THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả
.
 

 

HƯƠNG TRÌNH HỘI THẢO 
PHẬT GIÁO TRONG THỜI ĐẠI MỚI
CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC
Do Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức
Phật giáo: Thời đại mới
Trần Văn Kha, Hoa Kỳ
I.- THỜI ĐẠI MỚI.

1.1. Mở Đầu

Theo tử vi Tây phương, một năm có 12 biểu tượng là: Miên dương (Bélier tiếng Pháp, Aries tiếng Anh) sinh từ 21-3 đến 19-4;

Kim ngưu (Taureau, Taurus) 20-4 đến 20-5;

Song nam (Gémeaux, Gemini) 21-5 đến 20-6;

Bắc giải (Cancer, Cancer) 21-6 đến 22-7;

Hải sư (Lion, Leo) 23-7 đến 22-8;

Xử nữ (Vierge, Virgo) 23-8 đến 22-9;

Thiên xứng (Balance, Libra) 23-9 đến 22-10;

Hổ cáp (Scorpion, Scorpio) 23-10 đến 21-11;

Nhân mã (Sagittaire, Sagittarius) 22-11 đến 21-12;

Nam dương (Capricorne, Capricorn) 22-12 đến 19-1;

Bảo bình (Verseau, Aquarius) 20-1 đến 18-2;

Song ngư (Poissons, Pisces) 19-2 đến 20-3.

Theo chiêm tinh, vòng hoàng đạo cũng mang 12 tên như trên, và mỗi một biểu tượng được gọi là một Thời Đại. Cứ mỗi khi hết một năm, chúng ta có một năm mới. Và giống y như thế, cứ mỗi khi hết một Thời Đại mà các nhà chiêm tinh bảo là lâu khoảng 2.000 năm, chúng ta có một Thời Đại Mới. Thời Đại sắp qua đi là Thời Đại “Song Ngư”, biểu tượng của đạo Ki-tô, một thời đại đen tôí, với chiến tranh và xung đột (wars and conflicts). Thời Đại sắp tới, với biểu tượng “Bảo Bình”, là thời đại của hòa hợp, công bằng và hoà bình (harmony, justice and peace). Xin lưu ý quí độc giả là vòng hoàng đạo di chuyển theo chiều ngược. Sau Song ngư là Bảo bình và sau Bảo bình là Nam duơng. Xin đừng chú ý tới ngày tháng để đoán tử vi.

Biến chuyển là một định luật của tạo hóa. Không có cái gì không biến chuyển. Con người của chúng ta cũng biến chuyển không ngừng. Cứ mỗi ngày con người chúng ta lại đổi khác. Khi tuổi đời càng cao, thì biến chuyển càng mau. Thời gian của người cao tuổi đi mau hơn thời gian của người trẻ. Trước năm 1975, tôi thấy thời gian qua đi rất chậm, ngày dài hơn, tháng dài hơn, năm dài hơn. Nhưng thời gian kể từ ngày di cư sang Mỹ đi mau hơn. Vừa mới đó mà đã ở Mỹ được 31 năm. Nhìn tấm ảnh đứa cháu mới sinh được một năm mà tôi bế trong tay, với đứa cháu bây giờ đang học đại học, và chỉ trong vài năm nữa là lấy vợ, đẻ con, tôi giật mình thấy thời gian đi mau quá. Và chẳng bao lâu nữa, có thể chỉ trong vài năm thôi, tôi không còn ở cái thế giới có nắng vàng một đôi khi trong vắt như thuỷ tinh, với nền trời cao mây trắng, mà khi nhìn lên tôi thấy những hàng cây xanh in đậm nét trên đó. Trong không khí yên tĩnh, tôi cảm thấy đời thật đẹp, đẹp như bông hồng vừa chớm nở, nhưng tại sao tôi lại phải chết, mọi người đều phải chết? Tôi nghĩ rằng nếu mọi thứ đều biến chuyển theo hình vòng tròn, sinh rồi tử, tử để rồi lại sinh, thì tôi đâu có chết. Chết chỉ là một sự đổi thay. Tôi sẽ tái sinh làm một người mới, mà Phật Giáo bảo không giống trước, nhưng cũng không khác. Có mâu thuẫn không? Cứ hết một năm, ta có một mùa xuân mới. Mùa xuân năm nay hoàn toàn khác với mùa xuân năm trước, nhưng cũng không khác. Mùa xuân nào chả là mùa xuân.

Trước khi trình bày khả năng đóng góp của Phật Giáo trong Thời Đại Mới, xin nói về “Thời Đại Mới”. Và để tránh những xuyên tạc cho rằng chúng tôi có dụng ý gây chia rẽ tôn giáo, chúng tôi xin thưa, “Thời Đại Mới” là một phong trào rất phổ biến ở các nước Tây phương mà chúng ta cần biết. Chúng ta không thể không biết đến ảnh hưởng của “Thời Đại Mới” đối với thế giới nó như thế nào. Nếu nghĩ rằng những tư tưởng mới ấy có hại cho niềm tin tôn giáo, chúng ta lo sợ, rồi cứ bịt mắt, bịt tai trước những biến đổi tư duy của thế giới, thì chúng ta sẽ trở nên lạc hậu, lỗi thời. Tư duy của chúng ta cần được hiện đại hóa. Cái gì đúng ta theo, cái gì sai thì gạt bỏ, hoặc tìm cách vạch ra những sai trái của nó. Cái gì sai, có tính cách mê tín dị đoan, gây chia rẽ dân tộc, thì lại càng phải gạt bỏ. Tuy nhiên chúng tôi cũng viết rất dè đặt, không thẳng thắn phê bình như ở Mỹ. Kèm theo bản dịch tiếng Việt, chúng tôi cố gắng đánh máy nguyên văn tiếng Anh, hay Pháp, để tiện so sánh. 

Thời Đại Mới là gì? Chúng tôi đã viết khá dài về đề tài này trong hai quyển sách của chúng tôi, nhan đề “Thời Đại Mới”, một quyển phát hành năm 1992 và một quyển năm 2004. Sau đây là bản tóm tắt một số ý kiến trong các sách đó. “Thời Đại Mới” là một phong trào phiên dịch từ chữ “New Age” (Nouvel Âge, tiếng Pháp). Phong trào này không những đã lan ra toàn thể nước Mỹ, mà còn đang phát triển sang các nước ở Âu-châu, trong đó có Thụy-điển, Đan-mạch, Đức, Pháp, Anh, và cả ở Nga nữa. Phong trào này làm cho Tòa thánh Vatican lo ngại, và cách đây vài năm một linh mục người Pháp, Jean Vernette, cai quản giáo phận Montauban, và cũng là người đại diện cho Giáo hội Ca-tô Pháp, để nghiên cứu, và lên tiếng về các vấn đề giáo phái, đã phải viết cả một quyển sách nhan đề “Thời Đại Mới” (Le Nouvel Âge) để bênh vực Giáo hội Ca-tô, mà theo lời những người chủ trương “New Age”, sẽ phải cáo chung vào thế kỷ XXI.

Đầu đề của bài phỏng vấn trong Paris Match số 2152, ra ngày 23/8/1990, là “La Réincarnation, Non!” (Tái sinh, Không!). Xin quý độc giả phận biệt “Réincarnation” Tái sinh, với “Résurrection” Sống lại (Phục sinh). “Tái sinh” là chết rồi đi đầu thai làm người trở lại. “Sống lại” là chết rồi sống lại trong thân xác cũ. Tỉ dụ như huyền thoại Chúa Jesus chết đi 3 ngày rồi sống lại? Và huyền thoại, đến ngày tận thế Chúa Jesus sẽ làm cho tất cả người chết sống lại, với thân xác cũ. 

1.2. Trích Bài Phỏng Vấn. 

“Phong trào Thời Đại Mới là một trong những cách biểu lộ sự trở về với tôn giáo được thấy bên Tây phương. Từ California nó lan ra toàn thể nước Mỹ, rồi Âu-châu. Nó là một sự tổng hợp tất cả những tín ngưỡng bí truyền phát triển bên lề các tôn giáo. Sự tìm tòi tâm linh ấy đưa tới những khúc rẽ có thể làm cho người ki-tô đi lạc đường. Đó là trường hợp của những học thuyết tân tiến về tái sinh, một vấn đề ưa thích của những người theo Thời Đại Mới. Để chống lại những sự đi lạc đường như thế mà Jean Vernette, cha sở tổng quát của Montauban và là đại diện các giám mục Pháp về những vấn đề liên quan tới giáo phái, phải lên tiếng trong quyển sách của người “Thời Đại Mới. Vào lúc bình minh của Thời Đại Bảo Bình” (Nhà xuất bản Pierre Téqui). Người nói rõ những lý do lên án trong cuộc nói chuyện với Michel Leclercq”. (Le mouvement New Age est l’une des expressions du retour du religieux qui se manifeste en Occident. De Californie il a gagné l’ensemble des Etats-Unis, puis l’Europe. C’est un amalgame des toutes les croyances ésotériques qui se sont développées en marge des religions. Cette quête spirituelle aboutit à des déviations qui peuvent égarer les chrétiens. Il en est ainsi des théories modernes de la réincarnation, gadget favori des tenants du New Age. C’est contre ces déviations que s’élève aujourd’hui le père Jean Vernette, vicaire général de Montauban et délégué de l’épiscopat francais pour les questions concernant les sectes, dans son livre “Le Nouvel Age. A l’aube de l’ère du Verseau” ‘Pierre Téqui éd.’. Il précise les raisons de sa condamnation dans cette interview avec Michel Leclercq).

Sau đây là một số câu hỏi của Michel Leclercq và câu trả lời của linh mục Jean Vernette đăng trên báo Paris Match, số 2152 ra ngày 23/8/1990, đã nói đến ở trên. (Trích ra từ sách “Thời Đại Mới 1992”, và “2004”). (Trước khi đi xa hơn, chúng tôi xin mở một dấu ngoặc để định nghĩa một số danh từ. Ca-tô Rô-ma (viết tắt là Ca-tô) là phiên âm từ chữ Roman Catholic, Ki-tô là từ chữ Christianisme, và gồm có Anh giáo, Ca-tô Rô-ma, Chính thống giáo, và Tin lành).

- Paris Match (P.M.). Đúng ra thì Thời Đại Mới là gì? (En quoi consiste exactement le New Age?)

