trong thất vọng.
Nếu
chúng ta tiếp tục “truy nguyên” để tìm cho ra nguyên nhân
đầu tiên của cái “khổ đế” nầy thì sẽ lần lượt
lên đến quý thầy, chư tôn đức. Và ở bậc nầy, chắc
hẳn kẻ đi tìm nguyên nhân sẽ thấy được rằng, quý thầy
đã từ bỏ tất cả công danh, tham luyến đời thường để
xuất gia tu hành mong cầu giác ngộ thì sẽ không có lý do
nào muốn nhìn thấy một hình ảnh Phật giáo rạn nứt cả.
Hãy thắp đuốc lên, tiếp tục đi tìm nguyên nhân của sự
phân hóa. Đi nữa. Đi tới Pháp bảo, Phật bảo và sẽ đi
đến suối nguồn an lạc của đạo Phật. Chúng ta lại càng
không thấy một chút rạn nứt; không tìm ra một mảy may dao
động.
Nói
như đức Lạt Ma Đề Văn xứ Tây Tạng: “Đạo lành vốn
không xung đột, không phân ranh giới con người hay hoàn cảnh.
Chỉ có sự vô minh trong những phương tiện hành đạo mới
tạo ra phân hóa, xung đột mà thôi.”
Ai
là “thủ phạm” của vô minh?
Thủ
phạm nằm từ bên ngoài ta chăng?
Như
trên đã nêu dẫn, đạo Phật đã trải qua những thời kỳ
Pháp nạn, có khi giải thưởng cái đầu nhà sư lên đến
cả trăm đồng tiền vàng. Lịch sử nước ta đã ghi lại
con đường vinh quang và gập ghềnh của Phật giáo Việt Nam.
Đạo Phật cực thịnh thời Lý Trần; lúc thịnh lúc suy thời
Lê Nguyễn và phải đương đầu với bao nhiêu sóng gió từ
thời Pháp đô hộ; bị lay động tận gốc rễ trong suốt
cuộc chiến tranh Việt Nam; và chao đảo trong suốt thời hậu
chiến. Nói tóm lại là Phật giáo Việt Nam đã bị những
thế lực từ bên ngoài tác động và thách đố không ngừng.
Nhưng thực tế đã chứng minh rằng, Phật giáo Việt Nam với
tinh thần “cửa thiền rộng mở” nên bất cứ khó khăn
nào tác động từ bên ngoài, cùng lắm cũng chỉ tạo ra khó
khăn, trở ngại, chứ không thể nào phá hủy được ngôi
nhà Phật giáo khi “tứ chúng đồng tu, tăng già hoà hợp”.
Phật giáo chỉ lâm vào tình trạng thoái trào thực sự khi
không hóa giải được những xung đột từ bên trong… mà
thôi!
TTPT
Việt Nam, mà biểu hiện mặt nổi là GĐPT, hiện nay đang nối
dài sinh hoạt từ quê nhà đến hải ngoại. Tổ chức và sinh
hoạt của GĐPT là sự phản ánh rõ nét nhất tình trạng của
Phật giáo Việt Nam trong và ngoài nước.
Nếu
trong nước và ngoài nước đang có bao nhiêu hình thức “giáo
hội” Phật giáo thì sẽ kéo theo bấy nhiêu những “phiên
bản Gia đình Phật tử” có lập trường và tổ chức theo
một tinh thần tương đương.
Xã
hội Mỹ hiện nay được xem là một xã hội đa chủng, không
khéo là tạp chủng. Thế nhưng cái bức tranh cẩn xà cừ (American
Mosaic) lại khá hài hòa vì có một hệ thống chính quyền
lãnh đạo và chuyên viên quản lý tự do và dân chủ. Trong
một khung cảnh như thế, những sự khác biệt của xã hội
Mỹ thường được ví von như một dĩa xà lách. Mỗi loại
rau và mỗi thứ gia vị trong cái dĩa rau phức tạp nầy vừa
xác định cái “ngã” của mình là loại rau gì, là mùi vị
gì; thế nhưng cũng vừa thể hiện tính “vô ngã”, hiến
cái “tôi” riêng biệt của mình cho cái chung làm cho tất
cả trở thành và chỉ còn là một dĩa xà lách tươi tắn,
thơm ngon.
Cơ
hội và thử thách của Tuổi trẻ Phật tử Việt Nam chính
là ở điểm then chốt nầy. Tách ra khỏi dòng triều chung
thì sẽ bị cô lập, có khi bơ vơ không còn có môi trường
và cơ hội để thể hiện và thi thố tâm lực cùng tài năng
và lý tưởng của mình. Nhưng nếu nhập vào dòng thì phải
chọn bờ bên nầy hay bờ bên kia. Hay đấy cũng chỉ là một
hình thức nói khác của phe nhóm, phân tranh.
