I
) TÌNH HÌNH PHẬT GIÁO VIỆT NAM, CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC
Xã
hội Việt Nam ta hiện nay đang trải qua những biến đổi lớn
hằng ngày trên các lãnh vực truyền thông, kinh tế, thương
mại, quan hệ quốc tế v.v… Sau gần một thế kỷ tụt hậu,
kỷ nguyên 21 mở ra nhiều triển vọng đối với Dân tộc
ta với nhiều thách thức… Sự phát triển bền vững nhất
chính là sự phát triển con người, mà tư tưởng triết học,
tâm lý học và xã hội học Phật giáo Việt Nam được thể
hiện như một hệ thống khoa học thực nghiệm tổng hợp
có liên hệ trực tiếp đến những khát vọng của nhân dân
Việt Nam hiện nay.
Cục
diện toàn cầu tuy có xu hướng hòa dịu, giảm bớt đối
đầu, nhưng những yếu tố bất ổn và khả năng xung đột
như Kitô giáo, Do Thái giáo và Hồi giáo ngày càng tăng vọt.
Vấn đề tranh chấp biên giới, tranh chấp tài nguyên thiên
nhiên như dầu lửa, khí đốt; Vấn đề chế tạo vũ khí
nguyên tử; Vấn đề vi phạm nhân quyền; Vấn đề chênh lệch
giàu nghèo quá cao giữa các nước và ngay trong xã hội Việt
Nam, đòi hỏi một cuộc đổi mới tư duy làm lành mạnh hóa
con người Việt,
Ngày
nay, Phật học được xem như là một triết lý khoa học, phù
hợp với xã hội văn minh hiện đại, có sức thu hút rất
lớn đối với các dân tộc phương tây. Nhìn được như vậy,
Phật giáo Việt Nam phải làm gì để đáp ứng và hành xử
giữa thời đại mới, qua vô vàn những thách thức phức tạp
mà Phật giáo Việt Nam đã thấy rõ thật tướng của xã hội
đương thời cả Đông lẫn Tây, nên cuộc Hội thảo nầy
sẽ có tác dụng không ít đối với nhân loại, đối với
đất nước, Dân tộc và Đạo Pháp hiện nay tại Việt Nam.
Đây là cơ hội.
II
) ÔN CỐ TRI TÂN VÀ THẢO LUẬN:
Chúng
ta thừa biết, Đất nước Việt Nam đã trải qua biết bao
thời đại, từ cuối thế kỷ XIX đến nay. Thời Quân chủ
do thực dân Pháp bảo hộ của Cựu Hoàng Bảo Đại. Đến
thời Dân Chủ Cộng Hoà do Chủ tịch Hồ Chí Minh lập nên
tại miền Bắc Việt Nam. Thời Đệ Nhất Cộng Hoà vọng ngoại
theo Tòa Thánh La Mã đàn áp Phật giáo của Tổng Thống Ngô
Đình Diệm, rồi đến thời Đệ Nhị Cộng Hoà tham nhũng
cai thầu chiến tranh của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, cho
đến ngày thống nhất đất nước bằng vũ lực của Đảng
Cộng Sản Việt nam sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời,
đất nước ta có hơn gì các nước bạn lân bang ở vùng Đông
Nam Á Châu. dân tộc ta đâu có được hưởng thái bình an
vui, hạnh phúc như các dân tộc bạn! Tinh thần vọng ngoại
và thái độ cao ngạo, bế quan tỏa cảng của kẻ thắng kiệt
sức đã làm bại vong đất nước một cách thê thảm ! Nhân
dân đói nghèo lại bị cấm vận không theo kịp đà tiến
hóa văn minh của nhân loại toàn cầu !
Mãi
cho đến sau khi đổi mới với chính sách mở cửa, cởi trói
cho Trí thức Sĩ, Nông, Công, Thương, ta còn chưa lo được
hàng triệu thương binh đang còn ngắc ngoải, nói gì đến
hiện đại hóa quân lực mà nhân dân đang mất niềm tin.
Chúng
ta cần thật tình ôn lại những bài học đích đáng thời
xưa, đời Lý, đời Trần các nhà vua lãnh đạo đất nước
thì nước nhà hưng thịnh, dân tộc phú cường. Thời mà Phật
giáo và Dân tộc là một, thời mà truyền thống đạo đức
của Tổ Tiên ta sáng ngời trong lòng dân tộc. Nếu các ngài
lãnh đạo quốc gia trải qua từng thời, mang ngọn đèn Chánh
Pháp và lý tưởng quốc gia để hành xử, để phụng sự
và phục vụ cho dân, cho nước đúng với lương tâm và trách
nhiệm của người lãnh đạo thì có phước cho đất nước
và dân tộc ta biết bao nhiêu. (Ôn cố tri tân )
Xin
mọi người hãy tự mình thắp lên ngọn đèn chân lý rực
sáng ngôi nhà Dân tộc.