- Jean Vernette (J.V.). Việc định nghĩa không phải dễ dàng, bởi vì nó giống như một dòng sông có hàng chục phong trào khác nhau cùng đổ vào, tỉ dụ như trực quan, những học thuyết và kỹ thuật đông phương, những truyền thống song đôi và tất cả mọi hình thức huyền bí. Rất nhiều người thấy thoải mái trong dòng sông ấy. Mỗi người lựa chọn cái mà mình ưa thích, không cảm thấy bị đóng kín trong cái khung ít nhiều gì cũng cứng ngắc của một tôn giáo có tổ chức. Điều quan trọng là sự tìm hiểu tâm linh, tìm kiếm một kinh nghiệm tôn giáo cá nhân và trực tiếp, điều này hoàn toàn phù hợp với mong ước của đa số những người của thời đại chúng ta. Khi người ta nhắc lại bằng đủ mọi cách là Thế kỷ XXI sẽ rất sùng đạo, thì điều đáng sợ là họ ngã về một thứ tôn giáo kiểu New Age chứ không phải Ki-tô! (Il n’est pas facile de le définir, car c’est comme un fleuve dans lequel sont venus confluer des dizaines d’autres mouvements, comme la gnose, le recours aux doctrines et techniques orientales, les traditions parallèles et toutes les formes d’ésotérisme. Beaucoup se sentent à l’aise dans ce fleuve. Chacun y prend ce qui lui convient, sans se sentir enfermé dans le cadre plus ou moins rigide d’une religion organisée. L’important, c’est la quête spirituelle, la recherche d’une expérience religieuse personnelle et directe, ce qui correspond tout à fait aux aspirations de la plupart de nos contemporains. Quand on répète sur tous les tons que le XXIè siècle sera religieux, il est donc à craindre qu’il penche beaucoup plus vers une religiosité du style New Age que le Chirstianisme).

P.M. Cha nghĩ như thế nào về cái tôn giáo “kiểu New Age”? (Qu’entendez-vous par cette religiosité “style New Age?)

J.V. Tôi nhìn thấy họ có chung một quan niệm, cái quan niệm cho rằng những tôn giáo hiện hữu đã bị vượt qua. Đối với New Age, mỗi người tự tạo lấy tôn giáo riêng cho mình, bằng cách lấy trong tôn giáo tuổi thơ ấu của mình những cái gì thích hợp, nhưng cũng đồng thời lấy luôn những cái tốt của các môn phái khác, cộng thêm những điều rút ra từ kinh nghiệm bản thân. Ngoài ra New Age còn tin vào chiêm tinh. Họ bảo rằng, vào mỗi một thời đại của vòng Hoàng đạo, có một nền văn minh phù hợp. Từ khi Chúa giáng sinh, chúng ta sống trong thời đại Song Ngư, và đó là thời đại của văn minh Ki-tô. Nhưng bây giờ chúng ta đang đi không ngừng nghỉ tới thời đại “Bảo Bình”, với sự chấm dứt đạo Ki-tô và sự ra đời một nền văn minh hòa hợp, hòa bình, và thống nhất toàn thể: một thời vàng son đích thực. Tuy nhiên, theo đúng chiêm tinh, Mặt trời chỉ đi vào chùm sao Bảo Bình vào năm 2160! (J’y vois en toile de fond l’idée que les religions établies sont maintenant dépassées. Pour le New Age, chaque être humain doit se fabriquer sa propre religion, en prenant ce qui lui convient dans la religion de son enfance, mais aussi en allant puiser dans tous les systèmes, et en y joignant ce qu’il retire de son experience personnelle. En outre, le New Age fait appel à l’Astronomie. A chaque ère zodiacale nous dit-on, correspond une civilisation. Depuis la naissance de Jésus, nous vivions dans l’ère des Poissons, qui a été celle de la civilisation chrétienne. Mais voici que nous allons entrer incessamment dans l’ère du Verseau, qui verra l’extinction du chiristianisme et l’avènement d’une civilisation d’harmonie, de paix et d’unité universelles: un véritable âge d’or. Et pourtant en bonne astronomie, le Soleil ne devrait entrer dans la constellation du Verseau qu’en l’an 2160!).

P.M. Tôi hiểu tại sao, trong sách của cha, cha trình bày Thời Đại Mới như là một thách đố lớn cho các Giáo hội Ki-tô. Như thế phải chăng có nghĩa là cha đã đồng ý với những người mà họ trông thấy ở đó một âm mưu của những thế lực Xấu, hay của cả công trình chống Ki-tô? (Je comprends pourquoi, dans votre livre, vous présentez le Nouvel Âge, ou New Age, comme un grand défi lancé aux Églises chrétiennes. Est-ce à dire que vous êtes d’accord avec ceux qui y voient une conspiration des forces du Mal, ou même l’oeuvre de l’Antéchrist?)

J.V. Vấn đề không phải ở đó. Có rất nhiều điều tốt trong những cơ sở được xây dựng theo quan điểm Thời Đại Mới, và sự thay đổi căn bản mà nó gây ra cho một số người không thể là việc làm của ma quỷ. Người ta còn có thể mơ ước một thời đại mới ki-tô! Điều đáng buồn là những “đứa con Bảo Bình”, như chính họ gọi họ như thế, lại thường thường đi tìm cảm hứng tôn giáo trong những chủ thuyết đông phương, chứ không phải Ki-tô. Việc này dẫn tới việc họ công khai chấp nhận một vài điều tin hoàn toàn không phù hợp với đúc tin Ki-tô. (Le problème n’est pas là. Il y a beaucoup de bonnes choses dans les entreprises inspirées par le New Age, et la transformation radicale qu’il provoque chez certaines personnes ne peut être l’oeuvre du démon! L’ennui, c’est que les “enfants du Verseau” comme ils s’appellent eux-mêmes, soient allés chercher, le plus souvent, leus inspirations religieuses dans les doctrines orientales plutôt que dans le Christianisme. Et cela les amène à professer certaines croyances qui sont radicalement incompatibles avec la foi chrétienne).

P.M. Tỉ dụ? (Par exemple?)

J.V. Sự tái sinh. Đây là một quan niệm căn bản của những tôn giáo lớn Đông phương, cũng như cuả tôn giáo bí truyền (Mật tông?) mà những người theo New Age đều gần như hầu hết chấp nhận một cách vui vẻ. Ngay như ở nước Pháp, ông biết rằng bất cứ cái gì liên quan tới vấn đề đó đều gây ra một sự tò mò lớn. Những sách viết về nó bán chạy như tôm tươi. Theo như một số thăm dò, hơn 20% đồng bào của chúng ta, kể cả nhiều tín đồ Ca-tô, tin vào sự tái sinh! Một lý do tốt nữa để làm cho “Thời Đại Mới” được cảm tình của rất nhiều người.

Nhưng cũng phải thú nhận rằng quan niệm ấy rất hấp dẫn. Thử xét xem: con người không thể thực hiện đầy đủ số phận mình trong một đoạn đường. Anh ta cần có, một hay nhiều cơ hội. Để cho con người có thể ý thức được bản chất thánh thiện của mình và thoát ra khỏi cái vỏ vật chất bên ngoài, linh hồn phải có thể được tái sinh, cần bao nhiêu lần thì tái sinh từng ấy. Và những điều đã thâu góp được – tốt hay xấu – của những kiếp trước không bao giờ mất đi. Đó là luật nhân quả. Như thế thì đời sống hiện tại là kết quả trực tiếp của những việc làm, tốt hay xấu, của chúng ta trong những kiếp trước: mỗi người phải trả nợ cho đến đồng xu cuối cùng!

Ông thấy không, học thuyết này đề nghị, để giải đáp cho những câu hỏi mà người ta đặt ra về sự hiện hữu của điều xấu và sự đau khổ trên thế giới, một câu trả lời thỏa mãn cho tâm linh. Tại sao có nhiều người đau khổ? Đó là nhân quả! Nhưng những người đau khổ ấy không nên thất vọng, bởi vì, sau khi đã trả hết nợ, họ lại tìm thấy, cho chính họ, hạnh phúc... Nhưng người ta không thể tin vào tái sinh và vẫn còn là ki-tô. Đối với người ki-tô, tuy nhiên, sự chết đã hoàn toàn bị chinh phục bởi Christ trong “Khổ nạn-Sống lại” của Người. Người đã giải thoát chúng ta khỏi sự chết. Người giúp cho chúng ta thoát khỏi cái luật cứng ngắc của nhân quả nó bắt chúng ta phải trả nợ “cho đến đồng xu cuối cùng”. Và chính bởi Người mà chúng ta được bảo đảm sống lại vào một ngày nào đó. (Chúng tôi xin mở một dấu ngoặc để nhận định rằng, hễ có sinh thì có tử, không có cái gì thoát khỏi chết, không có ai sống lại cả. Nhưng để bác bỏ những kinh nghiệm về tái sinh, linh mục Jean Vernette ở đoạn sau nhận định, “những kinh nghiệm đó không làm cho sự tái sinh trở thành một sự kiện khoa học hiển nhiên”. Nhưng than ôi! Chỉ trích người mà không nghĩ đến mình! Sống lại thì sao? Có ai sống lại không? Sống lại có là một sự kiện khoa học hiển nhiên không?)

(La réincarnation. Voilà un thème, fondamental pour les grandes religions orientales comme pour l’ésotérisme, que les partisans du Nouvel Âge (New Age) ont presque tous adopté avec enthousiasme. En France même, vous savez que tout ce qui touche à ce sujet suscite une énorme curosité. Les livres qui en traitent se vendent comme des petits pains. D’après certains sondages, plus de 20% de nos compatriotes, y compris nombre de catholiques, croiraient en la réincarnation! Une bonne raison de plus pour rendre le Nouvel Âge sympathique à beaucoup de gens.

Il faut bien avouer que l’idée est séduisante. Jugez plutôt: l’homme ne peut pas réaliser pleinement son destin en un seul parcours. Il a besoin qu’on lui donne une ou plusieurs autres chances. Pour lui permettre de prendre conscience de sa véritable nature divine et de se libérer des apparences matérielles, notre âme doit pouvoir se réincarner autant de fois qu’il sera nécessaire.

Et l’acquis – positif ou négatif – des vies antérieures n’est jamais perdu. C’est la loi du karma. Ainsi, notre vie actuelle serait le résultat direct des actions, bonnes ou mauvaises, posées par nous au cours de nos vies antérieures: chacun doit payer sa dette jusqu’au dernier sou!

Vous le voyez, cette doctrine propose, pour répondre aux questions qu’on se pose sur l’existence du mal et de la souffrance dans le monde, une réponse satisfaisante pour l’esprit. Pourquoi y a-t-il tant de malheureux? C’est le karma! Mais ces malheureux ne doivent pas désespérer, car, lorsqu’ils auront payé leur dette, ils trouveront, eux aussi, le bonheur... Mais on ne peut pas croire à la réincarnation et rester chrétien. Pour le chrétien, en effet, la mort a été définitivement vaincue par le Christ en sa Passion-Résurrection. Il nous a délivrés de la mort. Il nous a fait échapper à la rigide loi du karma qui nous imposerait de payer cette dette “jusqu’au dernier sou”. Et c’est en Lui que nous sommes assurés de ressusciter un jour).

P.M. Như vậy thì vì lý do đức tin ki-tô của cha mà cha từ chối sự tái sinh. Nhưng, người ta phản đối lại cha, cho rằng sự tái sinh là một sự kiện khách quan, được kiểm chứng một cách khoa học bởi hàng ngàn kinh nghiệm giống nhau, vậy cha trả lời ra sao? (C’est donc en raison de votre foi chrétienne que vous refusez la réincarnation. Mais, si on vous objecte que la réincarnation est aujourd’hui un fait objecif, scientifiquement établi par des milliers d’expériences concordantes, que répondez-vous?)

J.V. Tôi trả lời rằng hàng ngàn những kinh nghiệm giống nhau, như ông nói, đặt ra những thắc mắc mạnh mẽ. Nhưng những kinh nghiệm đó không làm cho sự tái sinh trở thành một sự kiện khoa học hiển nhiên... (Je réponds que ces milliers d’expériences concordantes, comme vous le dites, posent effectivement de fortes questions. Mais qu’elles ne font pas pour autant de la réincarnation un fait scientifiquement établi). 

Đối với Thời Đại Mới, toàn thể vũ trụ – kể cả Gốt – đều được tạo ra bởi cùng một chất liệu. Con người, với cái khả năng độc nhất ấy, ý thức, được đặc biệt coi như một tia sáng của chất liệu thần thánh. Như thế thì đối với con người, con đường thẳng nhất để tìm gặp Gốt là tìm tới đáy tâm của mình. Và vì thế tất cả những kỹ thuật thiền, mở rộng ý thức, được Thời Đại Mới hết sức hoan nghênh. Chính là nhờ những thứ đó, mà đã có sự đồng ý rằng, mỗi một con người chúng ta đều có thể gặp ý thức vũ trụ, nghĩa là Gốt. (Quan niệm này đúng là quan niệm của Phật Giáo, Tâm tức Phật. Và người ta chỉ có thể tìm thấy Phật trong Tâm, chứ không ngoài Tâm, bằng thiền định. T.v.K).

Chúng ta phải nên lưu ý những người theo đạo Ca-tô tới một sự việc, là với quan niệm ấy, Gốt mà chúng ta tin tưởng đã hoàn toàn bị bôi xóa mặt mũi. Bởi vì đối với chúng ta, Gốt không thuộc thành phần do Gốt sáng tạo ra. Gốt hoàn toàn khác biệt, một thực thể vượt hẳn lên trên bởi bản chất.

Dĩ nhiên rằng, Gốt New Age không thể nào là ki-tô”.

(... Pour le New Age, l’univers tout entier – Dieu compris – est taillé dans la même étoffe. L’homme, doué de cette faculté unique qu’est la conscience, est considéré tout particulièrement comme une étincelle de la substance divine. Il en résulte que, pour lui, la voie la plus directe pour rencontrer Dieu consiste à descendre au fond de lui-même. Et voilà pourquoi toutes les techniques de méditation, d’élargissement de la conscience, sont tenues en si grande estime dans le New Age: grace à elles, en effet, il est entendu que chacun de nous peut rencontrer la conscience cosmique, et donc Dieu lui-même.

Il faut que l’attention des chrétiens soit bien attirée sur le fait que, dans ce système, le Dieu en qui nous croyons est totalement défiguré. Car pour nous, Dieu ne fait pas partie de l’univers qu’il a crée. Il est le Tout Autre, l’Être transcendant par nature.

En fait le Dieu du New Age ne peut être chrétien).

P.M. Cha cũng nói đến, trong sách của cha, ảnh hưởng của những cuộc du hành không gian. (Vous parlez aussi, dans votre livre, de l’influence des expéditions spatiales),

J.V. Thực thế. Với sự thám hiểm vũ trụ, quan niệm về Trái Đất của chúng ta đã thay đổi. Nhìn bằng con mắt của phi hành gia không gian trong phi thuyền của họ, dù người ấy là Sô-viết hay Mỹ, trái đất hiện ra như một hòn ngọc độc nhất trong không gian, không có biên giới thực sự, khác với những bức họa đồ trái đất của chúng ta, có điểm những vết màu đánh dấu kỹ biên giới của mỗi quốc gia. Nhưng bây giờ chúng ta biết rằng nó rất mỏng manh. Và chúng ta phải đồng lòng, tất cả mọi người chúng ta, rằng chúng ta chịu trách nhiệm về sự sống của nó và của chúng ta.

Chúng ta phải thay đổi đến cỗi rẽ cách nhìn của chúng ta, thoát ra khỏi những khái niệm chật hẹp về quốc gia hay nòi giống. Phải xóa bỏ sự nghi kỵ, sự sợ hãi người khác, để bước vào một tâm trạng tinh thần mới căn cứ vào tin cậy lẫn nhau, bỏ qua những dị biệt. Kể từ nay, ngôi làng hành tinh là một thực tế, bởi vì chúng ta được nối lại với nhau bởi các vệ tinh, máy bay siêu thanh, những tổ chức đa quốc gia, những tổ chức và hội đoàn khác nhau. Ý thức về môi sinh vượt qua biên giới, và những hội đoàn được thành lập. Bà Alice Bailey, tiên phong của Thời Đại Mới, đã muốn thành lập một tổ chức hành tinh để thực hiện dự án đó. Bà hỗ trợ Thời Đại Mới trong đề nghị thành lập một tôn giáo, một hệ thống giáo dục và một chính phủ, toàn cầu.

Không thể nghĩ đến chiến tranh

Ít ảo tưởng hơn, những người kế tiếp chọn lựa sự thành lập những nhóm nhỏ, những nhóm này, ở khắp nơi, gia tăng sáng kiến. Marilyn Ferguson viết, “những nhóm này tự động tổ chức, gần như không còn gì chung với những cơ cấu chính trị cũ. Họ tìm đến nhau, thành lập những liên minh và giúp đỡ lẫn nhau, nhưng không làm phát sinh ra một cơ cấu quyền hành như thường lệ: những nhóm môi sinh, phụ nữ, hòa bình, bảo vệ nhân quyền hay chống nạn đói trên thế giới. Vì thế, hàng ngàn trung tâm và tổ chức ủng hộ ý thức mới, ở Thụy-điển hay Đan-mạch, ở nước Anh và ở Phần-lan, ở Brésil (...) và đến cả Liên Bang Sô-viết”.

Nếu Thời Đại Mới thành công, thì lẽ dĩ nhiên không thể nghĩ đến chiến tranh, bởi vì xã hội mới gom góp lại những người kể từ nay không sợ hãi những ý kiến và văn hóa nước ngoài, tin tưởng rằng cuộc cách mạng bắt đầu từ trong nội tâm.

(En effet. Avec l’exploration du cosmos, notre conception de la Terre s’est modifiée. Vue avec le regard du cosmonaute en sa capsule, qu’il soit soviétique ou américain, elle apparait comme un joyau unique dans l’espace, sans frontières réelles, à la différence de nos planisphères, marquetés de taches de couleur soigneusement délimitées pour chaque nation. Or nous savons maintenant qu’elle est fragile. Et c’est conjointement, tous les hommes ensemble, que nous sommes responsables de sa – et de notre – survie.

Nous devons donc modifier radicalement notre facon de voir les choses en sortant de nos conceptions étroitement nationales ou raciales. Il nous faut banner notre méfiance, notre peur de l’autre, pour entrer dans un nouvel état d’esprit fondé sur la confiance mutuelle par-delà les différences. Désormais, le village planétaire est une réalité, reliés que nous sommes par les satellites, les supersoniques, les multinationals, les organizations et les congrès divers. La conscience écologique enjambe les frontières, des réseaux se créent, Déjà, Alice Bailey, la pionière du New Age, avait voulu mettre sur pied une organization planétaire pour faire aboutir ce projet. Elle l’apuyait sur la proposition d’une religion, d’un système d’éducation et d’un gouvernement mondiaux.

La guerre devenue impensable

Moins utopiques, ses successeurs préfèrent tabler sur la création de petits groupes qui, partout, multiplient les initiatives. “Ces groupes qui s’auto-organisent, écrit Marilyn Ferguson, n’ont presque rien en commun avec les anciennes structures politiques. Ils se revouvrent, forment des coalitions et se soutiennent mutuellement sans que naisse une structure habituelle de pouvoir: groupes écologiques, féministes, pacifistes, de défense des droits de l’homme ou de lutte contre la faim dans le monde. Des milliers de centres et de réseaux soutiennent ainsi la nouvelle conscience, en Suède ou au Danemark, en Grand-Bretagne et en Finlande, au Brésil (...) et jusqu’en Union soviétique”.

Si le New Age réussit, il est évident que la guerre deviendra impensable, car la nouvelle société rassemblera des personnes n’ayant désormais plus peur des idées et des cultures étrangères, persuadées que les révolutions commencent par l’intérieur de soi).

P.M. Một viễn kiến về sự vật như thế phải chăng hơi lý tưởng? (Une telle vision des choses n’est-elle pas quelque peu idéaliste?)

J.V. Có lẽ. Nhưng nếu tất cả những mục tiêu ấy không thể thực hiện được, thì chúng ta có nên mong mỏi tất cả mọi người bắt đầu làm việc theo chiều hướng đó? Ông có lẽ đã nhận thấy, trong khi nói chuyện, một số quan niệm rất ki-tô. Tuy nhiên phải đứng đắn phân biệt ý định cuối cùng của ước mơ cao thượng đó.

Ngoài ra, trừ khi chúng ta thích thấy nhân loại tự hủy diệt, bởi bom nguyên tử, hay những phương tiện khác, thì cũng không còn đường lối nào khác. Một việc ngày nay đã trở nên hiển nhiên: nếu muốn thay đổi xã hội, chúng ta phải bắt đầu thay đổi chính chúng ta. Chúng ta không thể chờ đợi các chính phủ để họ áp đặt những thay đổi cần thiết và thiết lập hòa bình: một mình họ, họ không bao giờ làm được. Hòa bình, chính mỗi người chúng ta phải chịu trách nhiệm, tùy theo khả năng. Nhờ có Thời Đại Mới, và những thứ khác, những ý kiến đó bắt đầu được phát triển. Do đó mà chúng ta chứng kiến một sự thức tỉnh lương tâm mới, một ước mong toàn cầu thay đổi con tim, nhưng nếu chúng ta không để ý đến, thì thật đáng trách.

(Peut-être. Mais, si tous ces objectifs ne sont pas reálisés, n’est-il pas souhaitable que tout le monde se mette à travailler dans ce sens? Vous aurez reconnu au passage un certain nombre d’idées authentiquement chrétiennes. Il faudra toutefois sérieusement discerner l’intention finale de cette noble utopie.

D’ailleurs, à moins que l’on ne préfère voir l’õhumanité s’autodétruire, par la bombe atomique ou par d’autres moyens, il n’y pas d’alternative. C’est un fait aujourd’hui évident: si nous voulons que nos sociétés changent enfin, nous devons commencer par nous changer nous-mêmes. Il ne suffit pas de s’en remettre aux gouvernements pourqu’ils imposent les mutations nécessaires et établissent la paix: seuls, ils n’y parviendront jamais. La paix, c’est chacun de nous qui doit la prendre en charge, à son propre niveau. Grâce au New Age, entre autres, ces idées commencent à faire leur chemin. Nous assistons ainsi à l’éveil d’une conscience nouvelle, d’une aspiration universelle à la transformation des coeurs dont il serait très léger de ne pas voulir tenir compte).

P.M. Còn giáo dục? Phong trào Thời Đại Mới đề nghị cái gì? (Et l’éducation? Que propose le movement du New Age?)

J.V. Họ bảo vệ một nền giáo dục mới. Họ bảo, điều quan trọng, không phải là vấn đề giảng dạy, mà là người nhận sự giảng dạy. Vấn đề không phải là học, nhưng là học cách học. Bởi vì khả năng trí óc của chúng ta thật kinh ngạc, và, chỉ vì một nền giáo dục sai lầm, đa số những khả năng ấy không được sử dụng. Hệ thống hiện hữu chú trọng vào sự kiện “đúng” chứ không vào sự “cởi mở”. Và vì thế mà người ta loại bỏ biết bao nhiêu trí thông minh!

Ông sẽ bảo, đó là những chuyện nhàm. Đã từ lâu người ta nghiên cứu về “giáo dục tích cực”. Đúng thế. Nhưng Thời Đại Mới tìm ra những lý luận mới trong những khám phá gần đây, theo đó một nửa đầu óc của con người thường bị bỏ hoang. Và họ đề nghị những phương pháp tâm lý mới để giúp cho mỗi người huy động được cái nửa đầu óc bị nghỉ việc. Nếu đúng như thế, con đường sẽ thực sự mở ra cho những tiến bộ vĩ đại, về phương diện giáo dục, cũng như, hơn nữa, cho tất cả đời sống nhân loại.

(Il plaide pour une éducation nouvelle. L’important, dit-il, ce n’est pas la matière à enseigner, mais la personne qui recoit l’enseignement. Il ne s’agit pas d’apprendre, mais d’apprendre à apprendre. Car nos possibilités cérébrales sont surprenantes, et, par la faute d’une éducation mal concue, la plupart d’entre elles restent inutilisées. Le système actuel met davantage l’accent sur le fait d’être “correct” que sur celui d’ête “ouvert”. Et c’est ainsi que l’on fait avorter des intelligences!

Ce ne sont là que des banalités, direz-vous. Il y a belle lurette qu’on fait des recherches sur “l’éducation active”. C’est vrai. Mais le New Age trouve de nouveaux arguments dans de récentes découvertes, selon lesquelles la moitié du cerveau humain resterait habituellement en friche. Et il propose de nouvelles méthodes psychologiques pour permettre à chacun de mobiliser enfin ce demi-cerveau au chômage. S’il en est ainsi, la voie est effectivement ouverte à de grands progrès, en matière d’éducation comme, d’ailleurs, pour toute la vie humaine.)

P.M. Thế cha có nghĩ rằng những Giáo hội ki-tô (Anh giáo, Ca-tô, Chính thống, Tin-lành) mà những đứa con Bảo Bình loan báo sự vỡ nợ sắp tới, có phải là ít ra cũng đã bị thời thế vượt qua. (Et les Eglises chrétiennes, dont les enfants du Verseau nous annoncent la déconfiture prochaine, ne trouvez-vous pas qu’elles sont à tout le moins dépassées par les événements?)

J.V. Đúng vậy, những giáo hội ấy cũng hơi bị hụt hẫng (bất ngờ). Hãy nói đến Giáo hội Ca-tô. Kể từ đầu thế kỷ, và đặc biệt là kể từ Công đồng (Vatican II, 1962-65), Giáo hội đã tập trung mọi nỗ lực vào việc phổ biến Phúc âm mới cho một thế giới mới có lý trí, vô thần, chuộng vật chất. Nhưng mà hình như một thế giới mới ra đời, với một tốc độ T.Đ. to, thế giới này sùng đạo, nhưng vô thần! Một thách đố lớn cho Giáo hội. Kể từ nay Giáo hội phải sửa soạn để chống đỡ - hay đúng hơn là loan báo Tin Mừng - trên hai mặt trận. Và có lẽ mặt trận thứ hai, vấn đề tôn giáo mới, làm cho Giáo hội khó chịu nhất!

Đó là cách tiên đoán của tôi về thế kỷ XXI. Người ta sẽ rất sùng đạo, như Malraux đã loan báo, nhưng Thượng Đế của họ lại không bắt buộc phải là Jésus-Christ.

Có lẽ chúng ta sẽ chứng kiến một sự va chạm hàng đầu, sự va chạm của hai nền văn hóa lớn, bắt nguồn từ hai thiên tài tôn giáo - tôi muốn nói đến đạo Ki-tô và đạo Phật, đến Chúa Jésus và Đức Phật. Đức Phật, Người khai sáng ra nhiều học thuyết lớn về tôn giáo, như sự tái sinh, sự phiếm thần (Panthéisme, Thượng Đế là tất cả và tất cả là Thượng Đế), mà chúng ta vừa nói tới, những vấn đề này làm cho tín đồ Thời đại Mới rất say mê. Và Chúa Jésus, Con một của Thượng Đế hình người và sáng tạo, đã cứu chúng ta một lần chót ra khỏi sự chết.

(C’est vrai, elles sont peut-être un peu prises de court. Prenez l’Eglise catholique. Depuis le début du siècle, et plus particulièrement depuis le Concile, elle avait concentré toutes ses forces vers une nouvelle évangélisation d’un monde devenu rationaliste, athée, sécularisé. Mais voici que semble naitre, à vitesse grand V, un monde nouveau, religieux celui-là, mais paien! Enorme défi pour l’Elgise. Il va désormais falloir qu’elle se prépare à luttter – ou plutôt à annoncer la Bonne Nouvelle – sur deux fronts. Et c’est peut-être le deuxième, celui de la nouvelle religiosité, qui lui donnera le plus de mal!

Car c’est ainsi que j’entrevois le XXIè siècle. Il sera bien religieux, comme l’annoncait Malraux, mais son dieu ne sera pas forcément celui de Jesus-Christ. Peut-être assisterons-nous à une autre confrontation majeure, celle de deux grandes cultures nées de deux génies religieux – je veux parler du christianisme et du bouddhisme, de Jésus et du Boudđha. Le Boudđha, inspirateur des grands thèmes religieux, réincarnation et panthéisme, dont nous avons parlé tout à l’heure, et qui séduisent tant les adeptes du New Age. Et Jésus, Fils unique d’un Dieu personnel et créateur, qui nous a sauvés une fois pour toutes de la mort...)

- Kết Luận. Chúng tôi nghĩ rằng việc trình bày về phong trào Thời Đại Mới ở Âu-châu cũng gọi là tạm đủ. Và xin kết thúc bằng một đoạn dịch ra tiếng Việt, kèm theo nguyên văn tiếng Anh và Pháp để quý độc giả có thêm dữ kiện thẩm định về tư tưởng của các nhà thần học, và suy nghĩ xem họ muốn nói gì:

“Con người có thể được hướng dẫn vào những bí mật của vũ trụ, của Thượng Đế hay chính mình bằng cách đi theo con đường thay đổi tâm linh. Mục đích sau cùng là ngộ đạo, một hình thức cao nhất của sự hiểu biết, tương đương với cứu rỗi. Nó bao gồm sự tìm tòi truyền thống triết học cổ nhất và cao nhất (được gọi một cách sai lầm là philosophia perennis) và tôn giáo (thần học nguyên thủy), một học thuyết bí mật nó là cái chìa khóa cho tất cả những truyền thống công khai mà mọi người có thể tới được. Những giảng dạy bí mật được trao truyền từ thầy tới trò trong một chương trình giáo dục từ từ.

Tiếng Anh. People can be initiated into the mysteries of the cosmos, God and the self by means of a spiritual itinerary of transformation. The eventual goal is gnosis, the highest form of knowledge, the equivalent of salvation. It involves a search for the oldest and highest tradition in philosophy (what is inappropriately called philosophia perennis) and religion (primordial theology), a secret (esoteric) doctrine which is the key to all the “exoteric” traditions which are accessible to everyone. Esoteric teachings are handed down from master to disciple in a gradual program of initiation.

Tiếng Pháp. Il est possible de s'initier aux mystères du cosmos, de Dieu et du moi à travers un parcours spirituel de transformation. Mais le vrai but est la gnose, la forme la plus haute du savoir, l'équivalent du salut, qui demande une recherche des traditions les plus antiques et les plus élevées de la philosophie (appelée de façon incorrecte philosophia perennis) et de la religion (théologie primordiale), et une doctrine secrète (ésotérique) contenant la clé de toutes les traditions «exotériques» accessibles à tous. Les enseignements ésotériques sont transmis de maỵtre à disciple suivant un programme d'initiation progressif.

 

II.- PHẬT GIÁO TRONG THỜI ĐẠI MỚI

2.1. Phật giáo là Triết học, hay Tôn giáo?

“Đừng tin vào kinh sách cổ viết bằng tay, đừng tin vào một điều mà dân tộc mình tin hay làm cho mình tin từ lúc nhỏ. Đối với tất cả mọi điều, đều phải áp dụng lý trí. Sau khi phân tích, nếu thấy những điều ấy tốt cho mọi người và cho mỗi người, thì hãy tin nó, sống cho nó và giúp cho người khác cùng sống như vậy”.

(Phật Thích Ca.- “Les Yogas Pratiques” par Swami Vivekananda, page 127)

Người ta thường hỏi, Phật Giáo là triết học hay tôn giáo. Chúng tôi nghĩ rằng Phật Giáo vừa là triết học vừa là tôn giáo.

2.1.1.- Triết Học. Chúng tôi xin trình bày tóm tắt hai vấn đề, “Hư Không” (Rỗng Không, Hư Vô, Chân Không) và “Liên Đới”.

2.1.1.1. “Hư Không” là một vấn đề triết học rất khó hiểu. Tại sao không lại sinh ra có. Tại sao “tôi” hiện hữu với một cái tên lại bảo là không có. Thông thường ra một cái gì chỉ có thể “hoặc có hoặc không có”, chứ không thể “vừa không có vừa không không có” (vừa không có, vừa có). Một ngày kia tôi được một sĩ quan đàn em đưa tới một quán cà-phê ở Pleiku, bên dòng suối, dưới gốc một cây. Mùi hoa bưởi tỏa ra trong không khí, làm cho tôi ngẩng đầu lên tìm hoa. Cây bưởi đang ra hoa, chưa có trái. Cây bưởi vừa không có trái vừa không không có trái. Cây bưởi chưa có trái, nhưng trái bưởi vẫn có trong bông hoa, chỉ chờ thời gian để sinh trái. Giống y như thế, trong que diêm vừa không có lửa vừa không không có lửa. Nếu không quẹt, thì không có lửa, lửa chỉ trong thế tiềm ẩn. Khi quẹt thì lửa xuất hiện. Lửa xuất hiện rồi tắt. Lửa tắt, lửa đi về đâu? Không ai biết, nhưng lửa vẫn còn. Cái gì đã có thì có mãi. Cái gì đã không có thì không bao giờ có. Parmenide đã có một câu nói thật hay:

Ce qui est est. Ce qui n’est pas n’est pas.

“Cái gì có có. Cái gì không có không có

Viết đến đây thì đã thấm mệt, nhưng chưa hết ý. Nghỉ viết để tìm thêm ý, tôi mở mạng lưới “Chuyển Luân” của Hoàng Nguyên Nhuận coi xem có bài gì hay để đọc, như một cách giải trí. Nhìn vào đề tài “Thiền Uyển Tập Anh” do thầy Tuệ Sỹ viết, tôi tin chắc có những ý hay, mở ra đọc. Thì quả thật tôi đã nghĩ không sai. Mừng quá, đọc xong tim tôi rung động mạnh, không viết được nữa, tôi bước ra khỏi nhà đi vòng quanh nhà từ trước ra sau, để cho sự cảm động thấm dần vào thân, tâm. Rồi để đó, hôm sau tôi mới mở máy ra viết tiếp.

Không sinh ra có thật khó hiểu, suy nghĩ mãi, đọc mãi, cho đến khi đọc thêm cách giải thích của một số tác giả khác nữa tôi mới bắt đầu hiểu.

1.- Tuệ Sỹ. Bài viết của thầy Tuệ Sỹ nhan đề “Về những minh họa từ Thiền Uyển Tập Anh” được mở đầu như sau:

“Kể từ khi được Ông Trần văn Giáp tình cờ phát hiện từ đống giấy vụn của một gánh hàng vụn phế thải, sau đó được công bố bởi trường Viễn đông Bác cổ, Thiền uyển tập anh trở thành tư liệu cơ sở cho các khảo cứu về lịch sử Phật giáo Việt nam từ khởi nguyên cho đến thế kỷ 13, cũng như các sinh hoạt chính trị, xã hội, tôn giáo nước ta trong suốt thời gian Bắc thuộc. Công trình của ông Trần Văn Giáp dựa trên tập sử Thiền này được thực hiện khá công phu, nhưng do thiếu nhiều tư liệu tham khảo, đối chiếu để xử lý văn bản, do đó ông đã không tránh khỏi một số sai lầm. Những sai lầm ấy được lặp lại trong hầu hết các quyển sử Phật giáo Việt nam tiếp theo sau ông.

“Trong năm 1973, Lê Mạnh Thát trong khi đi sưu khảo các tự viện ở miền Nam đã phát hiện thêm các dị bản của Thiền uyển tập anh. Y cứ trên các phát hiện mới, công tác xử lý văn bản được thực hiện với rất nhiều tư liệu liên hệ trong nền văn hiến đồ sộ của Phật giáo Trung quốc, cũng như trong kho tàng lịch sử Viêt nam, từ dã sử đến chính sử, những truyền kỳ. Một bản dịch tương đối hoàn chỉnh của Thiền uyển tập anh được công bố, cung cấp nhiều dữ liệu quan trọng khả dĩ bổ sung, và đồng thời cải chính, những điều được ghi chép bởi các chính sử của Việt nam mà các tác giả của chúng phần lớn dựa trên những thông tin đầy thành kiến và xuyên tạc của sử liệu Trung quốc đối với sự hình thành ý thức dân tộc cũng như sự phát triển chính trị xã hội của nước ta. Bản dịch san định do Lê Mạnh Thát thực hiện này nhanh chóng trở thành văn bản cơ sở cho nhiều khảo cứu lịch sử theo sau nó. Một bản dịch Anh ngữ cũng đã được thực hiện bởi Cuong Tu Nguyên, Zen in Medieval Vietnam. A Study and translation of the Thiền Uyển Tập Anh, xuất bản năm 1997, bởi ban tu thư Viện Đại học Hawaii. Công trình nghiên cứu và dịch thuật này cũng thường xuyên tham chiếu bản dịch của Lê Mạnh Thát, như nhận xét của Giáo sư Philippe Langlet, trong phần thư mục của bản dịch Pháp mà chúng ta đang được giới thiệu hôm nay...

Thiền sư Khuông Việt (930-1011) trước khi chết có truyền lại một bài kệ:

Mộc trung nguyên hữu hỏa

Hữu hỏa hỏa hoàn sanh

Nhược vị mộc vô hỏa

Toàn toại hà do manh

Bản dịch Pháp của Philippe Langlet:

A l’origine, le feu est dans le bois.

Le feu original renait sans cesse.

S’il n’y a pas de feu dans le bois,

Comment pourrait-on en faire jaillir en le frottant?

Bản dịch ra tiếng Việt của chúng tôi

Trong cây vốn có lửa

Lửa gốc tái sinh không ngừng

Nếu trong cây không có lửa

Làm sao lửa bật ra khi cọ sát

Các tác giả của Un livre des moines Bouddhistes đang tìm vào các thơ văn của các Thiền sư đời Lý; không phải bằng những tư biện triết học, không phải bằng những tư duy siêu hình,

mà bằng ngôn ngữ hình ảnh, tìm kiếm và chìm lắng trong một thế giới tĩnh lặng, vô ngôn, ở đó thực tại tối hậu là khoảng chân không thăm thẳm: la vacuité fondamentale de toute chose et même de l’ultime réalité.Thực tại tối hậu là gì? Qu’est-ce que c’est? Đó là một câu hỏi rất thông thường trong giao tiếp hằng ngày; nhưng lại là câu hỏi muốn vén bức màn kỳ ảo của thời gian để nhìn sâu vào tính thể tồn tại. Vậy, yếu tính của tồn tại, của cái đang được ném ra đó, là cái gì? Thiền sư Ngộ Ấn (1020-1088) nói: Diệu tính hư vô bất khả phan. Yếu tính ấy, cái l’essence de l’être ấy, là cái trống không mà nhận thức không thể nắm bắt, mặc dù bản chất của ý thức là luôn luôn vươn đến nắm bắt đối tượng. Ở đây, Philippe Langlet không phiên giải diệu tính trong bài thơ của Ngộ Ấn như là yếu tính của tồn tại, mà hiểu nó là bản chất hay tự tính huyền nhiệm:

La mystérieuse nature du vide est inaccessible (bản chất bí mật của rỗng không không thể hiểu được).

La mystérieuse nature đó có thể một thiên nhiên kỳ diệu, được sáng tạo từ huyền nhiệm của Thượng đế; mà Thượng đế thì siêu việt mọi tạo vật: Dieu transcende toute créature (Catéchisme). Vậy, câu hỏi về thân phận con người được nêu lên từ tư duy chiêm nghiệm về bản tính huyền nhiệm này, như De Miscault đã dẫn từ Pascal: Qu’est-ce que l’homme dans la nature? Ta là ai, con người là cái gì, trong thể giới này, trong bản tính huyền nhiệm của tồn tại này? Câu hỏi xuất phát từ hai hướng Đông Tây bất đồng, như trong cảm hứng để thử trả lời, ta có thể tìm thấy sự đồng cảm giữa Ngộ Ấn và Pascal. Với Ngộ Ấn, con người không là gì cả, vì tự tính của nó không là gì cả. Hình ảnh của cái không là gì cả ấy là đóa hoa sen còn thắm đượm sương mai trong lò lửa đang rực cháy. Trống không, vô nghĩa, nhưng ngời sáng: tồn tại chỉ có thể chiêm nghiệm trong mối quan hệ biện chứng được kết cấu bằng những mâu thuẫn nội tại.

Trả lời của Pascal cũng âm vang đồng điệu. Ta không là gì cả. Tất cả mọi tạo vật đều từ hư vô mà ra, tồn tại bao la ngang tầm vô hạn: Toutes choses sont sorties du néant et portées jusqu’à l’infini. Con người là tồn tại vô thể, là hư vô nếu được nhìn từ vô hạn. Trong vô hạn, nó không là gì cả. Trong cái không là gì cả, nó là tất cả. Con người là một trung gian giữa không là gì cả và là tất cả: Un néant à l’égard de l’infini, un tout à l’égard du néant, un milieu entre rien et tout. Đồng điệu hay đồng cảm này cũng được chia sẻ bởi một Thiền sư khác: Từ Đạo Hạnh (?- 1117), được chuyển tải qua ngôn ngữ Pháp:

Existence. Le moindre grain de poussière existe.

Vide. Tout est vide.

Existence et vide, c’est comme la lune dans l’eau.

Ne vous attachez pas à l’existence ni à l’idée du vide.

Lời dịch của chúng tôi.

Hiện hữu. Một hạt bụi nhỏ nhoi hiện hữu

Rỗng không. Tất cả đều rỗng không

Hiện hữu và rỗng không, giống như trăng trong nước

Đừng quan tâm tới hiện hữu cũng như rỗng không

Tồn tại và không tồn tại, có và không, hữu thể và hư vô, chứa vô biên trong hạt cát, nắm vô hạn giữa lòng tay; thể tính hư vô bừng sáng thành hoa sen trong biển lửa; đó là những tư duy và phát biểu mang tính phản lý; đồng thời đó cũng là sử tính của một dân tộc được hiện tượng hóa trong chuỗi mâu thuẫn biện chứng của hiện thực lịch sử.

Một trường họp có thể dẫn ra ở đây là bài thơ của Không Lộ, và hình ảnh minh họa. Trong bài thơ này, ngôn ngữ Pháp đi rất gần với tiết nhịp của âm vận tiếng Việt, mặc dù dịch giả không cố diễn dịch nó theo tiết nhịp thơ của ngôn ngữ Pháp:

Trời xanh nước biếc muôn trùng

Một thôn xương khói, một vùng dâu đay

Ông chài ngủ tít ai lay,

Quá trưa tỉnh dậy, tuyết bay đầy thuyền

Sur dix mille lieues le fleuve limpide, sur dix mille lieues le ciel.

Un village avec des mûriers, un village avec des fumées.

Le vieux pêcheur s’est endormi, personne ne l’appelle.

Passé midi il se réveille, la neige a rempli sa barque.

Toàn thể bài dịch Pháp còn phảng phất phong vận bình dị của đồng quê Việt nam cũng như sinh hoạt của nó. Trong khi đó, trong nguyên văn Hán của bài thơ, do âm luật nghiêm túc của Đường thi, mọi thứ trở nên trang trọng. Ngư ông trong nguyên văn Hán mang phong thái tiêu dao của một ẩn sĩ. Ngư ông trong bản dịch Pháp là một người dân quê trong cảnh đồng quê bận rộn nhưng an nhàn. Ngư ông trong minh họa mang dáng vẻ của một con người sinh họat trong xã hội văn minh công nghiệp đến từ phương Tây, đang vẩy tay chào đón hoặc tiễn đưa, đứng giữa lòng sông trong lớp bụi mờ ẩn hiện hình ảnh được minh họa từ câu thơ của Ngộ Ấn: liên phát lô trung thấp vị can, La fleur de lotus eclose dans un four est éternellement fraîche. Minh họa như thế là nối liền quá khứ với hiện tại, một quá khứ lịch sử đầy bi kịch đã hay đang đi vào quên lãng, với hiện tại của một xã hội đang biến chuyển để chào đón hoàng hôn rực rỡ của trời Tây, La Crépuscule de l’Occident (Spengler). Hình ảnh ngư ông trong minh họa tình cờ khiến chúng ta nhớ lại bóng dáng của Bùi Giáng đang đi giữa phố phường hoa lệ Saigon mà như đi giữa hoang tàn sa mạc, điên loạn trong cơn điên loạn siêu hình của Nietzsche. Thế rồi, trong phút tỉnh táo, nhà thơ của chúng ta bất chợt thốt lên những lời trầm thống, vang vọng ưu tư khoắc khoải lan dài trong lịch sử.

Đó là những lời mà Bùi Giáng đã viết cho René Char:

Voici la réponse que vous en donne le Viet nam: Weil (Simone Weil), c’est une de ces âmes assez rares qui sont venues en ce monde pour un temps bien bref, qui s’en sont allées brusquement, laissant derrière elles de regrets; des âmes qui se sont penchées sur la souffrance de siècles, qui nous ont apporté des promesses de fontaines sonores, qui nous ont parlé des peuples lointaines et de leur pulsation blessée, qui ont posé le problème des déshérités de l’Asie.

Hình ảnh một Simone Weil nhỏ thó, gầy mòn, một tâm hồn nhạy bén trước khốn cùng của những con người khốn khổ, một ý chí ngoan cường, bướng bỉnh của một cô giáo trẻ; hình ảnh ấy không chỉ là biểu tượng cho sự trổi dậy của tầng lớp yếu ớt trong bối cảnh xã hội hùng cường, phú thịnh của phương Tây; hình ảnh ấy một thời đã làm xao xuyến tuổi trẻ Viêt nam lớn lên giữa khói lửa, đang lắng nghe âm vang từ nhịp đập của trái tim mang chứng tích đầy thương tích của lịch sử văn minh, âm vang từ những suối nguồn xa xôi mang những ước nguyện nhân bản đến cho các dân tộc, đặt vấn đề cho những con người đang bị bứt lìa truyền thống.

Khi một tâm hồn bị bứt lìa truyền thống, nó như một con thuyền lơ lửng trôi xuôi theo định hướng mù khơi ngoài phương trời vô định; trôi ngang qua bà mẹ đang đứng sững quay lưng hờ hững với con thuyền, đang dõi mắt tìm vào bến bờ của quá khứ, của cây đa bến cũ, con đò năm xưa mà nay đã vắng, đã mất. Thế nhưng, trong thể tính uyên nguyên của dòng sông lịch sử, mảnh trăng treo từ trên đỉnh Lăng-già đang tỏa ánh sáng trầm tịch trong khoảng không vô tận, cho con thuyền định hướng ra biển khơi:

Pháp bổn như vô pháp,

Phi hữu diệc phi không

Nhược nhân tri thử pháp,

Chúng sanh dữ Phật đồng

Tịch tịch Lăng già nguyệt

Không không độ hải chu

Tri không không giác hữu

Tam muội nhiệm thông chu

 

Pháp vốn như không pháp

Chẳng có cũng chẳng không

Nếu người biết pháp ấy

Chúng sinh cùng Phật đồng.

Trăng Lăng già vằng vặc

Thuyền vượt biển lâng lâng

Hiểu không, không biết có

Tam muội mặc thong dong

 

Le monde sensible, au fond, c’est comme s’il n’y en avait pas

Ce n’est ni l’existence ni le néant

Si on saisit bien ce principe

On comprend que tous les vivants sont comme Bouddha.

Dans le grand calme du clair de lune sur la montagne de Lanka,

Devant le vide pour un bateau qui s’avance en pleine mer,

onnaissant le vide et sachant que l’existence sort du vide,

L’esprit affranchi des causes et des effets,

Concentré jusqu’à s’abimer dans le vide, disponible pour l’intuition,

devient capable de comprendre la réalité profonde

 

Minh họa này từ bài thơ của Tăng thống Huệ Sinh (?- 1076), thế hệ tiếp nối Thiền sư Vạn Hạnh, vốn là minh giải triết học cho vua Lý Thái Tông, ngẫu nhiên phản chiếu tâm tình lịch sử trải dài suốt gần mười thế kỷ, qua những minh họa mà chúng ta biết được cảm hứng một phần từ tín điều Catéchisme như được nói rõ trong bài giới thiệu do Dominique De Miscault. Suy nghĩ từ những dòng ngôn ngữ Pháp chuyển tải những tư duy uẩn khúc của tư tưởng, như những mặt gương khi mờ khi tỏ, phản chiếu mấy đoạn đường quanh co khi thăng khi trầm của lịch sử; chiêm quan những hình ảnh minh họa cấu hình bằng phương tiện kỹ thuật hiện đại mà thể tính là những nguyên lý, những công thức cứng đọng, khô cằn của lý trí hướng ngoại và chinh phục; người đọc và người xem để cho tâm hồn mình di động bất thường giữa những cảm hứng ngẫu nhiên, hoặc trần thuật tiên cảm; từ đó quay nhìn lại những đoạn lịch sử đã qua, trải dài suốt trên hoặc dưởi mười thế kỷ; những lộ trình riêng biệt, với những định hướng và định mệnh khác biệt, ở hai phương trời cách biệt; những con đường lịch sử ấy có khi được thấy song song, có khi đối nghịch dẫn đến sông núi ngửa nghiêng, đảo lộn, áp bức, đọa đày, chiến tranh, giết chóc; có khi hòa quyện trong nỗi đau thương chung của thân phận con người. Nhưng dù ở bên này hải đảo, hay bên kia đại dương, mà trong cõi tịch mặc vô ngôn, trong thế giới mặc nhiên vô hạn, với những điều nói được và không nói được, những hình ảnh ký họa được hay không ký họa được, giữa người và người, giữa các dân tộc dị biệt, trong các truyền thống và văn minh tương phản, vẫn còn ẩn tàng trong tận đáy sâu, trong rung cảm đồng điệu của những trái tim nhân hậu. Chúng tôi muốn nói, từ những chuyển tải bằng ngôn ngữ Pháp thực hiện bởi Giáo sư Philippe Langlet, từ những minh họa bằng kỹ xảo của lý trí tư biện phương Tây bởi nghệ sĩ tạo hình Dominique De Miscault, chúng ta thử tìm lại dấu vết tâm tư của tiền nhân, thử nhìn lại chính mình từ đôi mắt của những người khác, để tự khẳng định chính mình trong những cơn loác thời đại. Xin cảm ơn các tác giả đã đến với chúng ta trong đồng cảm nhân loại, cùng chia sẻ những giá trị phổ quát giữa những truyền thống dị biệt.

Tuệ Sỹ

Trong bài viết “Đọc Sách “Tuệ Sỹ” của Thượng Tọa Nguyên Siêu, đăng trên báo “Trúc Lâm” số 24, Phật lịch 2547, 2003 (Cũng có in lại trong “Tôn Giáo Đối Chiếu, Tập III”), chúng tôi có trích dẫn những nhận xét của chúng tôi về thầy Tuệ Sỹ:

“Bình luận về “Tánh Không”, Tuệ Sỹ đã mở đầu bằng câu tiếng Đức của Martin Heidegger nhưng không dịch sang tiếng Việt, lời dịch là của chúng tôi:

Aus der Erfahrung des Denkens (Từ sự kết tinh của tư tưởng).

Nhưng Tánh Không luận là gì?

“Khi con bướm mùa hè dừng lại trên đóa hoa, khép lại đôi cánh, và đong đưa theo cơn gió của cỏ nội hoa ngàn”. (Trang 66).

Xin đừng đọc lướt qua câu thơ này. Xin hãy ngưng lại đôi chút. Nó sẽ vẽ ra cho chúng ta hình ảnh của một cậu bé của ngày xưa xa lắm, ở cái ngày còn đi bắt chim đuổi bướm, có đôi mắt ngây thơ, long lanh sáng, đứng ngây ngất nhìn,

Con bướm trắng đậu trên cánh hoa, hai cánh khép mở “đu đưa theo cơn gió của cỏ nội hoa ngàn”.

Tiếp tục bình luận về “Tánh Không”, trong bài II, Tuệ Sỹ đã đưa ra nhận xét của Parménide, “ce qui est est, ce qui n’est pas n’est pas” (trang 68), nhưng cũng không dịch sang tiếng Việt. Chúng tôi thấy hay, nên dịch và đưa vào sách của chúng tôi, “Tôn Giáo Đối Chiếu”, Tập IV, trang 2010:

“Cái gì có có, cái gì không có không có”. Cũng trong bài này, trang 67, Tuệ Sỹ mở đầu bằng câu tiếng Đức “Im Denken Wird jeglich (jedlich mới đúng) Ding einsam und langsam” của M. Heidegger, nhưng vẫn không dịch ngay sang tiếng Việt. Đọc mãi, đến cuối trang 68, chúng tôi mới thấy lời dịch trong câu kết luận (Trang 68): Vậy thì Tánh Không luận là gì? “Trong tư tưởng, mọi sự trở thành cô liêu và lững thững”.

Tánh Không Luận gồm bốn bài, bài bốn chấm dứt bằng lời nhận định của Ngài Long Thọ (Trang 71):

“Trong khi kinh này được truyền thuyết, một ngàn thế giới đều rung động”.

