Ảnh
hưởng tự nhiên có nguồn gốc từ mặt trời là một nguồn
vô tận đem lại cho con người sự thay đổi theo mùa trong
một năm và sự thay đổi ngày đêm trong 24 tiếng.
Ánh
sáng quan trọng cho mọi sinh vật, vì ngoài việc nó là một
nguồn năng lượng sưởi ấm trái đất nó còn có một vai
trò quan trọng cần thiết cho mọi hệ sinh thái như sau: qua
cường độ ánh sáng thực vật thực hiện quang hợp, tức
là chất diệp lục tố màu xanh của lá là một sắc tố hấp
thụ được tia đỏ của ánh sáng để đồng hóa CO2 và nước,
tạo hydratcarbon như đường glucose và tinh bột mà tất cả
sinh vật không có xanh không làm được. Vì vậy ta gọi thực
vật xanh là sinh vật sản xuất, tự dưỡng.
Trên
mặt đất ánh sáng phân bố với cường độ không đều,
càng lên cao, lớp không khí mỏng hơn nên ánh sáng càng nóng.
Do trái đất có hình cầu, có tia sáng chiếu thẳng góc đến
vùng xích đạo nên ánh sáng mạnh và có nhiều ánh sáng trực
xạ hơn vùng ôn đới, nên vùng xích đạo nóng hơn.
Khi
được truyền qua môi trường trong suốt và đồng tính, thì
ánh sáng truyền qua đường thẳng có hướng, gọi là tia sáng
hoặc năng lượng bức xạ. Tùy theo độ dài bước sáng đó,
ta có thể chia ánh sáng tự nhiên thành ba phần chính:
1)
Tia không nhìn thấy được.
2)
Tia tử ngọai có bước sóng ngắn (từ 10 – 380nm) độc cho
sinh vật.
3)
Tia hồng ngọai có bước sóng lớn hơn 780nm, chúng là những
tia đó, là ánh sáng nhìn thấy được.
Ánh
sáng nhìn thấy được gồm 7 tia có độ dài của sóng khác
nhau, từ 380 – 780nm và có màu sắc khác nhau (tím, chàm, xanh,
lục, vàng, cam, đỏ) là những màu của cầu vồng.
Tất
cả các tia hợp lại tạo ánh sáng trắng của mặt trời.
Ngòai
hiện tượng bốn mùa ánh sáng trắng còn có hiện tượng
ngày và đêm bởi vì trái đất quay xung quanh trục của nó
trong 24 giờ đồng hồ, có 12 giờ một khu vực nhận ánh sáng
tức là ngày, và một khỏang 12 giờ khu vực đó không được
chiếu sáng trực tiếp, tức là đêm. Ngày và đêm có ảnh
hưởng đến sự phát triển của sinh vật đó là nhịp điệu
ngày đêm hay đồng hồ sinh vật mà chúng ta đề cập đến
trong đề tài này. Nhịp ngày đêm kéo dài 24giờ từ lúc mặt
trời mọc. Đối với động vật có hệ thần kinh, nhịp ngày
đêm thể hiện qua các phản xạ, thí dụ: gà, chim sẻ, chuồn
chuồn hoạt động ban ngày và ngủ ban đêm, có nhóm hoạt
động ban đêm như dơi, cú. Có nhóm hoạt động cả ngày lẫn
đêm như cá, chuột, chồn. Phức tạp hơn như con sóc hoạt
động vào lúc hoàng hôn và thức dậy vào buổi chiều.
Như
vậy có nghĩa là nhịp điệu ngày đêm kéo dài 24 tiếng, từ
lúc có ánh sáng bình minh và kéo dài đến bình minh hôm sau.
Con
người tỉnh giấc lúc bình minh, bắt đầu hoạt động và
lúc hoàng hôn bắt đầu muốn nghỉ, và hoạt động như vậy
tùy theo ánh sáng của mùa và của vùng ta sống. Thí dụ: ngày
và đêm bên Mỹ trái ngược với Việt Nam, và mọi sinh vật
có nhịp điệu ngày đêm tùy theo nơi chúng sống.
Đối
với thực vật, ảnh hưởng điều này vẫn tồn tại khi sinh
vật sống hoàn toàn trong sáng hay hoàn toàn trong tối, nhưng
với một thời kỳ khác bởi 24giờ.
Trong
thí nghiệm có người tự giam mình trong một phòng đào sâu
3m dưới mặt đất, trong phòng chỉ có một bóng đèn và bà
cũng ghi nhận nhịp điệu ngủ và thức của bà là 26 tiếng.
Huyết áp cũng theo một nhịp điệu hoặc chu kỳ khác cũng
có nhịp điệu riêng.
Thực
vật là sinh vật không có hệ thần kinh nhưng cũng chịu ảnh
hưởng ngày đêm rất rõ, thí dụ: một amid đơn bào phân
chia đều khỏang cách đúng 24 tiếng.
Thực
vật cấp cao có khả năng trổ hoa để duy trì nòi giống,
thì ảnh hưởng của quang kỳ hiện rất rõ (quang kỳ là sự
xen kẽ giữa ngày và đêm) và có thể chia thành 3 nhóm:
a)
Cây ngày dài trổ hoa trong mùa có thời gian sáng dài, thời
gian tối ngắn (mùa hè, mùa xuân).
b)
Cây ngày ngắn trổ hoa trong mùa nào có thời gian sáng ngắn
(như mùa thu và mùa đông).
c)
Cây bất định, trổ hoa trong năm.
Quang
kỳ tác động đều đặn trên thực vật theo một nhịp điệu
24giờ.
Nhịp
ngày đêm được quan sát trước Công nguyên. Từ năm 1724 ông
Jean Jacques d’ ORTOUS DE MALRAN nhận thấy lá cây mắc cở (mimosa
pudica) xếp lại vào ban đêm và mở ra lúc ban ngày và ghi nhận
rằng nhịp điệu này cũng xảy ra trong tối hoàn toàn, và
như vậy ánh sáng không phải là yếu tố duy nhất tạo ra
phản ứng.
Tiếp
theo, ông LINNEUS ghi nhận rằng hoa cũng mở ra và khép lại
vào những thời điểm chuyên biệt, như hoa quỳnh và hoa dạ
lý hương nở vào đêm và hoa mười giờ nở lúc 10giờ sáng.
Một
thế kỷ sau, ông DE CANDOULLE ghi nhận rằng lá mimosa theo một
nhịp điệu 22-23giờ chứ không phải 24giờ.
Nghiên
cứu quan trọng do NORTHWICH và HENDRICKS cho thấy rằng cây ngày
ngắn được cảm ứng ra hoa mạnh nhất bởi tia đỏ tươi
R có độ dài sóng 560-640nm nhưng ảnh hưởng này bị mất
đi khi được chiếu tia đỏ xẩm FR có độ dài sóng 720 –
760nm trong vài phát với điều kiện là khỏang cách giữa hai
lần chiếu không vượt quá 2-3 phút. Nghiên cứu sâu về sự
đối nghịch giữa hai tia R và FR bởi Heller. Lance (1995) khám
phá ra rằng trong thực vật có một sắc tố thâu nhận đỏ
gọi là phytochrome hiện hữu ở hai trạng thái Pr và Pfr –
Pfr kích thích ra hoa cây ngày dài và cản ra hoa cây ngày ngắn
và tác động ngược lại trên hai lọai cây này khi có gián
đoạn đêm bằng một tia sáng, tạo sự chuyển Pr thành Pfr
và trạng thái Pr là trạng thái bất hoạt.
Cạnh
phytochrome là sắc tố màu thâu tia đỏ, còn tia lơ được
sắc tố cryptochrome hấp thụ, tia UV. Các sắc tố màu nầy
được nhận rõ nhờ tìm được các gen mã hóa chúng. Ngòai
hai sắc tố phytochrome và cryptochrome, còn tìm được sắc tố
màu thâu các tia sáng khác nhưng chưa được công bố.
Các
sắc tố nầy giúp gì? Đo quang kỳ dài hay ngắn? Nhà khoa học
nêu giả thuyết về một đồng hồ sinh học và làm thí nghiệm
sau: đặt một cây ngày ngắn trong tối liên tục 72giờ và
được chiếu một tia đỏ 4 phút đều đặng, kết quả cho
thấy cây ngày ngắn trổ hoa nhiều nếu được chiếu đều
khỏang cách 24 giờ. Sự ra hoa của cây tùy thuộc vào sự
chênh lệch giữa thời gian sáng bên ngòai và nhịp nội sinh
bên trong, ảnh hưởng bên ngòai là do thay đổi mùa, còn ảnh
hưởng nội sinh là do sự nhạy cảm bên trong, tức đồng
hồ sinh học.
Cho
đến năm 2005, nhà sinh học biết thêm là phytochrome nằm trong
tế bào chất trong nhân và tiền lạp thể. Và nêu ra một
sơ đồ giả thuyết của đồng hồ sinh học như sau:
1)
Ánh sáng được tiếp nhận bởi phytochrome và crytochrome.
2)
Tín hiệu ánh sáng (phức hợp nhận ánh sáng hay sản phẩm
của chúng) được chuyển tới và hoạt hóa (mở các gen) đồng
hồ sinh học. Các gen nầy đến lượt hoạt hóa các gen CO.
3)
Gen CO hoạt động hóa các gen điều hòa thời điểm ra hoa
và do đó khởi phát sự tượng hoa.
Các
cơ chế còn chưa tìm được. Từ các kết quả khảo cứu
khoa học trên, tôi có thái độ sau. Là một nhà sinh học tôi
nghĩ rằng:
a)
Các nhà nghiên cứu chuyên về khoa học thực nghiệm luôn luôn
cố gắn đào sâu hơn nữa, nhưng nhìn lại các phương pháp
khoa học thực nghiệm đều dựa vào kết quả của cân đo
đong đếm là những gì mà các giác quan cho, thí dụ những
màu sắc do mắt thâu nhận có đúng hay không? Bởi vì nhản
cầu truyền được hình ảnh đến điểm vàng của võng mạt.
Từ điểm vàng cảm giác sẽ được dẫn đến hệ thần kinh
thị giác ở não và ta có sự đối chiếu, so sánh các đối
tượng đẹp xấu, lớn nhỏ mà có ưa thích hay không. Như
vậy mắt có chức năng tạo ra một tín hiệu thần kinh, đưa
lên não là nơi xảy ra quá trình nhận thức, phân biệt các
cảnh sắc của con người. Nếu một phần của hệ thống
bị hỏng thì ta không ghi nhận được sắc cảnh đúng. Thí
dụ: điểm vàng bị thương thì ta không ghi nhận được màu
sắc. Thêm nữa ta chỉ thực sự nhìn thấy và phân biệt được
khi mắt chúng ta kết hợp với ý thức tức là nhận thức
cộng với ý thức tâm mới thành cảm giác hình ảnh đẹp
xấu của vật. Lúc đó có sự phân biệt hình dáng vuông,
tròn, cao, thấp, đẹp xấu và phân biệt màu sắc xanh đỏ
hồng tím, từ đó khởi lên tâm tham, mê, ưa thích và bị
lôi cuốn. Nếu ta nhận thức được cảnh sắc đều giả
hợp thì khoa học thực nghiệm không cho ta một bóng dáng nào.
Và một hình dáng, màu sắc đều hiện hữu tương đối mà
thôi, chứ không tuyệt đối để ta hoàn toàn tin tưởng.
b)
Còn biết bao điều mà khoa học thực nghiệm chưa giải thích
được. Ví dụ, tại sao trái đất quay quanh trục của nó
với vận tốc 1600km một giờ ở đường xích đạo, nếu
nó quay chậm 10 lần thì ngày sẽ dài gấp 10 lần và sức
nóng mặt trời cũng tăng mười lần, thì sinh vật đều bị
thiêu đốt hết và nếu đêm ngắn hơn 10 lần và lạnh
hơn 10 lần thì sinh vật sẽ chết lạnh hết.
Mặt
trời nóng đến 5500oC, quả địa cầu đứng ở một vị trí
không quá xa mà cũng không quá gần, vừa vặn đủ để đón
nhận sức nóng đó: không quá xa để ta chết lạnh và không
quá gần để ta chết nóng.
Trục
trái đất nghiêng theo một độ là 23o, nếu trái đất đứng
thẳng không nghiêng theo bên nào thì sẽ không có thời tiết
bốn mùa.
Nếu
ta nhìn đến sinh vật như con lươn biển, tại sao chúng phải
rời những ao, hồ, sông lạch khắp nơi trên thế giới rồi
bơi xa cả mấy nghìn cây số để đến quần đảo nơi chúng
được sinh sản ra, để đẻ và chết.
Khoa
học thực nghiệm chưa giải thích được nguyên nhân của
ba thí dụ trên. Và chúng ta cũng chưa biết lúc nào sự sống
kết thúc và chết bắt đầu: một con chim đang bay đâm đầu
vào kiếng ôtô và chết, cơ thể chim giống như nhau vài giờ
trước và sau phút đó. Ta chỉ biết rằng chim tắt thở thôi.
Một
rể cây non có thể xuyên qua một tảng đá, một giọt nguyên
sinh có thể cử động. Nó chứa hết mầm sống của muôn
loài. Nhưng sự sống đó bắt nguồn từ đâu?
Không
có tự tánh cố định nên biến chuyển vô thường, và trong
khỏanh khắc 0,25giây Pr đã biến thàn Pfr hay ngược lại nếu
gặp tia đỏ thích hợp.
Nhờ
cái nhìn hiện hữu là mong manh vô thường nên con người làm
lắng diệu dục vọng đến khi đập nó hoàn toàn thì môi
trường mới được cân bằng.
c)
Tất cả sinh vật từ vi sinh, nấm mốc, tảo, cây cối, thú
vật và con người đều bình đẳng, đồng cùng thụ hưởng
ánh sáng, không khí nước mưa như nhau, đồng đáp lại theo
nhịp điệu sinh học như nhau.
Ánh
sáng mặt trời bao la như trí tuệ của Phật, vô tận được
phóng ra và không bao giờ thâu lại, đều được phân bố
đồng đều cho mọi sinh vật không phân biệt đối xử.
Theo
đức Phật, con người là một tổng thể sắc và tâm. Sắc
biểu hiện phương diện vật lý, tâm tượng trưng cho tâm
lý cho nên con người luôn liên hệ mật thiết với môi trường
xung quanh, và các nhà nghiên cứu xã hội học giải thích hành
vi của con người đều có sự tác động lớn của khí hậu.
Như vậy, con người cùng với môi trường cùng tạo một hệ
sinh thái, và con người không thể hiện hữu và tồn tại
được nếu không có môi sinh. Nếu môi sinh hay thiên nhiên
bị ô nhiễm trầm trọng thì đời sống của con người tức
khắc bị hủy diệt. Nếu con người hiểu Duyên Khởi thì
con người sẽ tự nguyện bảo vệ môi sinh khỏi ô nhiễm.
Và dĩ nhiên phải kìm hảm lòng tham và dục vọng của mình
và yêu thương nhau.
d)
Con người là một hệ sinh thái.
Cơ
thể con người là cả một hệ thống tự điều chỉnh cực
kì tinh vi gồm các hệ, kênh dẫn thần kinh, nội tiết, miễn
dịch. Hai mối quan hệ giữa các cơ quan bên trong và giữa
cơ thể với nhau bên ngòai, tương tác, hổ trợ lẫn nhau.
Hệ
sinh thái người có cấu trúc giống như hệ sinh thái tự nhiên,
và có thể hiểu rằng con người là một tiểu vũ trụ nằm
trong đại vũ trụ. Nếu môi trường con người mất đi sự
cân bằng sẽ dẫn đến môi trường bên ngòai cũng mất cân
bằng không ổn định. Đặc biệt quan trọng là hệ thần
kinh và não con người được phát triển cao hơn các loài vật,
cho nên cần phải biết điều khiển nó với trí tuệ của
một Phật tử.
KẾT
LUẬN
Từ
những ý nghĩ trên, tôi đề nghị các nhà nghiên cứu khoa
học thực nghiệm phải nghiêm túc, hoàn toàn tin tường và
bám vào Duyên Khởi thay vì mong vào những phương pháp hoặc
phương tiện cao siêu không bao giờ có được.