Trong
phần nầy, chúng tôi xin nêu lên vài ý kiến thô thiển, để
góp phần vào Hội thảo trong tinh thần xây dựng, phụng sự
Phật Pháp và Dân tộc.
a)
Giáo Dục và Đào Tạo Nhân Tài :
Phật
giáo Việt Nam trong hiện tại, “Cần Đào Tạo Nhân Tài”,
để đẩy mạnh công tác giáo dục xã hội. Giáo dục sẽ
hướng tới việc phát triển trí tuệ, tác phong và tư cách
công dân để có thể đóng góp tích cực vào công cuộc tái
thiết đất nước và chấn hưng kinh tế.
Nhân
tài luôn là cái vốn quý báu nhất của quốc gia, và giáo
dục chính là phương pháp hoàn hảo nhất để khuyếch trương
cái vốn quý ấy. Giáo dục bao giờ cũng là vấn đề quan
tâm hàng đầu của bất cứ chính quyền nào biết nhìn xa
thấy rộng. Trong các chế độ dân chủ vấn đề giáo dục
không phải là độc quyền của Chính phủ, và cũng không phải
là trách nhiệm riêng của một đảng phái nào hay Tôn giáo
nào được nhà nước giao khoán, mà là trách nhiệm chung của
toàn dân. Nhu cầu lâu dài của quốc gia đòi hỏi sự lưu
tâm của những người làm chính sách quốc gia, nói chung, cũng
như của những cá nhân hoặc tổ chức, các cơ quan có liên
hệ đến lãnh vực giáo dục. Công tác giáo dục là toàn bộ
những nổ lực vận dụng tài nguyên quốc gia, đào tạo nhân
tài.
Về
nội dung giáo dục, bất cứ chính sách giáo dục nào cũng
nhằm đào tạo những mẫu người công dân tài đức để
đáp ứng nhu cầu quốc gia. Tương lai đất nước của chúng
ta có sáng sủa hay vẫn đen tối đều tùy thuộc vào nền
giáo dục. Khủng hoảng hiện tại trong nền giáo dục đại
chúng và huấn nghiệp của Việt Nam đã chứng minh sự thất
bại hoàn toàn của đường lối “thương mại hóa giáo dục”được
du nhập từ ngoài vào qua nhiều thập niên, đã tác hại trên
ba mặt chính trị, kinh tế và xã hội tại Việt Nam.
Chính
quyền cũng như các nhà lãnh đạo Phật giáo nhìn thấy những
vấn đề khổng lồ của thời nay mà Việt Nam phải đối
phó. Nếu không nhìn thấy mức độ to lớn của những khó
khăn đã và đang chờ đón, người ta không thể hình dung ra
được những nhu cầu cần thiết phải đáp ứng, trong đó
có vấn đề giáo dục trong đời sống cạnh tranh đa dạng
của thế giới. Mục tiêu chú trọng vào cá nhân là trí, đức,
và thể dục, giúp con người mưu cầu hạnh phúc cá nhân qua
sự nẩy nở của tinh thần và thể xác trong sự tôn trọng
quyền lợi chung với tâm hồn phóng khoáng. Mỗi cá nhân cần
có ý thức tự tin, tự chủ, tự lập, tự tu mà phục vụ
tổ quốc, bảo vệ hòa bình. “Tâm Bình thì Thế Giới Bình”.
Trong
bối cảnh hiện nay, dân chúng Việt Nam sống chụp giựt. mánh
mung, còn quan chức thì hối lộ, tham ô, làm sao có thể giữ
được nền Hòa bình công chính cho đất nước và dân tộc.
Ai đó rước voi về dày mồ là chuyện không tránh khỏi của
những người đã tự mình bán đứng lương tâm !
Trước
tình hình thế giới có nhiều biến chuyển nhanh chóng, Phật
học giúp cho người dân Việt có trình độ hiểu biết cơ
bản để suy luận và tham dự vào sinh hoạt xã hội. Vì vậy
chương trình giáo dục được hướng dẫn cụ thể cho mọi
học sinh các cấp về lịch sử, văn hóa, phong tục, tập quán
và lễ giáo của quốc gia. Với tinh thần nhân bản dân tộc
đề cao, tôn trọng giá trị con người, không có ý tạo thành
công cụ phục vụ cho một mục tiêu đảng phái nào. Nên giáo
dục phải mở rộng cho tất cả mọi người chứ không dành
riêng hoặc ưu tiên cho một thành phần thiểu số ưu đãi
nào. Mọi người đều có quyền được hưởng giáo dục,
cơ hội đồng đều nếu Chính phủ biết khai thác khả năng
của các Tôn giáo, nhất là Phật giáo đã chiếm 80% dân số
Việt Nam.
Thiết
tưởng ở đây cũng cần nói về tư tưởng giáo dục chính
trị trong Phật giáo:“Phật giáo giải quyết được mọi
vấn đề của con người, trong đó có cả vấn đề giáo dục,
quản lý quốc gia có tình có lý”.
Đức
Phật nói về nghệ thuật trị nước trong kinh Dasa Rija-Dharma,
có mười đức tính như sau:
Mười
đức tính của một vị Quốc Vương phải có là:
1.
Dàna (Bác Ái) Bổn phận của vị Quân Vương là phải bảo
vệ, săn sóc đời sống của nhân dân, giúp dân no cơm áo
ấm, thuốc men, nhà cửa v.v…
2.
Sila (Đạo đức) Quân Vương phải giữ gìn đạo đức cá
nhân cũng như các quan chức, phải làm gương sáng cho dân.
3.
Pariccàga (Ban thưởng) cho những quan chức thanh liêm, hết lòng
phục vụ nhân dân, trung thành với Tổ quốc, theo gương sáng
của Vua.
4.
Ajjvan (thẳng thắn) Quân Vương hành xử phải thẳng thắn,
không dùng phương thức bá đạo để đạt mục đích.
5.
Majjivan (hoà nhã) tuy cương quyết nhưng nhu hoà, nhu hoà mà
không yếu đuối, ủy mị.
6.
Tapam (tự kiểm) biết kiểm soát ngũ quan của mình, không để
cho dục vọng làm mờ tâm, không bị lôi cuốn vào những thị
hiếu dục lạc.
7.
Akkodha (không oán thù) không đem lòng thù ghét những người
muốn hại mình, phải hành động bằng tình thương yêu và
độ lượng.
8.
Akhimsa (không bạo động) cố gắng tự kiềm chế, không theo
đòi những thú giải trí có tánh cách bạo động, hại người
và sinh vật.
9.
Khanti (nhẫn nhục, kiên nhẫn) phải luôn luôn kiên cường,
nhẫn nhục trong mọi hoàn cảnh.
10.
Alhodhata (Hỷ xả) tâm rộng lượng và bình đẳng.
Đức
Phật quan niệm dân chúng hành thiện hay làm điều sai quấy
đều do thái độ, cung cách hành xử của nhà vua, hễ nhà
vua tốt thì dân tốt, vua bạo hành thì dân bạo hành, vua sa
đoạ thì dân sa đoạ. Ngài dạy: “Người cai trị dân phải
có lòng nhân ái thương dân, giúp đỡ những người nghèo
khó, ban thưởng xứng đáng cho chúng quan lại biết phục vụ
nhân dân, các quan cai trị dân phải thực hành hạnh cần kiệm
liêm chính, sống đời đạm bạc, không phung phí ngân quỹ
quốc gia, phải thực hành hạnh bình đẳng, xem dân như mình,
cùng tuân thủ pháp luật.”
Kinh
nhà Phật có nhiều điều thực tế, hữu ích cho con người
và xã hội như “Bát Chánh Đạo” chẳng hạn. Các bậc Quân
Vương, nếu đem thực hành đúng Chánh pháp một cách sáng
suốt và rốt ráo thì bất cứ Quốc gia nào ở bất cứ thời
đại nào cũng trở thành một nhà nước văn minh. Điều nầy
đâu phải viễn vông hay ảo tưởng mà là thực tế, lợi
ích khi áp dụng vào đời.
Vua
Asoka Ấn Độ, Vua Lương Võ Đế và Vua Tùy Dung Đế Trung Hoa,
Vua Srong Tsan Gampo. Vua Khí Tông Lông Tán của Tây Tạng, Vua
Thánh Đức của Nhật. Vua Lý Thay Thái Lan. Vua Lý Công Uẩn,
Vua Trần Thái Tông, Vua Trần Nhân Tông của Việt Nam.
Các
vị vua trên đã áp dụng lời Phật dạy, các Ngài đã làm
rạng rỡ cho Quốc gia và cho Phật giáo.
Quí
vị từng biết, trong quá khứ Dân tộc ta đã vượt qua nhiều
cam go, thử thách, nhưng Tổ Tiên chúng ta đã thành công, nhất
là trong đời Lý, đời Trần. tinh thần bảo quốc an dân,
mà các Ngài hết lòng vì dân vì nước. Nghiệm cổ suy kim,
chúng ta hãy mạnh dạn và can đảm xác nhận: “Tình trạng
tụt hậu của đất nước và dân tộc ta rất ư là trầm
trọng, nạn tham nhũng tràn ngập khắp nơi, từ thượng tầng
đến hạ cấp. tình trạng chia rẽ, bè nhóm từ trong hàng
ngũ lãnh đạo cho chí đến người dân, trong các tôn giáo
hàng giáo phẩm cũng rời rạc, chia rẽ và nghi kỵ nhau, bằng
mặt chớ nào có được bằng lòng.” Hiện tình đất nước
Việt Nam là thế! Chúng ta không nên mặc cảm tự tôn hoặc
tự ty, mà nhìn thẳng vào tệ trạng vẫn mãi là tệ trạng.
Lời thật mích lòng, nhưng dù sao đi nữa, lời thật lúc nào
cũng là chân lý. Nếu biết được chân lý thì không một
lý do nào ngăn cản chúng ta không thành công trong tương lai.
Chúng ta có quyền quyết định, xây dựng lại một nước
Việt Nam có Tự do, Dân chủ và phú cường, bắt đầu bằng
công tác xây dựng con người Đạo lý Việt Nam.
b)
Bản Thể Phật Giáo Việt Nam Trong Vận Hội Đổi Mới:
Phật
giáo Việt Nam vẫn sống trong lòng dân tộc, thịnh suy theo
vận nước, vậy trong “Vận Hội Đổi Mới” của đất
nước, Phật giáo có thể đóng góp một vai trò quan trọng
trong sự hướng dẫn đời sống tinh thần cho dân tộc và
phát triển quốc gia, làm nền tảng luân lý để xây dựng
một xã hội tiến bộ và đạo đức con người. Nó đánh
thức con người đức tính tự tin, tự chủ, tự trọng, khoan
dung, từ bi, trí tuệ và tinh thần trách nhiệm tự tu bản
thân đối với xã hội. Nhưng muốn làm được những việc
đó, bản thân Phật giáo phải đào tạo được Tăng Ni đức
hạnh. Những triều đại trước, các nhà Sư là thành phần
ưu tú của xã hội, thông minh, đức hạnh. Phật giáo từ
thời các nhà vua Lê, Lý, Trần, qua từ các trường Đại học
Phật giáo cung cấp cho xã hội giai tầng trí thức. Vì thế,
tư tưởng và hành động người tu sĩ Phật giáo khác người
thường. Một đàng vì lợi ích cá nhân, một bên vì lợi
ích cho đại chúng. Phải vận dụng trí tuệ trong cuộc sống
tu hành, giúp người an vui hạnh phúc, làm sáng danh Phật Pháp.
Đạo Phật là đạo trí tuệ, hành giả phải rọi tuệ giác
vào cuộc sống để hành đạo. Trực diện với dân để hiểu
dân chúng và hiểu thêm “chư pháp thường không tánh, hay
không cố định”, chúng ta có thể uốn nắn, thay đổi được
người xấu nhất, thay đổi diễn biến, thay đổi tình huống,
làm đẹp xứ sở chúng ta.
III
) ĐỀ NGHỊ :
a)
Đào Tạo Tăng Tài, Dấn Thân Nhập Cuộc, Phụng Sự:
Phật
giáo Việt Nam sau nhiều thế kỷ suy thoái, muốn có đủ sức
vận động dân tộc phải xem trọng chủ trương “Đào Tạo
Tăng Tài.” Lịch sử chứng minh rằng: “Phật giáo tồn tại
và phát triển mạnh chỉ khi nào đệ tử của Phật đầu
tư vào trí thức đạo đức, vào việc công ích cho đời”.
Điển hình như Phật giáo Thời Lý, Trần. Về mặt xã hội
cũng vậy, không có một quốc gia nào phát triển được giàu
mạnh lại không nhờ vào trí thức như dân tộc Mỹ, Đức,
Nhật, Anh v.v…
Chính
sách tiêu diệt Trí, Phú, Địa, Hào đã phá sản đất nước
Việt Nam ta và Trung Hoa quá rõ. Vậy chúng ta muốn duy trì và
phát triển Phật Pháp, hầu góp phần giải quyết các vấn
nạn của đất nước hôm nay, không có con đường nào khác
hơn là “Đào Tạo Tăng Tài”, Tăng tài có đủ tư cách,
tài, đức, trí tuệ. Tăng, Ni phải ý thức sâu sắc điều
nầy, thành tựu trí thức và đạo đức, Tăng Ni phải vượt
trội hẳn người đời mới có thể hướng dẫn 80% dân chúng
Phật tử Việt Nam được.