Sức
mạnh, tác dụng và phản ứng của tuổi trẻ thường biểu
hiện phù hợp với từng giai đoạn của sự phát triển tâm
sinh lý qua từng độ tuổi. Tuổi trẻ đầy lý tưởng. Tuổi
trẻ hăng say và hướng về khai phóng. Tuổi trẻ trong sáng
và nhiệt tình. Lý tưởng và nhiệt tình sẽ rất dễ trở
thành nguội lạnh khi phải đối diện với sự cố chấp và
cực đoan của thế hệ đàn anh. Tuổi trẻ Việt Nam đang bước
vào thế kỷ 21. Một sự kiện chính trị quốc tế, một sự
cố xã hội tận bên trời Tây, một kiểu áo quần thời trang
vừa xuất hiện ở New York mới xẩy ra đêm trước, tức khắc
sáng hôm sau đã loan xa trên mọi kênh rạch của môi trường
truyền thông quốc tế. Những huyền thoại về lãnh đạo,
những cường điệu về tình hình và hoàn cảnh, những hư
cấu về anh hùng liệt nữ của những thập niên quá khứ
chẳng những không có tác dụng mà còn phản tác dụng đối
với thế hệ trẻ hiện đại.
Tuổi
trẻ trong thế kỷ nầy chỉ có thể bị thuyết phục và chinh
phục bằng sự thật, bằng thành phẩm, bằng kết quả có
thể kiểm chứng được chứ không thể bằng những ấn tượng
mơ hồ, những lý thuyết suông, những hứa hẹn rỗng tuếch
được nữa. Nữ văn Mỹ da đen giải Nobel của Mỹ, Tony Morrison,
đã viết trong tạp chí Psych Review số tháng 6/ 2005 rằng: “Thế
hệ già hơn trong thế kỷ này không lớn kịp với sự phát
triển quá nhanh về tri thức và tâm lý của thế hệ trẻ.
Thế nhưng thế hệ già vẫn nuôi ảo tưởng là mình đang
dẫn đường đào tạo và giáo dục thành công thế hệ trẻ
nên người. Sự ‘ly-dị-thế-hệ’ bắt nguồn từ đó.”
Văn
hoá phương Đông thường nói đến “nguy cơ”. Có nhận biết
mình đang ở thế nguy nan mới tìm ra cơ hội. Thế nguy, đồng
nghĩa với sự thách thức đối với thế hệ tuổi trẻ Phật
tử hôm nay là sự phân hóa từ bên trong; là sự nứt rạn
từ trong cách nhìn và lối nghĩ. Sự phân hóa và rạn nứt
đó là tiền đề của nhiều vấn đề xung đột từ thượng
tầng lãnh đạo, đến trung tầng cấu trúc và hạ tầng hành
động.
Khi
sự thách thức như một vấn nạn đang nằm lù lù trước
mắt, ai và làm sao đứng ra để khai thông con đường học
đạo, hành đạo và hộ đạo của của người Phật tử?
Làm sao để cùng đứng một phía bờ bên nầy, lên đường
vượt dòng sông, qua bờ giác ngộ bên kia?
Đạo
Phật Việt Nam ngày nay, có Tam Bảo và Phật tử kết thành
chiếc bè hành thiện qua sông vững chãi, nhưng bè hay thuyền
thì trước sau chỉ cần một bánh lái. Nếu có hai hay nhiều
bánh lái thì sẽ sinh ra hiện tượng cái tiến, cái lùi, cái
buông chèo tại chỗ… Trước những thế đi nghịch chiều
nhau, thuyền sẽ lạc hướng. Đối với Tuổi trẻ Phật tử,
thách thức của thời đại mới đang trực tiếp đối diện
với thế hệ trẻ. Nhưng cơ hội thì phải trông chờ vào
thế hệ đàn anh đang nắm quyền hành xử trao cho.
Trong
khung cảnh Phật giáo Việt Nam hiện tại, mọi người đang
đợi chờ thế hệ đàn anh hành (đạo) hơn là thuyết (pháp).
Bởi vậy, bài bản, hội luận chỉ có giá trị gợi ý tượng
trưng. Điều quan trọng là thế hệ đàn anh đang làm gì, nghĩ
gì, hành động như thế nào để trao lại cho thế hệ đàn
em một sự kế thừa xứng đáng với bề dày của đàn anh
và lòng tin cậy của đàn em.
Thử
thách và cơ hội
Trong
gần nửa thế kỷ qua, Phật giáo Việt Nam đã đối diện
với nhiều thử thách và cơ hội. Đối với những Phật tử
vào hàng thế hệ tuổi trên dưới 60 như kẻ viết bài nầy
thì đạo Phật thường xuyên đứng trên trường đương đầu
và thử thách hơn là cơ hội. Trong tình hình chiến tranh kéo
dài, hầu như hết thảy chùa chiền, tự viện tại các vùng
nông thôn Việt Nam đều bị thiêu hủy trong lửa đạn. Đa
số những vùng quê, đạo Phật biến thành hình thức thờ
cúng mê tín dị đoan. Năm 1954, khi hòa bình tạm thời lập
lại, đạo Phật chưa đủ thời gian để khôi phục lề lối
tổ chức sinh hoạt bình thường thì phong trào tranh đấu Phật
giáo chống đàn áp tôn giáo đã dậy lên năm 1963. Và liên
tiếp những năm sau đó, Phật giáo thường xuyên đối diện
với sự bất ổn do hoàn cảnh vừa khách quan, vừa chủ quan
tạo nên.
Từ
năm 1975 trở về sau, Phật giáo lại phải đương đầu với
những thử thách mới, trong một tình hình chính trị, xã hội
và giáo dục mới. Dẫu cho đứng từ bất cứ một góc độ
nào thì vẫn không ai phủ nhận được rằng, từ trong lý
thuyết cơ bản và sự hành xử cụ thể, không có một chính
quyền cộng sản nào trên thế giới thừa nhận sinh hoạt
tôn giáo như là một nhu cầu tự nhiên và cần thiết của
đời sống tâm linh. Khởi từ lối nhìn tiêu cực của Marx
về tôn giáo như là: “Tiếng thở dài của con người bị
áp bức; thuốc phiện làm quần chúng nghiện ngập…”, tôn
giáo nói chung và Phật giáo nói riêng không có chỗ đứng
đương nhiên và quan trọng trong hệ thống giáo dục và đời
sống xã hội công cộng. Bởi vậy, đã có nhiều người đặt
câu hỏi: “Có tự nhiên và hợp lý chăng khi đòi hỏi một
hình thức tự do tôn giáo theo khái niệm của các nước phương
Tây trong một nước có hệ thống chính trị theo đường lối
cộng sản?”
Riêng
tình hình Phật giáo Việt Nam thì sự hoài nghi giữa giới
lãnh đạo Phật giáo và chính quyền đã có ngay sau năm 1975.
Chỉ mấy tháng sau ngày tiếp thu toàn miền Nam, dấu hiệu
phản kháng của hàng tu sĩ Phật giáo tại Sài Gòn đã bắt
đầu nổi lên. Mùa Phật Đản năm 1976 đã có một phái đoàn
Phật tử Huế (thường được mệnh danh là “Thủ đô Phật
giáo” của Việt Nam) do ông Nguyễn Hữu Vấn, trưởng ban
tôn giáo của Mặt trận Tổ quốc Bình Trị Thiên cầm đầu
vào Sài Gòn để “giải độc”. Di lụy của mối quan hệ
mang tính chất hoài nghi và xung đột giữa chính quyền Việt
Nam và một số chư tăng ni cao cấp của Phật giáo là đưa
đến tình trạng có hai giáo hội Phật giáo song hành tại
Việt Nam: Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất chống
chính quyền và Giáo hội Phật giáo Việt Nam thân chính quyền.
Tuổi trẻ trong GĐPT Việt Nam cũng bị phân hóa làm hai theo
tinh thần của quý Thầy: Tổ chức GĐPT có đăng ký và GĐPT
không đăng ký! Khuynh hướng chung của Phật tử là không muốn
dính dáng đến những vấn đề tranh chấp chính trị, hoặc
chống, hoặc theo. Người Phật tử ở trong nước cũng như
hải ngoại đã quá mỏi mệt với gánh nặng đời thường.
Họ chỉ mong tìm được sự an lạc nơi suối nguồn Phật
giáo.
Sự
xung đột giữa chính quyền và giới lãnh đạo Giáo hội Phật
giáo Thống nhất có thể hóa giải trong tinh thần từ bi, trí
tuệ của đạo Phật và tinh thần hòa giải, hòa hợp dân
tộc của chính trị hay không?
Đối
với người đang sống xa quê hương thì tình hình sinh hoạt
Phật giáo ở quê nhà không rõ ràng vì “có quá nhiều tin
tức chứ không phải vì thiếu thông tin”. Nếu theo dõi tin
tức, mạng lưới internet, báo chí trong và ngoài nước, người
ta sẽ thấy cùng lúc Văn phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế
của ông Võ Văn Ái ở Paris thông báo và bình luận tình trạng
Phật giáo đang bị đàn áp ở quê nhà. Trong khi đó, các nguồn
tin khác đưa tin và hình ảnh về xe hoa mừng Phật Đản ở
Huế và Hà Nội, lễ Phật Đản tổ chức rầm rộ khắp nước
và các phái đoàn Phật giáo Việt Nam tham dự đông đảo hội
thảo, lễ Phật đản tại Trung Hoa và Thái Lan.
Thật
ra, những hiện tượng mà hai khuynh hướng “chống đối”
hay “ủng hộ” đưa ra chẳng có gì mới lạ hay đáng tin
cậy đối với xã hội tự do ở phương Tây. Điều then chốt
mà mọi người đều thấy rõ ràng là chuỗi “vướng mắc”
của thế quyền Việt Nam và giáo quyền Phật giáo Việt Nam.
Có vẻ như cả hai bên đều đang cố tình không muốn nhìn
rõ mặt nhau để tìm ra một mẫu số chung làm căn bản giải
quyết vấn đề dị biệt.
Những
“vướng mắc” về phía chính quyền Việt Nam:
Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam: Đây là một cái khung lãnh đạo
với mục đích phối hợp và vận động các đoàn thể quần
chúng, có vẻ như không còn hợp thời trong thời đại mới.
Mặt trận Tổ quốc mang ý nghĩa một chiến dịch đấu tranh
cho đất nước là một danh xưng cường điệu mang tính chiến
lược và áp dụng chiến thuật để vận động quần chúng
trong thời chiến. Trong giai đoạn xây dựng đất nước, cần
một sự phối hợp hài hòa các thành viên và tổ chức trong
cộng đồng dân tộc. Khái niệm “mặt trận” áp dụng cho
các đoàn thể quần chúng đã không còn hợp thời. Nếu đem
áp đặt thành cái khung lãnh đạo tôn giáo, đặc biệt là
một tôn giáo đặt trên căn bản từ bi, hỷ xả như đạo
Phật mà lại đứng vào “mặt trận” thì lại càng dễ
bị “dị ứng” hơn.
Đoàn
ngũ hóa tôn giáo: Tôn giáo và tín đồ không thể đứng trên
và đứng ngoài đất nước và dân tộc. Nhưng tôn giáo có
một vị thế riêng, đứng hàng thứ hai sau chính trị. Việc
chính quyền Việt Nam đơn giản đưa một tôn giáo lâu đời
của đất nước như đạo Phật vào làm một thành viên của
Mặt trận Tổ quốc như các đoàn thể quần chúng thiếu niên,
thanh niên, phụ nữ, bô lão… là một sự “đoàn ngũ hóa”
không hợp lý mà cũng chẳng hợp tình.
Thế
lực hóa tôn giáo: Hiện tượng chính quyền chủ trương xây
dựng một “cánh” tôn giáo mạnh hơn, đông hơn để làm
mờ đi “cánh bất đồng” là một sách lược có tác dụng,
thích hợp với truyền thống văn hóa làng xã cổ điển nhưng
lại không thích hợp với môi trường tôn giáo, nhất là tôn
giáo trong thời đại toàn cầu với môi trường truyền thông
hiện đại nầy. Phật giáo không có đất đứng cho những
“danh tăng” theo ý muốn. Phật giáo Tây Tạng và đức Đạt
Lai Lạt Ma là một dẫn chứng điển hình cho phẩm cách của
một danh tăng. Trong tình hình “giáo hội nầy, giáo hội nọ”
thì hầu hết những người Phật tử có đạo tâm trở thành
một tầng lớp tín đồ thầm lặng. Khối Phật tử thầm
lặng nhưng chiếm đại đa số nầy sẽ cảm thấy xa lạ và
thất vọng với sự hiện diện đầy vẻ trang trí, nặng phần
trình diễn của một số “chư tôn đức” chưa có tuổi
đạo (hạ lạp) rõ ràng làm bảo chứng.
Các
nhà lãnh đạo Việt Nam và nhất là Ban Tôn giáo Trung ương
đều nhận rõ rằng, tôn giáo cũng là một thế lực “chính
trị tâm linh”. Cũng như thế quyền, giáo quyền có hệ thống
lãnh đạo, có quần chúng (phần tinh thần), có lãnh thổ (giáo
phận), có quyền lực và có tài sản riêng. Sức mạnh của
tôn giáo có khi chế ngự và làm lung lay cả thế quyền như
thời Trung Cổ và Khai Sáng ở châu Âu. Bởi vậy, xin thành
tâm kính đề nghị những người có thẩm quyền nghiên cứu
và tham khảo sâu rộng hơn để có một quy chế tôn giáo hợp
lý, hợp tình và hợp với thời đại mới. Đấy có thể
là bước cơ bản nhất để thế quyền và giáo quyền xóa
dần những dị biệt, xích lại gần nhau hơn trên một mẫu
số chung là tôn trọng lẫn nhau, cùng hướng về sự ổn định
xã hội và phồn vinh của đất nước.
Những
“vướng mắc” về phía lãnh đạo Phật giáo Việt Nam:
Quy
chế tự trị: Chư vị tăng ni lãnh đạo Phật giáo Việt Nam
thường nhấn mạnh về quy chế tự trị của tôn giáo. Nền
tự trị đại học và tự trị tôn giáo là mô thức lý tưởng
trong một xã hội tự do dân chủ. Tuy nhiên, nội hàm tự trị
không có nghĩa là đứng độc lập bên ngoài xã hội. Hoa Kỳ
là quốc gia có quy chế tự do tín ngưỡng rộng rãi nhất
ở phương Tây. Thế nhưng mọi hệ phái tôn giáo đều phải
hội đủ 3 tính chất pháp lý cơ bản: (1) Giấy phép hoạt
động, (2) hồ sơ khai thuế và (3) tuân thủ quy chế an ninh.
Không rõ chính quyền và giáo quyền Việt Nam trong 30 năm qua
đã có cơ hội nào để phân tích và trao đổi về khái niệm
tự trị trong sinh hoạt tôn giáo hay chưa.
Lập
trường khó có cơ hóa giải: Nghĩa là chỉ có một thái độ
cứng rắn hoặc chống đối, hoặc ủng hộ đơn phương. Mặc
dầu người Phật tử nhận chân được rằng, bên cạnh thánh
tăng, cao tăng, danh tăng cũng có phàm tăng, ác tăng, kiêu tăng;
nhưng nói chung thì quý Thầy thuộc hàng cao tăng thạc đức,
cho dẫu độc lập hay nghiêng về một phía đều được giới
Phật tử nói chung kính ngưỡng như nhau. Trong những năm qua,
giới Phật tử đã bị mất niềm vui để trông chờ thông
điệp của quý Thầy lãnh đạo giáo hội vào dịp hai ngày
lễ lớn trong năm là Phật Đản và Vu Lan. Ngay cả thời kỳ
Phật giáo tranh đấu trong cảnh dầu sôi lửa bỏng năm 1963,
thông điệp của quý Thầy cũng không mang lời lẽ đanh thép,
nặng nề và nội dung thể hiện một tinh thần quyết đấu
thiếu sự khoan hòa như thế. Giới Phật tử xót xa hỏi nhau,
có chăng một cơ hội hóa giải sự xung đột giữa Giáo hội
PGVNTN và chính quyền?
Thông
tin hạn chế: Giới quan sát tình hình Phật giáo tại quê nhà
có một nhận định tương tự như nhau về mặt thông tin nội
bộ. Đó là hiện tượng quý tăng ni trong Giáo hội Phật giáo
Việt Nam và Phật giáo Việt Nam Thống nhất thiếu sự liên
lạc, tiếp cận để tìm chung một giải pháp trong việc xây
dựng một Giáo hội Phật giáo Việt Nam Hợp nhất. Một ngày
còn hai Giáo hội là một ngày Đạo Pháp còn bị phân hóa,
kéo theo tuổi trẻ Phật tử mất dần niềm tin vào thế hệ
huynh trưởng, quần chúng Phật tử mất chỗ dựa tinh thần
vào lý tưởng từ bi, hỷ xả, trí tuệ của chư lão tăng
ni.
Kết
luận
Đạo
Phật là đạo hóa giải những khúc mắc không phân biệt cho
hết thảy quần sanh. Kỷ niệm 30 năm ngày thống nhất đất
nước, vấn đề hòa hợp, hòa giải dân tộc được giới
chức có thẩm quyền nhắc đến. Mong rằng, tinh thần hòa
hiếu đó sẽ sớm đến với Phật giáo và chính quyền Việt
Nam.
www.trankiemdoan.net
Doantran@sbcglobal.net
MỤC
LỤC
TIN
TỨC VÀ HÌNH ẢNH