2.- Matthieu Ricard (M).- Khi Phật Giáo nói về “hư không” (rỗng không) của những hiện tượng, là nói rằng những hiện tượng “xuất hiện”, nhưng không phản ảnh một chút nào sự hiện hữu của những thực thể cố định. Khoa vật lý tân tiến cho chúng ta biết, tỉ dụ như một điện tử âm, có thể được coi như một hạt, hay một làn sóng, hai quan niệm hoàn toàn không hợp nhau theo nghĩa thông thường. Một vài hiện tượng hỗ tương tác dụng gây ra bởi những điện tử âm chỉ có thể giải thích được khi giả thuyết một điện tử âm cùng một lúc chui qua hai cái lỗ khác nhau. Theo Phật Giáo, những nguyên tử không thể được coi như những thực thể cố định, hiện hữu bởi một đường lối đặc biệt và nhất định; vậy thì, làm thế nào mà thế giới hiện tượng thô kệch, thế giới ấy làm thành bởi những hạt nguyên tử đó, lại có thể có một thực thể cố định? Tất cả những thứ đó góp sức vào để phá hủy quan niệm về sự vững chắc của các hiện tượng. Theo ý nghĩa đó mà Phật Giáo xác định bản chất tối hậu của những hiện tượng là hư không (rỗng không) và cái hư không đó mang trong nó một tiềm năng vô tận để biểu lộ. (Quand le bouddhisme parle de la “vacuité” des phénomènes, il dit que les phénomènes “apparaissent”, mais qu’ils ne reflètent nullement l’existence d’entités fixes. La physique moderne nous dit qu’un électron, par exemple, peut être considéré soit comme une particule, soit comme une onde, deux notions complètement incompatibles selon le sens commun. Certains phénomènes d’interférence causés par des électrons ne peuvent s’expliquer qu’en supposant qu’un électron passe au même instant par deux trous différents. Selon le bouddisme, les atomes ne peuvent être considérés comme des entités fixes, existant sous un mode unique et déterminé; par conséquent, comment le monde de la manifestation grossière, qui est censé ếtre composé de ces particules, aurait-il une réalité fixe? Tout cela contribute à détruire notre notion de solidité des apparences. C’est dans ce sens que le bouddhisme affirme que la nature ultime des phénomènes est vacuité et que cette vacuité porte en elle un potential infini de manifestations. “Le Moine et le Philosophe”, page 139).

Jean-Francois Revel (J.F.).- Những giả thuyết tiên đoán về bản chất và sự vô thường của vật chất đã do ai đặt ra?

M.- Do Đức Phật, rồi được thâu thập và bình luận trong nhiều sách bởi hai triết gia Phật tử lớn nhất, Nagarjuna (vào thế kỷ thứ II của thời đại Ki-tô) và Chandrakirti (vào thế kỷ VIII). Sự phân tích nguyên tử được trình bày như sau; Hãy quan sát một vật thô kệch, một cái bàn chẳng hạn. Nếu ta phân hóa những yếu tố của cái bàn, thì không còn gì là bàn. Đó là những chân bàn, mặt bàn, v.v. Tiếp theo, nếu ta làm thành mạt cưa, đến lượt những vật đó mất hết tự tính. Nếu bây giờ ta quan sát một mạt cưa, ta thấy những phân tử, rồi những nguyên tử – quan niệm về nguyên tử đã được thiết lập ở Á-châu từ thời của Démocrite (khoảng 400 năm trước công nguyên).

J.F.- Thực ra, quan niệm về nguyên tử đã xuất hiện trong triết học của Démocrite và Epicure. Nhưng không được trình bày khoa học bằng những lý thuyết khác của môn khoa học vật lý cổ xưa. Đó chỉ là những quan niệm của tâm.

M.- Và, thật là lạ lùng, chữ Hy-lạp “nguyên tử” có nghĩa là “không chia ra được”.

J.F.- Đúng thế. Cái nhân tối hậu không thể cắt ra làm hai.

M.- Phật Giáo cũng dùng một danh từ đó. Người ta nói đến những hạt “không có thành phần”, không thể phân chia ra được nữa. Đó là thành phần cốt lõi của vật chất. Bây giờ ta hãy quan sát một trong những hạt không thể phân chia ấy, được coi như một thực thể độc lập. Nó kết hợp với những hạt khác như thế nào để làm thành vật chất? Nếu những hạt đó chạm vào nhau, tỉ dụ như phía Tây của một hạt chạm vào phía Đông của một hạt khác. Nhưng nếu những hạt đó có phương hướng, nó lại có thể chia cắt được, và mất cái đặc tính “không thể chia cắt”. Nếu nó không có cạnh, không phương hướng, nó giống như một chấm toán học – không kích thước, không chiều dày, không thực chất. Nếu người ta tìm cách kết hợp hai hạt không kích thước, thì hoặc là nó không chạm nhau và không thể kết hợp được, hoặc là nó chạm nhau và, vì thế nhập làm một. Vậy thì, một trái núi những hạt không chia cắt được có thể tan ra thành một trong những hạt đó mà thôi! Kết luận, không thể có những hạt không thể chia cắt, đứt đoạn, có sự hiện hữu nội tại, và là thành phần của vật chất. Không những thế, nếu một nguyên tử có một khối, một kích thước, có điện, v.v. thì nó có đồng nhất với toàn thể những đặc tính của nó không? Nó có hiện hữu ngoài những đặc tính ấy không? Nguyên tử không đồng nhất với khối hay kích thước của nó. Nó cũng không là gì khác hơn là khối và kích thước của nó. Nguyên tử có một số những đặc tính, nhưng không là một đặc tính nào trong số đó. Nguyên tử như vậy chỉ là một khái niệm, một nhãn hiệu không bao gồm một thực thể hiện hữu một cách độc lập và tuyệt đối. Nó chỉ có một sự hiện hữu quy ước, tương đối.

(Le bouddhisme utilise le même mot. On parle de particules qui “n’ont pas de parties”, qui ne peuvent être subdivisées. Ce serait donc le composant ultime de la matière. Considérons maintenant l’une de ces particules indivisibles, concue comme une entité autonome. Comment pourrait-elle s’associer avec d’autres particules pour constituer la matière? Si ces particules se touchent, l’Ouest d’une particule, par exemple, touchera l’Est de l’autre. Mais si elles ont des directions, elles peuvent de nouveau être divisiées, et perdent alors leur caractère “indivisible”. Si elles n’ont ni côtés ni directions, elles sont alors semblables à un point mathématique – sans dimension, épaisseur, ni substance. Si l’on essaie d’assembler deux particules sans dimension, soit elles ne se touchent pas et ne peuvent s’assembler, soit elles entrent en contact et, ce faisaint, se confondent. Ainsi une montagne de particules indivisibles pourrait se fonder en une seule de ces particules! La conclusion, c’est donc qu’il ne peut exister de particules indivisibles, discontinues, douées d’une existence intrinsèque, qui seraient les constituents de la matière. De plus, si un atome possède une masse, une dimension, une charge, etc. est-il identique à l’ensemble de ses attributs? Existe-t-il en dehors de ses attributs? L’atome n’est pas identique à sa masse, ni à sa dimension. Il n’est pas non plus autre chose que sa masse et sa dimension. “L’atome a donc un ensemble de caractéristiques, mais il n’est aucune d’entre elles. L’atome n’est donc qu’un concept, qu’une étiquette qui ne recouvre pas une entité existant de facon independante et absolue. Il n’a qu’une existence conventionnelle, relative). (“Le Moine et le Philosophe”, page 140-41).

J.F.- Đối với Démocrite và Epicure, chúng ta thấy quan niệm những thành phần cốt yếu của vật chất, như là những sinh vật, là những nguyên tử, những nguyên tử này sắp xếp theo những đường lối khác nhau để làm thành những hiện tượng khác nhau mà chúng ta nhìn thấy dưới những hình thù khác nhau. Và những hình thù đó chỉ là những ảo ảnh do sự sắp đặt khác nhau của nguyên tử. Nhưng mà muốn giải thích những nguyên tử kết hợp ra sao, tại sao một số nguyên tử này lại kết hợp với những nguyên tử kia, những người của thời cổ đã chế tạo ra lý thuyết – dĩ nhiên là tưởng tượng – những nguyên tử “có móc”; Một số nguyên tử có những cái móc giúp cho nó kết hợp với những nguyên tử khác, và có những nguyên tử không có móc. Nhưng cuối cùng phải giải thích tại sao những nguyên tử lại kết hợp theo cách này hay cách khác để tạo thành một số hiện tượng.

(Chez Démocrite et chez Epicure, il y a cette idée que les constituants ultimes de la matière, comme des êtres vivants d’ailleurs, sont les atomes qui s’organisent selon des configurations variées pour former les divers phénomènes que nous voyons sous des apparences diverses. Et que les apparences ne sont que des illusions provenant de l’organisation diverse des atomes. Mais pour expliquer comment les atomes se regroupent entre eux, pourquoi certains se regroupent avec d’autres, les Anciens avaient inventé la théorie – tout-à-fait imaginaire naturellement – des atomes “crochus”: certains atomes ont des crochets qui les conduisent à se lier à d’autres atomes, et certains autres non. Il fallait bien expliquer pourquoi, finalement, les atomes se regroupaient de telle ou telle manière pour fabriquer certains phénomènes.- Page 141).

M.- Người Phật tử sẽ bảo: “Nếu nó có móc, có những thành phần: cái đầu và cái chân của móc: sự không chia cắt có thể trở thành chia cắt được.” (Le bouddhiste dirait: “S’il y a des crochets, il y a des parties: l’extrémité et la base du crochet; votre indivisible peut donc être divisé).

J.F.- Ông ta có thể nói thế được. Nhưng dầu sao, ở giai đoạn này, ở Âu-châu cũng như Á-châu, chúng ta đã có những học thuyết lỗi lạc, nhưng siêu hình, chứ không phải vật lý. (Il peut le dire. De toute manière, à ce stade, en Occident comme en Orient, nous sommes devant des théories brillantes, mais métaphysiques, non physiques).

M.- Đúng thế, nhưng khi chứng minh không có những hạt không thể chia cắt, Phật Giáo không chủ trương tường trình về những hiện tượng vật lý, theo ý nghĩa của khoa học ngày nay; Phật Giáo tìm cách bẻ gẫy khái niệm “trí thức” về sự vững chắc của thế giới hiện tượng. Bởi vì chính khái niệm đó làm cho chúng ta bám chặt vào “cái tôi” và những hiện tượng, chính khái niệm đó là nguyên nhân của nước đôi, ta và người, hiện hữu và không hiện hữu, yêu và ghét, v.v. và là nguyên nhân của những thống khổ. Dù sao, thì Phật Giáo cũng tái hợp, một cách trí thức, với một vài quan điểm của vật lý hiện tại và sự đóng góp của Phật Giáo phải được ghi nhận trong lịch sử những tư tưởng. Tôi muốn tỉ dụ kể ra một trong những nhà vật lý vĩ đại của thời đại, Henri Margenau, giáo sư đại học Yale, ông đã viết: “Đến cuối thế kỷ XIX, người ta xác định rằng tất cả những tác dụng hỗ tương đều liên quan tới những vật vật chất. Ngày nay, nói chung, người ta không coi đó là sự thật. Người ta nghĩ rằng đúng hơn thì đó là những tác dụng hỗ tương của những từ trường, hay những sức mạnh khác mà đa số không phải vật chất”. Và Heisenberg đã nói: “Những nguyên tử không phải là vật.” Đối với Bertrand Russell: “Quan niệm cho rằng đó là một hòn bi nhỏ, một khối rắn chắc nhỏ của điện tử âm, là một sự xâm nhập bất hợp pháp của ý thức thông thường, do quan niệm sờ mó mà có”, và ông nói thêm: “Vật chất là một công thức tiện lợi để mô tả cái gì xảy ra, mà ở đó, thực ra không có vật chất, vậy thì, không có gì cả”. Ngoài ra, Sir James Jeans, trong sách Rede’s Lectures, còn bảo rằng “vũ trụ bắt đầu giống như một tư tưởng lớn thay vì một bộ máy lớn.”

(Bien sur, mais en démontrant qu’il ne peut exister de particules indivisibles, le bouddhisme ne prétend pas rendre compte de phénomènes physiques, au sens où la science l’entend maintenant: il cherche à briser le concept intellectuel de la solidité du monde phénoménal. Car c’est ce concept qui fait que nous nous attachons au “moi” et aux phénomènes, c’est donc ce concept qui est la cause de la dualité entre soi et autrui, existence et non-existence, attachement et répulsion, etc. et la cause de tous nos tourments. En tous cas, le bouddhisme rejoint ici, intellectuellement, certaines vues de la physique contemporaine et sa contribution devrait etre incluse dans l’histoire des idées. Je voudrais citer par exemple l’un des grands physiciens de notre époque, Henri Margenau, professeur à l’université de Yale, qui écrit: “A la fin du XIXe siècle, on soutenait que toutes les interactions impliquaient des objets matériels. De nos jours, genéralement, on ne considère plus cela comme une vérité. On pense qu’il s’agit plutôt de l’interaction de champs d’énergie, ou d’autres forces qui sont en gros, non matérielles”. Et Heisenberg disait: “Les atomes ne sont pas des choses”. Pour Bertrand Russell: “L’idée qu’il y a là une petite boule, une petite masse solide qui serait l’électron est une intrusion illégitime du sens commun, dérivée de la notion du toucher”, et il ajoute: “La matière est une forme commode pour décrire ce qui survient, là où en fait, la matière n’est pas, donc, là où il n’y a rien”. D’autre part, Sir James Jeans, dans ses Rede’s Lectures, allait jusqu’à dire que l’univers commence plus à ressembler à une grande pensée qu’à une grande machine”.- Pages 141-42).

3.1.1.1. Liên Đới.

(At the White House ceremony for the completion of the Human Genome Project two years ago, President Clinton noted that “one of the great truths to emerge from this triumphant expedition inside the human genome is that in genetic terms, all human beings, regardless of race, are more than 99,9 percent the same”.- U.S. News & World Report, November 11, 2002).

“Ở tòa Nhà Trắng trong dịp làm lễ vào lúc hoàn thành “Dự Án Gien Của Người” cách đây hai năm, Tổng Thống Clinton ghi nhận rằng, “một trong những sự thật vĩ đại xuất hiện ra từ hành trình thành công bên trong gien của con người là đứng về mặt gien, tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, giống nhau trên 99,9 phần trăm”.

Trịnh xuân Thuận có nói trong cuộc thảo luận với Matthieu Ricard (một nhà bác học người Pháp đi tu theo Phật giáo Tây-tạng) được in thành sách, “L’Infini Dans La Paume De La Main” (Không Gian Vô Cùng Trong Lòng Bàn Tay):

Liên đới của những hiện tượng = trách nhiệm toàn cầu. Một công thức thật đẹp! Nó dội lại những lời của Einstein, “Con người là một phần của tất cả mà chúng ta gọi là vũ trụ, một phần giới hạn bởi thời gian và không gian. Con người làm thử nghiệm trên chính mình, tư tưởng mình và những cảm giác như là những biến cố tách rời khỏi phần còn lại, đó là một thứ ảo ảnh theo nhãn quan của tâm. Ảo ảnh này là một hình thức nhà tù của chúng ta, bởi vì nó giới hạn chúng ta vào những ham muốn cá nhân và ép buộc chúng ta dành sự yêu thương cho một vài người gần chúng ta nhất. Bổn phận của chúng ta là giải thoát chúng ta ra khỏi cái nhà tù ấy bằng cách nới rộng phạm vi từ bi cho tới mọi sinh vật và tất cả thiên nhiên trong cái đẹp của nó”.

(L’être humain est une partie du tout que nous appelons univers, une partie limitée par le temps et l’espace. Il fait l’expérience de lui-même, de ses pensées et de ses sentiments comme des événements séparés du reste, c’est là une sorte d’illusions d’optique de sa conscience. Cette illusion est une forme de prison pour nous, car elle nous restreint à nos désirs personnels et nous contraint à réserver notre affection aux quelques personnes qui sont les plus proches de nous. Notre tâche devrait consister à nous libérer de cette prison en élargissant notre cercle de compassion de manière à y inclure toutes les créatures vivantes et toute la nature dans sa beauté”.- Page 105)

Thiền sư Nhất Hạnh lập luận:

“Máu nuôi dưỡng các tế bào trong thân thể, nhưng tất cả các bộ phận được máu nuôi dưỡng đều góp phần vào việc bồi dưỡng máu (bộ máy tiêu hóa), hoặc lọc máu (gan, phổi), hoặc đẩy máu lưu thông (tim). Như thế là tất cả mọi bộ phận trong cơ thể đều nương vào nhau mà hiện hữu, tất cả đều thông thuộc vào nhau. Vì thế ta có thể nói, “máu cần cho phổi, nên máu là của phổi, phổi cần cho máu, nên phổi là của máu”. Cứ thế mà suy luận, ta sẽ thấy không có một bộ phận nào đứng riêng rẽ một mình, tất cả đều nương vào nhau mà tồn tại”.

Rồi kết luận:

“Mỗi tế bào trong cơ thể chứa đựng sự có mặt của toàn thể các tế bào trong cơ thể”. (T.Đ.M. II”, trang 322-23).

- Nhận định của chúng tôi. Ta sẽ hết nghi ngờ về sự liên hệ giữa các tế bào, nếu ta nhớ lại rằng con người hiện tại của ta gồm hàng trăm tỉ tế bào, bắt đầu hình thành bằng hai nửa tế bào âm dương. Khoa học cho chúng ta biết, mỗi một tế bào trong cơ thể có 46 nhiễm sắc thể (chromosomes), nhưng đặc biệt là trong vấn đề thụ thai, thì tế bào của cha và trứng của mẹ, mỗi tế bào ấy chỉ có 23. Hai nửa 23, một âm, một duơng, khi kết hợp thì người mẹ thụ thai. Trong hai nửa tế bào ấy đã có đủ chất liệu để cấu tạo ra tất cả các bộ phận trong cơ thể, như tim, gan, phổi, mắt, mũi. Những đặc tính, mắt nâu hay mắt xanh, tóc đen hay tóc vàng, thông minh hay ngu đần, v.v., tất cả đều hiện hữu trong tế bào đầu tiên. Nếu không có hai nửa tế bào đầu tiên ấy, thì hàng trăm tỉ tế bào làm nên thân xác ta hiện tại cũng không có. Như thế ta có thể nói, tế bào đầu tiên chứa đựng tất cả các tế bào của thân xác. Ta cũng có thể đọc ngược lại và nói, tất cả các tế bào của thân xác được chứa đựng trong tế bào đầu tiên. Suy luận như thế để đi đến kết luận:

Một là tất cả, và tất cả là một

Suy luận thêm nữa ta có thể nói, một người là tất cả, tất cả chỉ là một người. Tôi muốn hét to lên cho vang vọng bốn phương trời: Tôi đã tìm thấy,

“Tôi là tất cả. Tất cả là tôi”.

Thiền sư Nhất Hạnh cũng có nói về vấn đề đó, bằng một câu thơ:

“Tôi là con phù du thoát hình trên mặt nước

Và là con chim sơn ca mùa xuân về

trên sông đón bắt phù du”

Trước kia tôi đã không hiểu được nhận xét của Thiền sư Đạo Hạnh (đã có nói đến ở trên) đời Lý:

“Hạt bụi này không có, thì cả Vũ Trụ cũng không có”

Và những câu trong Kinh Hoa Nghiêm, mà Thiền sư Nhất Hạnh bảo là “Làm người đọc rụng rời chân tay, nếu người đó chưa có dịp tham khảo về nguyên lý trùng trùng duyên khởi”:

“Trong mỗi hạt bụi, tôi thấy vô số cảnh giới Phật, mỗi cảnh giới đều có các Đức Như Lai với hào quang quý báu”.

Matthieu Ricard nhận định: “Trong một bài thuyết pháp của Ngài, Đức Phật mô tả sự thật như là một chuỗi hạt trai: trong mỗi hạt trai, tất cả những hạt khác đều có in hình trong đó, kể cả cái lâu đài mà những hạt trai đó trang điểm ở mặt tiền và tất cả vũ trụ, Điều này có nghĩa là trong mỗi một yếu tố của sự thật, tất cả những yếu tố khác đều có mặt. Hình ảnh này giải nghĩa rõ ràng quan niệm liên đới theo đó không thể có, bất cứ ở nơi nào trên vũ trụ, một thực thể nào đứng riêng ra khỏi toàn thể”.

Bàn về sự liên hệ giữa vạn vật với nhau, Nhân tử Nguyễn văn Thọ có viết trong “Hoa Sen” số 12 ra ngày 15/12/91, trang 39:

Kinh Hoa Nghiêm đã mô tả cái tương dung, tương nhiếp của vạn vật, trong đó mỗi vật đều như tấm gương, vừa in hình trong các vật khác, và đồng thời cũng dung chứa tất cả các vật khác”.

Quan niệm của Hoa Nghiêm làm ta liên tưởng tới lời thơ của thi sĩ Francis Thompson: