Tác
giả Nguyễn Hữu Thái, kiến trúc sư Sài Gòn, nghiên cứu và
thỉnh giảng tại các đại học Tây Âu & Bắc Mỹ. Từ
1995 đến 2003, về lại Việt Nam công tác tư vấn đầu tư
xây dựng, viết sách báo và giảng dạy đại học. Đang tham
quan nghiên cứu đô thị và kiến trúc Âu Mỹ, hợp tác nghiên
cứu tại Trung tâm Việt Nam Học của Đại học Temple
(Philadelphia) và Trung tâm William Joiner (nghiên cứu chiến tranh
& hậu quả của chiến tranh) thuộc Đại học Massachusetts
Boston, Hoa Kỳ. Cộng tác viên thường xuyên của báo Giác Ngộ,
Tp.HCM.
Phật
giáo ngày càng xuất hiện như một giải đáp tâm linh cho thế
giới loài người đang khủng hoảng trân trọng về nhiều
mặt. Nhưng phải chăng chúng ta đang chứng kiến một sự kiện
mâu thuẫn kỳ lạ: trong khi phong trào Phật giáo mới ở phương
Tây đang quay về nguồn, tìm ra con đường tu tập và hành
đạo đầy sáng tạo, thì Phật giáo nguồn gốc châu Á truyền
thống có mặt ở phương Tây đa phần vẫn còn sa lầy trong
trì trệ và bảo thủ. Làm sao thu hút được giới trẻ và
trí thức đang là mối bận tâm chung của xu thế đổi mới
Phật giáo ở phương Tây, đặc biệt trong cộng đồng người
châu Á ở nước ngoài. Bài này đúc kết một số quan sát
bản thân tác giả ghi nhận được tại phương Tây suốt mấy
năm qua, với nội dung: (1) Phật giáo như giải đáp tâm
linh mới (2) con đường tu tập và hành đạo sáng tạo và
(3) hướng đột phá mới trong Phật giáo châu Á tại phương
Tây.
“Sự
kiện có ý nghĩa nhất của thế kỷ 20 là sự gặp gỡ giữa
đạo Phật và phương Tây”. Tôi nghĩ rằng nhận định đó
của nhà sử học nổi tiếng người Anh Arnold Toynbee về các
nền văn minh loài người, đang là một hiện thực.
Thật
ra, Phật giáo như một tôn giáo và triết học phương Đông
đã đến phương Tây từ thế kỷ 19, nhưng lại chỉ giới
hạn trong giới nghiên cứu học thuật và trí thức. Phật
giáo chỉ nở rộ và đi vào xã hội phương Tây vào nửa sau
của thế kỷ 20 khi nền văn minh vật chất của phương Tây
đi vào thế bế tắc và hướng về các truyền thống tâm
linh phương Đông tìm lời giải đáp. Người phương Tây nay
chủ yếu đến với đạo Phật như một triết lý sống và
một phương pháp tu luyện tâm linh.
Phải
chăng các con số như đang có hơn 10 triệu Phật tử ở Mỹ,
5 triệu ở Pháp là đã bao gồm số Phật tử gốc châu Á
đang sinh sống tại các nước này. Kể ra thật khó mà xác
định con số người theo đạo Phật ở nước ngoài cũng như
ở ngay chính trong nước ta, nếu chỉ căn cứ vào các con số
thống kê cứng ngắt. Ở phương Tây người ta cũng đang tranh
luận phải chăng những người gọi là theo đạo Phật đó
thật sự là tín đồ Phật giáo mới ở phương Tây hoặc
họ chỉ là những người tu tập hành thiền, những kẻ đang
thực hành một bộ môn dưỡng sinh kiểu thời thượng phương
Đông nào đó?
Có
đi sâu vào sinh hoạt trí thức và tâm linh ở phương Tây ngày
nay, nhìn ra những cái bế tắc của xã hội kỹ thuật-vật
chất ở đây, ta mới nhìn thấy hết khát vọng của con người
hiện đại. Đó là làm sao dung hòa được việc duy trì được
những thành tựu khoa học lẫn tiện nghi vật chất cùng với
ước vọng vươn tới một cuộc sống tâm linh thanh cao.
Do
hậu quả của khuynh hướng chống giáo quyền và “thế tục
hóa tâm linh”, đa số người phương Tây ngày nay đến với
đạo Phật không phải như một tôn giáo, tín ngưỡng mà như
một con đường trí tuệ, một con đường giải thoát tâm
linh. Và cũng khác với phương Đông, nơi mà đạo Phật là
một tôn giáo và một truyền thống văn hóa với các trung
tâm Phật giáo được định hình từ lâu. Ở phương Tây,
sinh hoạt Phật giáo từ bước đầu đã nghiêng về chiều
sâu, nhấn mạnh đến đời sống nội tâm, tìm kiếm những
giá trị tinh thần, hơn là quan tâm đến tín lý, giáo điều
của tôn giáo truyền thống.
Do
đó, việc xây dựng các trung tâm Phật giáo, tự viện, thiền
thất ở đây cũng được quan niệm một cách khác, không mấy
chú trọng đến hình thức kiến trúc qui mô mang tính phô diễn,
diêm dúa kiểu dân gian như thường thấy ở phương Đông.
Theo tôi thì các chùa Phật kiểu truyền thống của các cộng
đồng người châu Á ở phương Tây thường khép kín, pha tạp
mê tín dị đoan, xa lạ, nên rất khó hấp dẫn người phương
Tây và ngay cả lớp người trẻ và trí thức gốc châu Á.
Cho
đến nay, bản thân tôi chưa nhìn thấy một tự viện nào
to lớn do chính người phương Tây xây dựng lên, mà đó chỉ
có những công trình thiền thất giản dị và khiêm tốn, chủ
yếu hướng về nội thất thanh tịnh bên trong và mở ra thiên
nhiên bên ngoài. Điều này rồi cũng dần dần tác động đến
các trung tâm sinh hoạt Phật giáo mang tính “đổi mới”
của các cộng đồng Phật tử trí thức người gốc châu
Á ở phương Tây.
Trong
thực tế, nhiều nơi ở đây đã xuất hiện các thiền thất,
trung tâm nghiên cứu và tu tập Phật giáo do chính người phương
Tây bỏ công sức xây dựng và tự điều hành. Các công trình
này thường nằm ngoài và không dính dáng gì đến các chùa
Phật mang tính truyền thống và quốc tịch gốc của các cộng
đồng người châu Á.
Chẳng
hạn như ở Pháp, nay mỗi sáng chủ nhật ta có thể xem truyền
hình Tiếng nói Phật giáo trên sóng France 2. Hầu hết các
khoa xã hội và nhân văn của đại học lớn phương Tây đều
có giảng dạy triết học Phật giáo. Nhiều khóa tu tập thiền
định, đọc kinh sách, học giáo lý Phật giáo diễn ra tại
các học viện, thiền viện chuyên biệt. Tham khảo sách báo
truyền bá đạo Phật ở phương Tây, ta phải nhìn nhận
chúng khá phong phú, sáng sủa, khoa học, tập trung vào giáo
lý căn bản, tinh túy của đạo Phật, không sa đà vào những
điều huyền hoặc, phản khoa học, mê tín dị đoan còn đầy
dẫy ở Phật giáo cổ truyền châu Á.
Tuy
cũng có người phương Tây xuất gia, thọ giới, gia nhập Tăng
đoàn nhưng số này không nhiều so với Phật tử tại gia.
Do khuynh hướng thế tục hóa tâm linh, đạo Phật phương
Tây cho đến nay chủ yếu là của những người cư sĩ. Đạo
Phật nhập thế chứ không phải một đạo Phật xuất thế.
Phần lớn các Phật tử phương Tây chọn lựa tiếp tục sinh
sống trong gia đình và xã hội. Người Phật tử phương Tây
thường không gia nhập hẵn vào một khuông hội hoặc phụ
thuộc vào một ngôi chùa do một tăng sĩ đầy quyền uy lãnh
đạo, mà chỉ gắn kết với nhau qua một học hội, thiền
đường do chính các cư sĩ điều hành lấy. Dĩ nhiên họ cũng
được các thiền sư hoặc tăng sĩ truyền giảng giáo pháp
hoặc hướng dẫn tu tập. Nhưng ở đây, nam nữ, tăng sĩ,
cư sĩ, tất cả những đệ tử của Đức Phật đều bình
đẳng trên mặt tâm linh. Tôi đã nhìn thấy những thiền sư
phương Tây tập họp các nhóm đệ tử để truyền dạy giáo
lý cho họ, nhưng vẫn cùng ngồi tĩnh tọa và diện bích như
các đệ tử của các ngài.
Một
sự kiện lạ lùng là việc truyền bá Phật pháp các thập
kỷ gần đây ở phương Tây phần lớn lại do công sức của
các Lạt-ma Tây Tạng. Họ là những nhà sư phương Đông lần
đầu tiên gây được sự chú ý của người phương Tây đến
Phật giáo cũng như kịp thời đem đến cho họ một thế giới
tâm linh và thế giới nội tâm mới. Gần đây, cũng xuất
hiện một số thiền sư người châu Á khác truyền bá Phật
pháp theo lối mới, biết cách trình bày giáo lý của Đức
Phật và đã thật sự lôi cuốn được rộng rãi người Âu
Mỹ. Họ tác động bằng chính các phương tiện truyền thông
đại chúng như sách báo, truyền hình và các khóa tu tập hành
thiền tập thể khắp Châu Âu và Hoa Kỳ.
Odiyan là trung tâm Phật giáo Tây Tạng vào hàng lớn nhất
thế giới tọa lạc trên một khu đất rộng cả trăm mẫu
ở bang California, Hoa Kỳ. Tuy do vị Lạt-ma Tarthang Tulku sáng
lập và điều hành với sự hỗ trợ của tăng sĩ và cư sĩ
Mỹ, nhưng trung tâm này là kết quả công sức lao động và
quyên góp suốt 20 năm trời của chính Phật tử Mỹ.
Đền
Ngàn Phật của phái Dashang Kagyu Ling ở vùng Bourgogne nước
Pháp cũng là trung tâm Phật giáo Tây Tạng lớn nhất Châu
Âu. Vào năm 1974, đệ tử của vị Lạt-ma Kalou Rinpotché đã
quyên góp mua lại lâu đài Plaige và khu đồi chung quanh. Nhiều
đoàn thiện nguyện cho đến nay vẫn còn tiếp tục công tác
hoàn tất công trình. Ngoài sự hấp dẫn của một công trình
tôn giáo mang tính chất văn hóa dân gian phương Đông, trung
tâm Phật giáo này đã lôi cuốn được nhiều người do các
loại hình hoạt động phong phú thực tiễn khác.
Tôi
đã nhìn thấy nhiều nhóm người châu Âu đến đăng ký theo
các khóa tu học, hành thiền theo từng trình độ. Bên cạnh
đó, họ còn mở các khóa huấn luyện ngắn ngày về dưỡng
sinh, yoga, khí công, y học phương Đông do chính người phương
Tây đảm trách.
Các
chùa này đều bố cục theo đồ hình Mandala, mang đậm phong
cách kiến trúc Mật tông. Tuy vậy, các Lạt-ma cũng xác định
rằng các hình thức nghi lễ, thần chú, ấn quyết, đồ hình
chỉ là những phương tiện nhắm tác động vào tinh thần
hơn là các hình thức tín ngưỡng. Điều này phù hợp với
Phật tử phương Tây đặt nặng vào trí tuệ hơn là vào đức
tin. Nếu có tin tưởng thì đó là niềm tin vào Chánh đạo,
những bậc Thầy, những người chỉ đường đã đi trước,
chứ không phải vào sự sùng tín các thần linh đầy quyền
phép nào đó.
So
sánh với các trung tâm Phật giáo xây dựng theo kiểu truyền
thống Himalaya kể trên, thì những “Làng Hồng” rồi nay
là “Làng Mai” ở Pháp hoặc các cơ sở tu tập tương tự
ở California của Thiền sư Nhất Hạnh dễ gần gũi với người
phương Tây hơn. Chúng chẳng những đã thu hút được giới
trẻ và trí thức châu Á mà cũng lôi cuốn không ít người
phương Tây, kể cả các tín đồ tôn giáo khác. Các trung tâm
Phật giáo kiểu mới này không còn lấy ngôi chùa làm trung
tâm mà chủ yếu tạo các phức hợp thiền thất để
tu học và tham thiền mở ra giữa khung cảnh thiên nhiên. Trang
trí thiền thất đơn giản, nghi thức nghiêm túc nhưng không
rườm rà, giáo lý, kinh kệ hoàn toàn bằng tiếng Việt (hoặc
tiếng Anh). Một số ‘Làng Thiền’ tổ chức theo lối ấy
đã xuất hiện từ hàng chục năm nay.
Trúc
lâm Thiền viện (do thầy Thiện Châu sáng lập) tọa lạc trên
một khu đồi thơ mộng nằm ở ngoại vi Paris, Làng Mai ở
Pháp và các trung tâm tu tập tương tự ở California, Hoa Kỳ
(do thầy Nhất hạnh chủ xướng) đã thật sự trở thành
các cực hút thật mạnh giới trẻ và trí thức người Việt
lẫn người phương Tây. Trong tinh thần đó, ở ngoại vi thành
phố Montréal tại Canada cũng xuất hiện trung tâm tham thiền
‘Làng Cây Phong’ với với các đợt tu tập thiền định
ngắn ngày, thỉnh thoảng có các bậc danh sư đến trực tiếp
hướng dẫn tu tập.
Tại
châu Âu ngày nay phải kể đến trường phái Phật giáo đổi
mới “Soka Gakkai” (Sáng Giá Học Hội). Đây có lẽ là một
trường hợp ngoại lệ về một dạng tổ chức Phật giáo
chặt chẽ theo lối Nhật Bản ở Pháp, với một vạn tín
đồ. Tông phái này đang có 10 triệu tín đồ ở Nhật Bản,
tham gia cả vào chính trường, sở dĩ thu hút nhiều người
do khuynh hướng nhập thế tích cực, dấn thân làm trong sáng
xã hội và chính trị. Họ cũng không ngại ngùng khi công bố
ra ở phương Tây rằng họ là “Tông phái Phật giáo chính
thống duy nhất”.
Hiện
nay ở phương Tây đang bàng bạc một luồng sinh khí mới có
tác dụng thúc đẩy nhanh tìến trình phục hưng Phật giáo.
Như vậy là Phật giáo không còn bó hẹp trong bối cảnh châu
Á và đang có khuynh hướng toàn cầu hóa. Phải chăng đó là
do cơ may đạo Phật đang được chấp nhận và truyền bá
ở phương Tây, trong đó có sự đóng góp rất đáng kể của
những nhà cách tân Phật giáo gốc phương Đông, gồm các
nhà sư Tây Tạng, Nhật Bản và cả Việt Nam nữa.