Thiền
tông là cốt tủy của đạo Phật. Đức Phật nhờ tu thiền
mà chứng đạo, được giác ngộ giải thoát. Chư Tổ cũng
thế, lấy thiền làm hơi thở, làm mạch sống của chính mình.
Đặc biệt thiền tông đã có mặt rất sớm trên đất nước
Việt Nam. Sự góp mặt của các thiền sư có một tầm vóc
quan trọng nhất định đối với vận mệnh dân tộc trong
những lúc quốc gia gặp cơn nguy biến. Cho tới bây giờ, trong
thời đại của nền văn minh công nghệ thông tin và kỹ thuật
đạt đến đỉnh cao, thì thiền đối với Phật tử Việt
Nam, vẫn rất cần thiết và quan trọng như từng hơi thở,
từng nhịp đập quả tim.
Kính
thưa đại hội,
I.
DẪN NHẬP:
Thiền
tông là cốt tủy của đạo Phật. Đức Phật nhờ tu thiền
mà chứng đạo, được giác ngộ giải thoát. Chư Tổ cũng
thế, lấy thiền làm hơi thở, làm mạch sống của chính mình.
Đặc biệt thiền tông đã có mặt rất sớm trên đất nước
Việt Nam. Sự góp mặt của các thiền sư có một tầm vóc
quan trọng nhất định đối với vận mệnh dân tộc trong
những lúc quốc gia gặp cơn nguy biến. Cho tới bây giờ, trong
thời đại của nền văn minh công nghệ thông tin và kỹ thuật
đạt đến đỉnh cao, thì thiền đối với Phật tử Việt
Nam, vẫn rất cần thiết và quan trọng như từng hơi thở,
từng nhịp đập quả tim.
II.
NỘI DUNG CHÍNH:
1.
Thiền
tông là cốt tủy của đạo Phật:
Như
đã nói thiền định đưa chúng sanh đi tới sự giác ngộ
giải thoát. Giác ngộ là nhận thấy lẽ thật nơi con người
và vũ trụ hay thấu triệt được lý duyên sanh của vạn vật
trên thế gian. Tất cả đều không có chủ thể và cố định.
Đức Phật đi tu vì nhìn thấy cảnh già, bệnh, chết của
con người, Ngài nhất định tìm ra một lối thoát. Muốn tìm
được lối thoát ấy, Ngài đã quyết tâm thiền định dưới
cội bồ-đề. Khi công phu thiền định đã thành tựu, Ngài
được giác ngộ, thấy rõ lẽ thật nơi con người và vũ
trụ.
Về
con người, Ngài thấy rõ tại sao chúng ta có mặt ở đây,
nguyên nhân nào lôi cuốn chúng ta trở đi trở lại và làm
sao để thoát được nó. Như vậy do đức Phật xoay lại,
nhắm thẳng vào con người, nên bao nhiêu kinh điển của Phật
đều nhắc nhở chúng ta tu để được giải thoát sanh, già,
bệnh, chết. Về các pháp, đức Phật thấu triệt được
lý nhân duyên sanh. Từ lý nhân duyên sanh mà có vạn vật trên
thế gian. Khi thấy được lý nhân duyên rồi, Phật nói tất
cả con người hay muôn pháp đều vô ngã, không có chủ thể.
Các pháp cũng không có gì cố định. Không chủ thể, không
cố định nên gọi là vô thường. Vô ngã, vô thường; cái
nhìn đó phải chăng cũng là cái nhìn của khoa học hiện nay?
Chúng
ta không chối cãi được muôn sự muôn vật ở thế gian này,
không có vật gì do một người làm ra, cũng không có vật
gì nguyên từ một vật thể thành hình, hoặc do một đấng
thiêng liêng tạo nên. Tất cả đều do các duyên tụ hợp
lại mà có. Đã từ các duyên tụ hợp thì không có cái gì
chủ thể, tức là vô ngã. Đó là đặc điểm chủ yếu của
đạo Phật về thuyết vô ngã.
Nhờ
tu thiền định, có trí tuệ mà đức Phật thấy như thế
và dạy lại cho tất cả chúng ta cùng tu để được giải
thoát như Ngài. Thế nên nói thiền tông là cốt tủy của
đạo Phật.
2.
Thiền
với Phật giáo và dân tộc Việt Nam:
Thiền
tông đã có mặt rất sớm trên đất nước ta, do Thiền sư
Tỳ-ni- đa-lưu- chi truyền vào năm 580 TL. Kế đó Thiền sư
Vô Ngôn Thông truyền vào năm 820 TL. Sau đó Thiền sư Thảo
Đường truyền vào năm 1069 TL. Cuối cùng Tông Tào Động,
Tông Lâm Tế truyền vào Đàng trong, Đàng ngoài vào thế kỷ
thứ XVII. Như vậy chúng ta có thể nói rằng Thiền tông đã
có mặt trên đất nước Việt Nam từ cuối thế kỷ thứ
VI.
Sử
liệu còn ghi lại, những nhà sư nổi tiếng truyền bá đạo
lý hoặc làm ích nước lợi dân v.v... phần lớn là Thiền
sư. Trước đời Lý Trần và sau đời Lý Trần cũng thế.
Cho nên thiền tông đã gắn bó với dân tộc Việt Nam thật
sâu đậm. Hiện giờ ở các ngôi chùa cổ, những bài vị
thờ Tổ đều ghi lại quý Ngài kế thừa Tông Lâm Tế hoặc
Tông Tào Động. Những vị Hòa thượng nổi tiếng hiện nay
cũng thuộc các tông ấy. Nếu thế thì các Ngài đều có quan
hệ gia phả trong nhà Thiền. Tuy nhiên phương pháp tu hành có
thể uyển chuyển khác đi một chút. Như vậy nói Thiền tông
là nói tới Phật giáo Việt Nam.
Theo
dòng lịch sử, sự đóng góp của các thiền sư đối với
dân tộc Việt Nam là không thể phủ nhận được. Như các
Thiền sư trước thời Đinh, Lê tức trước thời những vị
đứng ra giành độc lập cho xứ sở, các ngài đều có sự
ủng hộ hay chuẩn bị cho nền độc lập của đất nước.
Chẳng hạn như ngài La Quí An, sau này ngài Đỗ Pháp Thuận,
ngài Khuông Việt. Tới đời Lý, có ngài Vạn Hạnh v.v... Các
Thiền sư đã từng cố vấn và đứng ra gánh vác một phần
trọng trách trong việc giành độc lập cho xứ sở. Song đến
khi nước nhà thanh bình, các ngài đều lui về quy ẩn nơi
rừng núi, vui với suối, đùa với mây. Không gì thích thú
bằng! Cư trần bất nhiễm trần. Đó chính là nét xuất cách,
tiêu sái, cao đẹp lạ thường của thiền sư Việt Nam.
Chúng
ta biết thêm rằng chư sư nước ta cũng học chữ Hán, học
để hiểu kinh điển mà ứng dụng tu. Nên các ngài có nền
văn hóa độc lập, không bị nhồi sọ bởi người Trung Hoa.
Vì vậy các triều đại vua ta rất trọng dụng quí ngài, nhất
là trên mặt văn hóa. Có thể nói thiền học là một mảng
văn hóa lớn và có sức ảnh hưởng rộng đến đông đảo
nhân dân ta trong nhiều giai đoạn lịch sử. Rõ ràng ngay từ
đầu, Phật giáo đã gắn liền với dân tộc, sự còn mất
của đất nước tức là sự còn mất của Phật giáo. Đó
là lý do tại sao các Thiền sư được đắc dụng trong triều
đình.
3-
Tông
chỉ tu hành của các thiền sư Việt Nam.
Tông
chỉ tu hành của các Thiền sư Việt Nam được thể hiện
qua cuộc đời, lời huấn thị và các bài kệ của các Ngài.
Thiền sư Vạn Hạnh nổi tiếng với bài kệ:
Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc Xuân vinh Thu hựu khô
Nhậm vận thịnh suy vô bố úy
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.
Dịch:
Thân như bóng chớp có rồi không,
Cây cỏ xuân tươi, thu đượm hồng,
Mặc cuộc thịnh suy không sợ hãi,
Thịnh suy như cỏ hạt sương đông.
(HT. Thanh Từ – Thiền sư Việt Nam)
Bốn
câu kệ thật đơn giản nhưng nói lên toàn bộ nhân sinh quan
của thiền sư. Ngài nhìn thấy thân như lằn chớp, như chiếc
bóng. Tất cả sự vật đều biến chuyển vô thường, không
có gì quan trọng. Do không quan trọng nên không sợ hãi. Vì
vậy sống vô úy an nhiên giữa những cơn sóng gió vô thường.
Đến
bài kệ của Thiền sư Mãn Giác:
Xuân khứ bách hoa lạc,
Xuân đáo bách hoa khai.
Sự trục nhãn tiền quá,
Lão tùng đầu thượng lai.
Mạc vị Xuân tàn hoa lạc tận,
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.
Dịch :
Xuân đi trăm hoa rụng,
Xuân đến trăm hoa cười,
Trước mắt việc đi mãi,
Trên đầu già đến rồi.
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết,
Đêm qua, sân trước, một cành mai.
(HT. Thanh Từ – Thiền sư Việt Nam)
Nói
hoa cũng chính là nói tất cả sự vật trên thế gian, mọi
thứ đều theo thời gian mà sanh diệt. Thiền sư mượn cành
mai để nói tuy sự tướng của muôn vật là một dòng chuyển
biến không dừng, nhưng trong đó ngầm chứa một cái mà thời
gian không chi phối nổi, không hoại diệt nổi. Đó là mùa
xuân miên viễn, là tâm chân thật nơi mỗi chúng ta.
Đến
Sơ Tổ Trúc Lâm Đầu-đà thì thật là thiền vị với bài
Cư Trần Lạc Đạo:
Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên
Gia trung hữu bảo hưu tầm mích
Đối cảnh vô tâm mạc vấn Thiền.
Dịch:
Ở đời vui đạo hãy tùy duyên
Đói đến thì ăn mệt ngủ liền
Trong nhà có báu thôi tìm kiếm
Đối cảnh không tâm chớ hỏi Thiền.
(HT. Thanh Từ – Thiền sư Việt Nam)
Như
chúng ta đã biết, tinh thần của thiền phái Trúc Lâm Yên
Tử đời Trần là tinh thần xuất thế để nhập thế. Sống
ngay trong lòng đời mà muốn vui với đạo thì phải khéo tùy
duyên. Tùy thuận theo hoàn cảnh để giữ được con đường
tu cho mình là một việc làm đòi hỏi phải có trí tuệ và
lập trường vững vàng. Đói ăn mệt ngủ trong nhà thiền
phải là một cái tâm vô nhiễm vô úy mới đảm đương nổi.
Chuyện nói nghe tầm thường mà thật ra không phải tầm thường.
Đó chính là tinh thần, là sức mạnh của người làm chủ
được mình.
Trong
nhà có báu sẵn, không phải tìm kiếm ở đâu. Cho nên phải
ngay nơi mình mà nhận lấy của báu. Nhận được của báu
thì mọi sự như ý. Cũng vậy, người tu thấy được tánh
giác rồi thì mọi việc đều được mãn nguyện. Câu cuối
cùng Đối cảnh không tâm chớ hỏi thiền rất thâm thúy.
Chỉ khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần mà không khởi niệm,
không dính mắc là thiền rồi. Muốn làm được như thế mỗi
chúng ta phải thực sự là hành giả sống chết với công
phu hành thiền, chớ không thể nói suông.
Và
còn một hình ảnh rất đẹp của thiền sư Huyền Quang:
Rũ không thay thảy ánh phồn hoa,
Lấy chốn Thiền lâm làm cửa nhà.
Khuya sớm sáng choang đèn Bát-nhã,
Hôm mai rửa sạch nước Ma-ha.
Lòng Thiền vằng vặc trăng soi giại,
Thế sự hiu hiu gió thổi qua.
Cốc được tính ta nên Bụt thực,
Ngại chi non nước cảnh đường xa.
Qua
bài thơ, chúng ta thấy trong công phu, trước các Ngài dùng
trí tuệ Bát-nhã dẹp sạch phiền não, sau ngộ được lý
thiền thì tâm tự trong sáng, nhận nơi mình có tánh Phật
sẵn, không phải tìm kiếm ở đâu cả.
Chúng
tôi lược dẫn những bài thi kệ của các thiền sư, vừa
nói lên giá trị văn học của dòng thiền Việt Nam, vừa khẳng
định cái vô giá của sự thể nghiệm, thân chứng thiền
là bất diệt với thời gian và không gian. Thật ra ngôn ngữ
không thể với tới chỗ tột cùng sâu lắng ấy được, nó
chỉ là phương tiện ngầm báo sự hằng hữu của một tâm
thể nhi nhiên thanh tịnh bên trong mà thôi. Người xưa nói
«Đạo bổn vô ngôn, ngôn năng tải đạo». Đạo vốn không
lời, nhưng lời hay chuyển tải đạo. Đó là chân tinh thần
tu tập của Thiền tông Việt Nam.
Với
sự có mặt của thiền tông như đã nói, các vị tôn túc
trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong giai đoạn gần đây,
cũng đã thừa nhận lĩnh vực thiền học và thiền hành có
một giá trị nhất định trong đời sống tâm linh của những
người tu Phật. Hơn thế nữa, các Ngài còn cổ xúy phục
hưng, phát huy thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đời Trần như
một tinh ba của Phật giáo nước nhà cần phải được bảo
tồn và thiệu đăng thánh chủng. Đây là dấu hiệu đáng
trân quý của Phật giáo Việt Nam, là tin vui của Tăng Ni Phật
tử Việt Nam. Ngày nay, thiền tông Việt Nam có cơ duyên phát
triển cũng nhờ vào uy đức của lịch đại Tổ sư thuở
trước, dĩ nhiên chính yếu vì thiền là nguồn sống bất
diệt vô thủy vô chung của cái tâm Phật chân thật có sẵn
nơi mỗi chúng sanh, vượt ngoài hạn lượng đối đãi nhị
nguyên.
III.
KẾT LUẬN:
Thiền
là một dòng sống mà ở đó không có sự ngắt quãng của
hơi thở thực tại. Ngắt quãng là chết. Chúng ta có thể
vào thiền từ bất cứ ngõ nào, vì toàn thể đời sống là
một sự thiền định uyên nguyên. Thiền không chỉ là một
phần trong sự sống mà là sự sống, là hơi thở. Chúng ta
vẫn luôn luôn thở dù đang làm bất cứ việc gì, chứ không
thể lúc thở lúc không. Và vì thế thiền là một hơi thở
hiện sinh. Từ thiền định mà trí tuệ phát sinh. Và một
khi trí tuệ chân thật đã phát sinh thì toàn bộ khối si ám
vô minh vỡ tung. Chân trời an vui giải thoát mở toang, mặc
tình cho hành giả cất bước thênh thang. Chính vì thế thiền
tông đã đang và luôn sống mãi trong lòng Phật giáo và dân
tộc Việt Nam.
Kính
thưa đại hội,
Chúng
tôi trình bày những điều này chỉ là thiển nghĩ như thế
thôi, dám mong những bậc thức giả quan tâm chiếu cố. Thật
ra sự tu tập và thân chứng quý ở lòng thành và phải là
tự mình trải nghiệm mới được.
Rất
mong thay!
Trân
trọng kính chào đại hội. Kính chúc đại hội thành công
tốt đẹp.
(*)
HT. Thích Nhật Quang Viện chủ Thiền
viện Thường Chiếu, Đồng Nai)
(Tham
luận tại Hội thảo "Phật giáo trong thời đại mới: Cơ
hội và Thách thức" do Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam
thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức)
HT.
Thích Nhật Quang (*)
MỤC
LỤC
TIN
TỨC VÀ HÌNH ẢNH