Đức
Phật sử dụng trí tuệ như ngọn đèn chân lý soi vào cuộc
sống chính xác, thấy rõ yêu cầu thế nào thì đáp ứng theo
nhu cầu đó (xem bệnh cho thuốc) nhằm mục tiêu phát triển
mọi người trong xã hội thành những công dân chính trực,
thăng tiến, nhân bản, không để họ thành những kẻ sâu
dân mọt nước.
Trong
Ngũ minh Phật giáo có dạy: “Trí tuệ là nền tảng của
mọi ưu tính thiện hảo, nó như bó đuốc soi đường dẫn
lối trong đêm, cho nên các bậc Thầy Tổ lấy trí tuệ làm
chuẩn và là phương tiện trước tiên, pháp này hiện hữu
trong Bồ tát, không thể rời ra ngoài, mà bất cứ chư Tăng
Ni nào đến với Phật Pháp đều coi trọng trí tuệ, dùng
nó làm phương tiện để đi đến điểm giác ngộ.” Kinh
nói:“Trí tuệ là mẹ của Bồ tát, sinh ra tất cả các công
đức lành”. Là chư Tăng ai cũng biết, khi Phật giáo truyền
vào nước ta, các vị Thiền Sư Việt nam có mắt trí tuệ,
kết hợp Phật giáo Ấn và Hoa vào tư tưởng, tình cảm Việt
Nam, sinh hoạt Việt Nam. Từ đó tạo thành Phật giáo Việt
Nam “Dựng Nước và Giữ Nước”, với hai tinh thần, Phật
giáo Ấn, Hoa hòa đồng, quyện vào nhau một thể duy nhất,
đã trở thành truyền thống “Dân tộc và Đạo pháp”.
Trong
lịch sử truyền bá Phật giáo Việt Nam cũng như Phật giáo
trên thế giới, có lúc rất bi thảm, cay đắng, tủi nhục,
nhưng có lúc vẻ vang đáng tự hào. “Lúc bi thảm là lúc
bản thể Tăng Ni lu mờ, nội bộ của Tăng Ni bị phân hóa,
thành phần của Tăng Ni có nhiều điều dị biệt, giới hạnh
suy kém và hiểu biết giáo lý nông cạn. Trái lại, lúc vẻ
vang là lúc nội bộ chúng Tăng hoà hợp, biết gạt bỏ những
quyền lợi riêng tư để phụng sự cho Đạo pháp và Dân tộc”
như đời Trần. Các Ngài bỏ qua những chấp ngã tầm thường
để tiến xa trên con đường tịnh hạnh, lấy giác ngộ giải
thoát làm cứu cánh, lấy bản nguyện độ sanh làm sự nghiệp,
thấm nhuần tư tưởng tự chủ, cởi mở, bao dung với tinh
thần vô ngã, áp dụng tư tưởng ấy vào đời sống cá nhân,
cộng đồng, xem cá nhân chỉ là một phần tử trong cộng
đồng xã hội.
Tôi
nhớ lời mở đầu của Hiến chương Giáo Hội Phật Giáo
Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) năm 1964 có câu: “Công bố
lý tưởng từ bi, bình đẳng và giải thoát của đức Phật.
GHPGVNTN không đặt sự tồn tại của mình nơi nguyên vị cá
biệt mà đặt sự tồn tại trong sự tồn tại của nhân loại
và dân tộc.”
b)
Đoàn Kết, Hoà Ái, Tương Thân, Tương Kính:
Hình
thức, cơ cấu, định chế có thể nhiều, nhưng mục đích
chỉ là một, hay nói theo từ ngữ nhà Phật: “Chỉ có một
pháp vị, đó là mùi vị giải thoát”, mùi vị ấy không
hạn hẹp trong một hình thức, danh xưng nào, mà cũng nằm
trong từng danh xưng, hình hài. Sự tồn tại của Phật giáo
không trong nguyên vị cá biệt, thì hình tướng, cá thể đâu
phải là yếu tố ngăn cản tinh thần thống nhất. Trong hiện
tình Phật giáo có sự phân hoá, thì danh từ thống nhất là
nói lên ước vọng của hướng đi thiết thực. Từ năm 1951
Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam ra đời thống nhất sáu giáo
đoàn Phật giáo Bắc, Trung, Nam. Năm 1964 Giáo Hội Phật Giáo
Việt Nam Thống Nhất ra đời, thống nhất Phật giáo Nam Tông
và Bắc Tông, hai tổ chức thống nhất này không phải để
hoà giải, vì có mâu thuẫn đâu mà hoà giải. cũng không phải
để giải thể một chế độ nào. Nó chính là sự thừa hưởng
tinh thần dân chủ của Phật giáo, thừa hưởng tinh thần
hoà hợp tăng, thừa hưởng giáo nghĩa nhân duyên cộng sinh,
hoà đồng cùng tột. Nên ngay từ thời kỳ hưng thịnh Phật
giáo chủ trương:“Tam Giáo Đồng Nguyên” Vì vậy các vị
tiền bối luôn luôn đề cao tinh thần “Trăm con trong bọc
trứng” Người trên núi, người dưới biển đều là con
một nhà”.
Vậy,
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (GHPGVN) và Giáo Hội Phật Giáo
Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) khác nhau ở chỗ nào ? Thực
tế, do hoàn cảnh lịch sử, ảnh hưởng bởi những cơn lốc
chính trị. Một bên do nhà nước lập vào năm 1981 dưới sự
điều khiển của Ban Tôn giáo, của Mặt trận Tổ quốc. Một
bên vốn có từ trước thống nhất, đứng ngoài Ban Tôn giáo,
đứng ngoài Mặt Trận Tổ quốc. Trên thực tế chất liệu
không khác nhau. Cũng giáo lý ấy, cũng Tăng Ni ấy, cũng chùa
chiền lễ bái như nhau v.v… Ngặt vì cái chỗ khác nhau không
phải do Tăng Ni, mà khác là ở chỗ chính quyền cho hai bên
khác nhau, hoặc tự mình cho mình khác nhau. Nói cách khác Chính
quyền cho ta khác nhau, nhưng Chính quyền không thay đổi được
Giáo luật của nhà Phật. Còn nguyên nhân của sự phân hoá
là cố chấp vào danh xưng, hình tướng mà quên bản thể,
vì bị ảnh hưởng bên ngoài. Hoà thượng Thích Đôn Hậu
tuy ở trong Giáo Hội nhà nước, nhưng Ngài đã giữ được
Bản thể của Giáo Hội, giữ được niềm tin của Tăng sĩ
và Tín đồ.
Danh
xưng, danh từ của các tổ chức là sự sáng tạo của con
người có giá trị tuỳ theo quốc độ, tuỳ theo thời đại,
tuỳ theo truyền thống văn hóa khác biệt nhau, nó không phải
là một hình thức, cho nên Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (GHPGVN)
hay Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) rốt
cuộc tất cả cũng chỉ là tên gọi, chỉ là danh xưng được
đặt ra để biểu thị bằng tên nầy, tên nọ, cũng vẫn
chỉ là ảo mộng, là phù vân, anh, tôi, người, cũng chỉ
là giả danh, đồng nghĩa với vạn pháp như phù vân! Thiển
nghĩ các vị Tăng Ni, sinh hoạt trong GHPGVN hay trong GHPGVNTN không
phải là điều tối quan trọng. Vấn đề là làm sao giữ được
tâm xuất gia, duy trì được lý tưởng giải thoát, phụng
sự nhân loại, dâng hiến cuộc đời của người xuất gia
cho Đạo Pháp, mới đúng là người ở trong hàng Tăng Bảo.
Nói như vậy không phải là xem thường chí nguyện xuất gia,
mà là đề cao tinh thần xuất gia đúng Chánh Pháp.
Nương
vào sự nghiệp hoằng dương Chánh pháp của chư Lịch Đại
Tổ Sư, truyền đăng tục diệm, mà Tăng Bảo được coi là
thành phần trọng yếu. Nhờ có Tăng Hoằng Pháp mà Đạo Phật
được rộng mở trên khắp thế giới ngày nay.
Nhân
đây cũng nên nói thêm rằng: Phật giáo không phải là một
tổ chức chính trị, nên mục tiêu không phải để giải thể
chế độ nầy hay chế độ khác. Từ xưa đến nay
Phật
giáo không bao giờ có ý định dành quyền lãnh đạo quốc
gia, hay muốn chính quyền phải làm theo ý mình mà chỉ mong
giúp các nhà lãnh đạo chính trị cầm quyền đương thời
ý kiến sáng suốt, đem lại an bình hạnh phúc cho nhân dân,
đem lại sự phồn vinh hoà bình cho tổ quốc.
Mục
đích của Phật giáo Việt Nam là phổ biến lý tưởng từ
bi, bình đẳng và giải thoát của Đức Phật. Phật tử tranh
đấu là thể hiện quyền công dân chứ không phải là chiếm
quyền thống trị xã hội, Phật tử tranh đấu kiên cường,
nhưng không hề cố chấp, hận thù, hoặc kỳ thị tôn giáo,
hay chia rẽ nội bộ Phật giáo Việt Nam. Trái lại, Phật tử
là công dân biết hành xử lục hoà, dù cho ở cấp nào cũng
vậy.
IV)
KẾT LUẬN :
Lịch
sử dân tộc Việt được viết nên bỡi nhiều thế hệ, tấm
thân tứ đại của con người rồi sẽ khuất chìm vào cát
bụi, chỉ còn sự nghiệp, tiếng thơm như các Thiền sư Định
Không, Pháp Thuận, Vạn Hạnh, Thái Tông, Nhân Tông cùng các
vị Anh hùng Dân tộc v.v… Những chứng tích ấy được ghi
vào sách sử và truyền tụng mãi cho đến đời sau. Từ những
sử liệu lưu truyền, khiến các Ngài sống mãi mãi với thời
gian.
Sau
bốn mươi năm cai trị đất nước, cựu Thủ tướng Phạm
Văn Đồng đã nương về Đạo Pháp để tu sửa. Cựu Tổng
Tư Lệnh Quân Đội Nhân Dân, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã
lui về tư thất, nghiên cứu Phật học để tu tâm, đem kinh
nghiệm cảm thức của mình, chia xẻ với hậu sinh là đã
đi chệch hướng. Dù muộn còn hơn là ngoan cố. Đó là tinh
thần thức tỉnh, ăn năn sám hối. Đó không phải là gương
sáng cho lớp lãnh đạo Đảng và Nhà Nước hiện nay, khi họ
sắp rời bỏ chính trường ư ?
Giáo
lý Từ Bi là ban vui cứu khổ, nhất là nạn khổ lương tâm.
Đạo Phật là Đạo hỷ xả, không hận thù mới độ tận
chúng sanh. Nhà Chùa là nơi đào tạo người hiền đức, thức
giác kẻ sai lầm, thì những Thiền Viện, Tu Viện Như: Yên
Tử, Bạch Mã, Trúc Lâm v.v. sẽ là nơi rửa sạch bụi trần,
nơi tập họp những tâm hồn cầu tiến, mà các lãnh tụ cao
niên có cơ hội nghỉ hưu, trau dồi sám hối tu học, đoàn
kết hướng dẫn đoàn hậu tấn. Đồng thời, cảnh báo lớp
hậu sinh đang vừa học Phật, vừa phục vụ cho “Đời”
cho “Đạo” trong tương lai.
Bậc
chí nhân thị hiện, tất lo việc cứu người: “Không hạnh
nào là chẳng đủ, không việc gì là chẳng làm, không chỉ
có sức định tuệ mà cũng có công phò tá” Đó là câu nói
của Vua Lý Nhân Tông, nói với Thiền Sư Mãn Giác gần một
ngàn năm trước.
o 0
o
Thưa
quí vị, nay tôi tuổi cũng đã quá bảy mươi rồi, sự sống
có thể ngừng lại bất cứ lúc nào, và từ giã quí vị,
từ giã Tăng Đoàn mà chưa làm tròn trách nhiệm của mình:
“Trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ tam đồ”, Trong
tứ trọng ân, có “Ân Tổ Quốc và Ân Tam Bảo”, nên tôi
thiết tha với tiền đồ Dân tộc và Đạo Pháp. Mong rằng
bản thể của Tăng Già được phát huy ngày càng lớn mạnh,
Tinh thần lục hoà của Phật giáo ngày càng gắn bó keo sơn
trong nguồn suối Chánh Pháp: “tương kính, tương thuận, tương
sám, tương giáo như Phật dạy”.
Xét
vì tình trạng Phật giáo Việt Nam trong cũng như ngoài nước
có những vấn đề rất tế nhị trong phạm vi nội bộ mà
chúng ta chưa bắt đầu thực hiện một cách chu toàn về tổ
chức và qui luật, hầu bảo vệ Chánh Pháp và Tổ quốc Việt
Nam.
Do
vậy chúng tôi xin đề nghị:
a)
Liên kết Phật Giáo trong và ngoài nước Đào tạo Tăng tài:
khuyến khích Tăng Ni trẻ Du học, bồi dưỡng, trau đức cho
lớp tu sĩ trẻ, để kế thừa lãnh đạo Phật giáo Việt
Nam.
b)
Dục lương: Để bảo tồn Chánh Pháp, duy trì và phát huy Giáo
lý, đoàn ngũ hóa tổ chức, phục hưng Giáo Hội, khoa học
hóa cơ cấu hành chánh cả trong lẫn ngoài nước, bồi đức
hàng ngũ Tăng già, hợp thức hóa thủ tục Tăng Tịch, gạn
lọc những thành phần phạm giới, phạm luật, hầu trang nghiêm
Giáo hội.
c)
Từ thiện xã hội: Tập trung mũi nhọn vào vấn đề “Phật
Giáo Phụng Sự Xã Hội”, khai thác khả năng làm từ thiện,
huy động viện trợ tài chánh quốc tế và phát huy tiềm năng
lãnh đạo của Phật tử Việt Nam trong cũng như ngoài nước.
Kính
thưa quí vị,
Qua
những ưu tư với tấm lòng của người xa Tổ quốc, hằng
quan tâm suy nghĩ về Quê hương đất nước, về Đạo Pháp
và Dân tộc, Tôi mạnh dạn ghi lên niềm thao thức, xin trao
về Ban tổ chức Hội thảo do Thượng toạ Thích Trí Siêu
Lê Mạnh Thát can đảm chủ xướng, tổ chức và kêu gọi.
Bài
nầy là một đóng góp nhỏ với tình người, tình đạo, tình
quê, đậm đà thắm thiết. Vì sự tồn tại của Giáo Hội,
vì sự sống còn của Đạo Pháp để phục vụ Dân tộc, mà
tôi và quí vị hãy nổ lực cùng quan điểm hoằng dương Chánh
Pháp, làm phận sự hữu ích hơn nữa cho “Đạo” cho “Đời”,
noi gương các Bậc Tiền bối, nêu cao tinh thần phụng đạo,
sáng danh Phật Pháp, Phục vụ Phật Giáo Việt Nam.
Để
chứng minh nguyện vọng chánh đáng mà tôi đã dấn thân phụng
sự Đạo Pháp và Dân tộc, Nay vận nước đã đến hồi đổi
mới, Phật giáo là nguồn sống của dân tộc mà Viện Nghiên
Cứu Phật Học Việt Nam, chủ trương mở cuộc Hội thảo
có tầm vóc Quốc tế, tôi rất khâm phục và hưởng ứng.
Nhân
cơ hội nầy, một lần nữa, cụ thể hơn trong công tác Phật
sự ở hải ngoại, tôi xin mời và đón tiếp Thượng Toạ
Thích Tuệ Sỹ, TT.Thích Trí Siêu Lê Mạnh Thát tại Hoa Kỳ,
cũng như đã vài lần tiếp Đại Đức Thích Nhật Từ tại
Tịnh Xá chúng tôi.
Có
thể lần đón tiếp nhị vị Thượng tọa, chúng ta sẽ tạo
một niềm tin cho đại cuộc kết hợp trong tinh thần “Lục
Hoà Của Phật Giáo” trong và ngoài nước. Nếu được có
thời gian nhị vị Thượng toạ ở tại Hoa Kỳ, tôi sẽ dấn
thân và tạo điều kiện vật chất để quí Thượng toạ
làm việc cùng tôi khai thác mọi nguồn tài trợ, khởi đầu
bằng liên hệ với Toà nhà Trắng (Toà Bạch Ốc) và Đại
Học Texas mà Pháp Duyên Tịnh Xá chúng tôi đã có liên hệ
từ lâu. Chúng ta hãy cùng ngồi lại với nhau, định hướng
cho một Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam vững mạnh cả về quản
trị và tài chánh.
Về
phần “TU”: chúng ta đã có nhiều vị Cử nhân, Tiến sĩ
Phật học uyên thâm đảm trách. Về phần “HÀNH” thì chúng
ta chưa có lấy một Thạc sĩ Quản trị giỏi xuất hiện,
tích cực dấn thân xây dựng như các Tôn giáo bạn. Tuy nhiên,
nhị vị Thượng tọa đủ khả năng và uy tín cùng với Đại
đức Thích Nhật Từ tài giỏi, dấn thân, sẽ tạo được
cơ hội hy hữu cho Phật Giáo Việt Nam chúng ta. Đây là bước
đột phá căn bản tối cần, mà nhị vị Thượng tọa chắc
chắn phải quan tâm,
Nơi
đây, chúng tôi xin cầu chúc Hội Thảo Khoa Học thành công
tốt đẹp trong tinh thần dấn thân phục vụ Đạo Pháp và
Dân tộc. Kính chúc Thượng tọa Trưởng Ban cùng quí vị trong
Ban Tổ chức: Pháp thể khương an, Phật sự viên thành.
Nam
Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.