Đạo
là đạo, đời là đời! Chúng ta thừa hưởng từ Tây phương
một sự đối lập không có ở mọi nơi, mọi thời. Và ngay
cả ở đây, không phải lúc nào tôn giáo cũng đối kháng
với chính trị, nhà nước với nhà thờ, đạo với đời.
Mặt khác, nếu bất kỳ nhà chính trị nào cũng mơ mộng tụ
tập đông đảo quần chúng trên một dự án hay đường lối
chính trị nào đó, thì nguyên nghĩa của từ religion -
dù xuất phát từ relegere (tập hợp) hay religare (nối kết)
- lại không nói lên ngay chính cái giấc mơ đó hay sao? Như
vậy, tôn giáo là chính trị của một thời xa xưa, rất xa
xưa chăng? Có thể lắm. Dù sao, sự xuống cấp của đời
sống chính trị trên mọi lục địa dường như đang mời
gọi nối lại cuộc đàm thoại giữa hai thái cực, trong chiều
hướng vượt thoát quan niệm thống trị từ thời Machiavelli
còn đang tác hại: chính trị chỉ đơn thuần là nghệ thuật
giành giật chính quyền như mục đích tự tại.
Trong
bối cảnh toàn cầu hoá ngày nay, đọc các triết lý chính
trị Âu Mỹ qua nhãn quan của một tôn giáo gốc Á Đông như
đạo Phật là một thử nghiệm theo chiều hướng đó. Và
nó chỉ có thể khởi sự từ chỗ phải bắt đầu, nghĩa
là từ Cổ Hy Lạp. Với tất cả những giới hạn về hiểu
biết của người viết, tiểu luận này mang tham vọng đối
chiếu «đạo giáo» của Đức Phật với «triết lý chính
trị» của Socrate nhằm giải đáp, trước hết cho bản thân,
hai câu hỏi: chính trị là gì? và triết lý chính trị là
gì?. Nó sẽ gồm có 2 phần. Trong phần đầu giới thiệu hôm
nay - Cửa Ô Thành Quốc -, mời bạn đọc cùng rảo bước
chung quanh xứ Athènes của ông Socrate hay xứ Sâkya của Siddhartha,
gặp gỡ một vài bằng hữu hay địch thủ của họ, để
thử nhận diện những cửa vào trung tâm xã hội con người.
Đến phần hai, mà chúng tôi hy vọng có thể trình bày một
ngày không xa lắm – Trung Tâm Thành Quốc -, chúng ta sẽ cùng
bước vào trung tâm Athènes hay Sâkya, để thử nhìn «những
vấn đề chính trị» mà người công dân ở các nơi đây
phải đương đầu, dưới nhãn quan đối chiếu của Socrate
và Phật, hai trong bốn nhà hiền triết đã đưa «chiều kích
con người» vào mọi góc đời.
Tất
cả các tên Hy Lạp trong bài đều được viết dưới dạng
Pháp ngữ, tên Ấn Độ bằng Pali. Và mặc dù đây là chuyện
đời xưa, song nếu đôi chỗ vẫn xui khiến độc giả băn
khoăn nhìn về một nơi nào đó thân cận hơn, thì âu cũng
không hẳn là chuyện ngẫu nhiên. Tim bạn, tim tôi hoặc tim
chúng ta đều «có vấn đề». Thông cảm nhau vậy!
Phạm
Trọng Luật.
1-
ĐẠO PHẬT, CHÍNH TRỊ VÀ TRIẾT LÝ CHÍNH TRỊ
Đức
Phật tên thật là Siddhârtha, thuộc dòng họ Gautama (560 - 480
trước Tây lịch). Ngài là con trai của vua Suddhodana và hoàng
hậu Mâyâ của vương quốc Sâkya. «Con vua thì lại làm vua»...
Nhưng ông vua con này, vào năm 29 tuổi, bỗng quyết từ bỏ
cả ngai vàng, cung điện lẫn vợ đẹp, con thơ, để đi tìm
giải đáp cho một câu hỏi: tại sao kiếp người lại đầy
bao đau khổ? Theo truyền thuyết, để can ngăn, vua cha Suddhodana
đề nghị nhường ngôi ngay cho thái tử và đi tu thay con. Song
Siddhârtha chỉ trả lời: «Phụ vương có thể bảo đảm rằng
làm vua, con sẽ thoát khỏi tuổi già, bệnh tật và cái chết
chăng?» [01], và vẫn quyết chí ra đi. Còn gì phản chính trị
hơn hành động này? Bởi vì ý nghĩa của nó là gì, nếu không
phải là quyền hành và sự tổ chức xã hội hoàn toàn bất
lực trước mối khắc khoải sống chết của hiện hữu?
Nhưng
khi đã giác ngộ 6 năm sau, thay vì tan biến vào núi rừng Ấn
Độ để tu ẩn hoặc tu tiên như người ta có thể chờ đợi,
Siddhârtha lại trở về với xã hội loài người vào năm 35
tuổi. Nếu diễn tả bằng phúng dụ triết học cổ điển
của Platon, kết hợp với chí hướng cứu khổ của Đức
Phật, thì nó nghịch lý như chuyện kẻ sinh ra trong tăm tối,
sau khi đã bước ra khỏi hang để nhìn thấy ánh mặt trời,
lại chui trở vào động để truyền giảng chân lý, dường
như còn thề thốt rằng sẽ không bao giờ trở ra cõi sáng
nữa, khi còn dù chỉ một người trên thế gian cam sống trong
mê tối. Dù xuất phát từ động cơ nào đi nữa, còn gì gần
với chính trị hơn hành động này? Bởi vì ý nghĩa của nó
là gì, nếu không phải là số phận của mỗi cá nhân hoàn
toàn gắn chặt vào cộng đồng?
Tựu
trung, có chính trị chính vì con người - với tư cách là con
người - luôn luôn mang chiều kích tập thể. Sống đơn độc
trên hoang đảo, khi chỉ có ta với ta, ưu tư duy nhất của
Robinson Crusoé là sự sống còn của bản thân. Chính trị chỉ
xuất hiện một ngày kia, với những dấu chân đồng loại
trên cát, xác nhận sự tồn tại đồng thời của ta và tha.
Bởi vì cuối những vết tích gây hoảng loạn này, chẳng
bao lâu sau sẽ hiện lên trong đầu Robinson ít nhất hai câu
hỏi: một, phải hành xử thế nào với bộ lạc thổ dân
ăn thịt người (chiến, hoà, hoặc «tẩu vi thượng sách»)?;
hai, phải thiết lập quan hệ gì với Thứ Sáu (tao chủ mày
tớ, tôi thầy anh trò, hay, hai ta làm đồng minh, chúng ta là
bằng hữu)?
Dù
sao, nhờ sự trở về này mà có Phật; nếu không, chỉ có
một kẻ đã giác ngộ mà có lẽ cũng chẳng bao nhiêu người
biết đến tên, ngoài thân bằng quyến thuộc. Nhờ nó mà
có Pháp: Đức Phật không để lại một tác phẩm nào, chỉ
thông qua những bài giảng do các đệ tử ghi lại và phổ
biến mà học thuyết của Ngài được lưu truyền. Nhờ nó
mà có Tăng và Ni, với một chức năng hai mặt không thể tách
rời: tu hành để đạt đến giác ngộ và tiếp giảng cho
chúng sinh con đường thoát khổ. Cuối cùng, nhờ nó mà ngày
nay có những quốc gia Phật giáo, và các dân tộc Phật tử
với hơn 500 triệu người sống đạo trên mặt đất.
Đức
Phật không phải là nhà chính trị theo nghĩa thường tình,
và điều chắc chắn là Ngài đã từ bỏ ngôi báu. Song dù
muốn dù không, Đức Phật cũng không thể không đụng đầu
chính trị trong suốt 45 năm truyền đạo! Ngoài một số hành
động và những bài giảng đương thời của Ngài có liên
hệ trực tiếp hay gián tiếp đến vấn đề chính quyền [02],
sự phát triển của đạo Phật trong nhiều thế kỷ tiếp
theo cũng để lại một câu hỏi lịch sử: vì sao xuất phát
từ Ấn Độ, đạo Phật lại mất dần chân đứng ở nôi
sinh? Nói là lịch sử, bởi vì lời giải đáp nghiêm túc cho
câu hỏi này không thể không đồng thời bao hàm ít nhiều
một sự đánh giá nào đó về tiềm năng chuyển đổi xã
hội - nghĩa là chính trị - của đạo Phật, đối với truyền
thống tổ chức đất nước của Ấn Độ cách đây hơn 25
thế kỷ.
Thật
ra, Đức Phật còn may mắn hơn một số bậc hiền minh khác
trên thế giới: Ngài sống được đến năm 80 tuổi. Jésus
«không làm chính trị», cũng không kêu gọi lật đổ đế
quốc La Mã. Ngài chỉ nói về lòng bác ái, về tội tổ tông,
về ngày phán xét cuối cùng... Tuy vậy, Jésus vẫn bị đế
quốc La Mã đóng đinh trên thánh giá vào năm 30 tuổi! Socrate
(469 - 399 trước Tây lịch) «không làm chính trị», và suốt
đời tôn trọng luật pháp của thành quốc. Ông chỉ luẩn
quẩn đặt ra những câu hỏi lăng nhăng (con người là cái
gì?, công chính là cái gì?, v. v...). Tuy vậy, Socrate vẫn bị
nền dân chủ của xứ Athènes bắt uống thuốc độc ở tuổi
70. Đâu là ranh giới của cái «chính trị» và cái «phi chính
trị»?
Trực
tiếp hơn, «chính trị» thực chất là cái gì, mà xưa nay
đều có thể làm cho cả bậc thánh thiện lẫn bao kẻ ngu
ngơ đều dễ mất mạng như thế, nếu không may bị hệ lụy?
Tất
nhiên, người nghiên cứu có thể đặt câu hỏi này cho các
Phật tử - tăng ni cũng như cư sĩ. Nhưng đừng thất vọng
mà nên biết trước rằng nhiều bậc chân tu sẽ chỉ mỉm
cười và giữ im lặng. Bởi vì lời giải đáp nó có lẽ
cũng thuộc vào loại «sa mạc ý kiến», không đưa đến «sự
chấm dứt khổ đau, sự an tĩnh, sự thâm nhập, sự giác ngộ
Niết Bàn» [03]: đạo Phật là một giải thoát luận [sotériologie],
hơn thế nữa, «một giải thoát luận ở trạng thái thuần
khiết», trong một loại văn hoá «chưa bao giờ thấy cần
thiết phải khai triển một triết lý hay một học thuyết
chính trị theo nghĩa Tây phương của các từ này!» [04]. Tốt
hơn, nên thử đặt vấn đề trên với các đồ đệ của
Socrate, loại người vừa có đủ hiếu kỳ để luôn luôn
tự hỏi hoặc chất vấn kẻ khác cái này là cái gì?, đồng
thời cũng có đủ bao dung và khai phóng để bàn cãi về những
giải đáp chưa hoàn chỉnh - và có thể sẽ vĩnh viễn không
hoàn chỉnh!
Trên
cùng một chiều hướng, có lẽ người tìm hiểu cũng nên
nhân dịp này tìm giải đáp cho một khúc mắc khác, liên hệ
đến triết gia.
Một
mặt, Socrate không để lại một tác phẩm nào; hậu thế chỉ
biết đến Ông như một nhân vật lịch sử với đôi nét
hoang đường, qua một hài kịch của Aristophane (450 - 386 trước
Tây lịch), vài tác phẩm của Xenophon (430 - 354 trước Tây
lịch), và chủ yếu là các bản đối thoại của Platon (427
- 347 trước Tây lịch), cùng với năm ba nhận định của Aristote
về sau (384 - 322 trước Tây lịch). Trong 3 nguồn tư liệu đồng
thời kể trước, Aristophane là kẻ đối lập với Socrate,
trong khi Platon và Xenophon lại là học trò. Ngày nay, khuynh hướng
chung của các nhà nghiên cứu về Socrate là chỉ xem các tác
phẩm của Xenophon và những bản đối thoại đầu tay của
Platon là tương đối trung thực với tư tưởng của Ông hơn
hết. Mặt khác, cũng không có một hệ thống tư tưởng hoàn
chỉnh nào có thể gọi là chủ thuyết Socrate cả. «Nếu triết
lý là «học thuyết», thì Socrate không phải là triết gia»
[05]. Đúng hơn, Ông thuộc loại triết gia lông bông của một
thứ tư duy lang thang trên các ngả đời, với kiến thức đầu
tiên là «tôi không biết gì cả», và «điều tôi không biết,
tôi cũng không hề tưởng là tôi biết» [06].
Ấy
vậy mà kẻ chưa bao giờ lập thuyết này lại được hậu
thế tấn phong làm ông tổ của triết lý chính trị nói chung,
và cha đẻ của triết lý chính trị cổ Hy Lạp nói riêng,
nhờ và chỉ nhờ đã đặt ra một số câu hỏi được xem
là nền móng cho việc tổ chức đời sống công cộng của
thành quốc. Vậy thì «triết lý chính trị» thực chất là
cái gì?
2
- SOCRATE VÀ «TRIẾT LÝ NHÂN SỰ»
Cổ
Hy Lạp có một nền triết học rất rực rỡ. Trước Socrate,
nền triết lý này bao gồm hai khuynh hướng chính: một, những
người phát biểu về thế giới tự nhiên; và, hai, các nhà
tư biện về thần thánh. Con của nhà điêu khắc và bà đỡ,
Socrate thời trẻ thuộc khuynh hướng thứ nhất; không những
chỉ quen thuộc với các tác phẩm của Anaxagore (500 - 428 trước
Tây lịch) và Archélaos (trong thế kỷ thứ V trước Tây lịch),
Ông còn giao lưu với trường phái biện sĩ [sophistique]. Điều
tai hại là quãng đời này, tuy tương đối không dài, đã
nuôi dưỡng nhiều ngộ nhận hoặc xuyên tạc về con người
thực của Ông, đến mức trở thành một trong 3 tội trạng
đã dẫn Ông đến án tử.
Chỉ
vào khoảng 40 tuổi, Socrate mới xuất hiện như một nhân vật
công cộng tại Athènes, khi Ông nghe bạn là Chéréphon thuật
lại lời phán của thần Apollon ở đền Delphes, cho rằng «Socrate
là bậc hiền trí nhất của thành quốc». Ý thức sâu sắc
về sự dốt nát của bản thân, Ông chợt chứng ngộ rằng
lời phán ấy không thể có nghĩa nào khác hơn là: «sự hiền
minh chính là tự biết rằng mình không biết chi cả». Từ
đấy, lấy câu văn cổ khắc trên trán tường đền Delphes
- «Hãy tự biết mình, tự khắc sẽ biết cả vũ trụ lẫn
thần thánh» [«Connais-toi toi-même, et tu connaîtras l'univers et
les dieux»] - làm phương châm, Socrate tin rằng từ nay sứ mạng
hay thiên chức của Ông là làm sao cho người đời tìm thấy
Con Người, thông qua một cố gắng tự khảo không nhân nhượng
về chân tướng của mỗi cái ta, bởi vì «chính trong ý thức
chân thật về sự không biết mà cái biết chứ không phải
là hư vô sẽ xuất hiện» [07].
Và
cũng từ sau đó, giống như Đức Phật khi đã giác ngộ, Socrate
từ chối bàn về thế giới tự nhiên (vũ trụ hữu hạn hay
vô biên; vật chất là đất, nước, khí hay lửa, v. v...?),
vì nó «không ích lợi gì cho tâm hồn con người cả» [08].
Mặt khác, Ông cũng tránh tự nguyện bàn về thần linh, sợ
vi phạm đến những điều huyền bí nghiêm cấm: nếu thật
sự muốn tiết lộ điều gì, các thiên thần có đủ mọi
phương cách để thông báo, con người không cần phải tự
lực tìm hiểu. Socrate bỗng chốc trở thành đại diện ưu
tú nhất của loại biểu văn trong triết học cổ đại mà
đời sau, để gọi cho chính danh, Aristote đặt tên là triết
lý nhân sự [la philosophie des affaires humaines].
Thật
ra, hậu thế cũng chưa từng đánh giá nhất quán cái được
mệnh danh là «bước ngoặt» Socrate. Một mặt, dù chỉ là
sự suy diễn tiền khoa học đi nữa, những học thuyết về
vũ trụ, về các thiên thể, về vật chất, về sự chuyển
động, v. v... vