Cuộc
cách mạng thông hiện đại và cơ hội truyền bá của Phật
giáo
Cuộc
cách mạng thông tin lần thứ năm diễn ra vào thập niên cuối
của thế kỷ 20, đã đưa nhân loại đang tiến vào Kỷ nguyên
thông tin. Kỷ nguyên thông tin, theo các nhà nghiên cứu, sẽ
mở ra vào những thập niên đầu của thiên niên kỷ thứ
ba vào quãng năm 2010-2015. Trong kỷ nguyên thông tin, nhân loại
bước vào Kỷ nguyên mạng ảo.
Trong
Kỷ nguyên mạng ảo, đã mở ra một kỷ nguyên định hướng
vào mạng (Network - Centri Era). Trong kỷ nguyên này, có sự kết
nối mọi sự hoạt động của mọi người trên thế giới
với quy mô rộng khắp trên toàn cầu. Chỉ cần một máy tính
sách tay hay một chiếc điện thoại di động, là trong nháy
mắt có thể đàm thoại, gửi và nhận thông điệp từ hàng
tỷ người trên thế giới. Từ định hướng vào mạng, đã
tạo ra sự chuyển dịch như:
Từ
năng suất cá nhân cùng với tư tưởng của họ được chuyển
nhanh tức thời sang các cộng đồng ảo. Với khả năng này,
đã khắc phục những chướng ngại về thời gian, khoảng
cách và thậm chí các hàng rào cản trở về mặt tổ chức
giữa mọi người, sẽ dẫn đến tạo ra được vô số các
nhóm, các cộng đồng ảo và các cá nhân ảo có cùng mối
quan tâm, cùng mục đích và nhu cầu. Cộng đồng này sẽ tồn
tại và ngày càng lớn mạnh trong không gian mạng ảo đang
xuất hiện và trải khắp toàn cầu. Theo thời gian, ảnh hưởng
của những nhóm này tới hoạt động kinh doanh, nghệ thuật,
khoa học, chính trị, tôn giáo và các lĩnh vực xã hội khác
một cách sâu sắc..
Từ
ngành công nghiệp máy tính chuyển sang chuỗi giá trị của
ngành công nghệ tập hợp. Từ nay cho tới những thập niên
tiếp theo ngay sau đây, ngành công nghiệp máy tính, ngành viễn
thông, điện tử tiêu dùng và ngành công nghiệp đa phương
tiện truyền thông/ xuất bản như hiện nay sẽ hoà nhập vào
chuỗi giá trị của một ngành công nghiệp công nghệ thông
tin duy nhất ngày càng tăng. Thị trường các phần mềm, thiết
bị truyền phát và nội dung truyền phát sẽ được định
hình lại và có những thay đổi căn bản trong cơ cấu công
nghiệp. Điều này sẽ dẫn đến những ảnh hưởng sâu sắc
tới cuộc canh tranh trên tòan cầu.
Từ
sản phẩm mang tính toàn cầu chuyển trọng tâm sang các dịch
vụ có tính quốc gia (các dịch vụ trong nước) và có tính
nhóm cộng đồng cùng nhu cầu, cùng sở thích. Điều này sẽ
hỗ trợ mạnh mẽ những thay đổi về sức mạnh của các
nhóm, các tổ chức tạo lập- truền tin trên toàn cầu, các
chiến lược nghiên cứu nhu cầu và yêu cầu của người dùng
thông tin.
Hiện
nay, hàng ngày có khoảng trên dưới hai tỷ người đang truy
cập internet, đã hình thành nên thói quen “đi lại và giao
lưu” tức thời trên khắp thế giới. Thông qua các “môđem”,
hàng tỷ người ngồi trước máy tính để quan hệ, giao lưu
tinh thần, học tập, trao đổi các quan niệm, liên lạc với
nhau trên khắp thế giới một cách tích cực.
Với
những tiến bộ công nghệ chế tạo các bộ vi xử lý và
giá thành ngày càng hạ, các gia đình sẽ có thêm nhiều cơ
hội truy cập mạng interet để mở rộng tầm quan hệ, sự
hiểu biết, giải trí và khai thác các mặt tích cực của
mạng này thông qua các dịch vụ thông tin.
Với
những thành tựu có tính đột phá của cuộc cách mạng thông
tin lần thứ năm, sự vận động và phát triển của Phật
giáo nói chung có nhiều cơ hội tiếp cận với mọi người
trên khắp thế giới. Từ trước tới nay, so với các tôn
giáo lớn đang có trên thế giới, Phật giáo là tôn giáo tính
phổ quát còn rất thấp. Phật giáo chỉ có chủ yếu ở một
số quốc gia châu á, đúng hơn là khu vực Đông và Nam á.
Ngay tại ấn Độ, một quốc gia có số dân đứng hàng thứ
hai trên thế giới, nơi phát sinh ra đạo Phật, các tín đồ
Phật giáo chỉ đứng ở hàng thứ 6 với số lương không
đến 200.000 người. Từ những thập niên 80 thế kỷ 20, Phật
giáo có lan truyền tới một số nước phương Tây và Bắc
Mỹ. ở các nước Đông và Đông Nam á, không kể các nhà
tu hành, đạo Phật không có tín đồ, mọi người đến với
Phật giáo mang tính cơ hội, thường khi đã đến tuổi già.
Hầu như tầng lớp thanh thiếu niên rất mơ hồ với đạo
Phật. Trong khi đó, đạo Hồi và Thiên chúa giáo luôn duy trì
một số lượng tín đồ rất lớn. ở những tôn giáo này,
có gia đình, dòng họ tín đồ, tất cả mọi thành viên trong
gia đình theo đạo ngay từ nhỏ. Những người theo Hồi giáo
và Thiên chúa giáo, từ xưa tới nay, họ luôn luôn giữ kỷ
luật hành lễ hàng ngày từ tại gia đến các thiết chế
tôn giáo của họ. Những người theo đạo Phật (không kể
các nhà tu hành) thì không có hiện tượng này. Trong lịch
sử hình thành và phát triển của Thiên chúa giáo và Hồi
giáo luôn luôn diễn ra quá trình truyền đạo. Sự truyền
giáo diễn ra đặc biệt mạnh nhất đối với Thiên chúa giáo.
Nhiều bộ lạc, nhiều người ở châu Phi, châu Mỹ, châu á
thậm chí rời bỏ ngay tín ngưỡng bản địa của mình để
tín Chúa và hoà nhập vào cộng đồng nước Chúa chỉ mới
cách nay vài trăm năm. ở những khu vực địa lý như vậy,
đã hình thành nên một bản sắc văn hoá vượt ngoài giới
hạn của một quốc gia, đó là “gia đình Thiên chúa giáo”
và “gia đình Hồi giáo”. ở Phật giáo không có hiện tượng
văn hoá này. Như vậy, đối với Thiên chúa giáo và Hồi giáo,
đã diễn ra một quá trình truyền giáo mạnh mẽ liên tục
và họ đã thành công một cách bền vững.
Cũng
là một tín ngưỡng với tư cách là một hệ tư tưởng lớn
của nhân loại với một bề dày lịch sử hơn 2000 năm, Phật
giáo cũng có quá trình truyền giáo, nhưng hết sức mờ nhạt
và thụ động. Điều đó đã minh chứng sự hiện diện của
tôn giáo này trên thế giới như ngày nay. Sự truyền bá đạo
Phật vào một số người ở châu Âu, Bắc Mỹ…thường dưới
một phương tiện là hành thiền, một tông phái trừng tâm
trong nhiều tông phái khác của Phật giáo. Đã có thành công
trong cách truyền bá này, như việc làm của ngài Thích Nhất
Hạnh với “Thiền làng Mai”. Sự truyền đạo pháp này tuy
có thành công nhưng phạm vi ảnh hưởng còn hẹp tại châu
Âu, Bắc Mỹ. Nguyên nhân có thể do chưa có cơ sở lý luận
đích thực về đạo Phật, đạo Thiền. Đành rằng chủ đích
cuối cùng của Phật giáo là đạt đạo qua hành luyện tâm,
biến tâm (citta) động nơi mỗi cá nhân thành tâm bất động
– tức tâm không (Sũnyatà) dù trong khoảnh khắc. Nhưng để
có một thành công trên diện rộng trong quá trình truyền bá
đạo pháp của đạo Phật, việc dẫn truyền giáo lý đích
thực là điều kiện vừa cần và đủ.
Với
những thành tựu có tính đột phá của cuộc cach mạng thông
tin lần thứ 5 đang diễn ra như ngày nay, những quan điểm
trên bình diện lý thuyết có tính logic của đạo Phật có
thể tức thời xuyên qua biên giới, qua thời gian đến với
tất cả mọi người ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào. Với
trình độ nhận thức cao của nhân loại trong thời đại tri
thức ở cuối và đầu thế kỷ 21, cùng với sự tiếp
cận giáo lý có tính tri thức của Phật giáo liên tục và
sát cạnh qua mạng thông tin toàn cầu, hẳn chắc trong tương
lai, một bộ phận lớn của nhân loại có cách nhìn và thấu
triệt hơn đối với đạo Phật.
Những
vấn đề đặt ra
Phật
giáo là một tôn giáo tri thức, mặc dù chủ đích cuối cùng
của mỗi hành giả là hành luyện tâm để bạt nghiệp tiến
tới xoá nghiệp nơi mình. Để thấu triệt con đường hành
luyện tâm để đạt đạo tâm, trong thời đại tri thức,
người ta vẫn cần hiểu tới căn nguyên của quá trình hành
luyện này trước khi thực hiện. Do vậy, nhu cầu của bất
cứ ai khi tiếp cận đạo Phật là cần tới cái lý của vấn
đề hành luyện tâm.
Về
cái lý của vấn đề hành luyện tâm đã được gói trọn
trong Kinh Luật Luận hiện có của Phật giáo, nhưng nội dung
được viết ra cách nay hàng nghìn năm, với một hệ thống
khái niệm không đồng nhập với tư duy và nhận thức của
người hiện đại (nói cách khác làm cho rất nhiều người
khó hiểu, dù có trình độ tri thức cao). Cũng có những bậc
trí giả tâm huyết làm “dễ đi” nội dung giáo lý của
đạo Phật, nhưng càng chú giải, càng làm cho vấn đề phức
tạp lên (như nội dung có tính chú giải kinh Pháp Hoa qua cuốn
sách: Tư tưởng kinh Pháp Hoa/ Thích Chân Thiện. NXB, Tôn giáo;
1999). Nhiều tài liệu về đạo thiền và sách hướng dẫn
hành luyện được các trung tâm phật giáo ấn hành, như của
ngài Nhất Hạnh, lại đi vào mục đích ý nghĩa và hướng
độc giả vào ngay cách hành luyện là chính. Điều này làm
cho người ngoại đạo thấy vừa thông tục mà lại không
gây được ấn tượng hay cảm súc sâu xa gì cho họ. Ngay như
những tập tài liệu về thiền của tác giả Suzuki. D
nổi tiếng thế giới, như cuốn Thiền Luận, cho đến nay
tất cả mọi người đọc qua đều có cảm nhận chung là
hay nhưng khó hiểu! Như vậy cái chân lý của đạo Phật,
cho đến nay chưa được tạo ra “tính cụ thể ” lớn. Và
như vậy, giáo lý của đạo Phật vẫn còn xa xôi mờ mịt
với tất cả mọi người dù có ngay sát cạnh.
Cũng
có người biện minh cho hiện tượng trên bằng khái niệm
“tuỳ duyên” đối với ai đến với đạo Phật. Họ còn
tuyên ngôn, sự hành luyện tâm để đạt đạo là “kinh nghiệm
riêng tư, tự có thì tự biết, không thể san sẻ cái thấy
và cái biết cho người khác được”. Điều đó là chân
lý, song Thiên chúa giáo và Hồi giáo khi truyền đạo đâu
lấy cái “kinh nghiệm riêng tư” để làm điều kiện phổ
truyền hay không phổ truyền?
Từ
những vấn đề nêu trên, việc chuyển tải vốn tri thức
của đạo Phật trên mạng thông tin toàn cầu cho tất cả
mọi người có thể cảm thụ được thành vấn đề
cần phải bàn. Đây chính là thách thức rất lớn đối với
Phật giáo hiện nay đứng trước cuộc cách mạng thông tin
lần thứ 5.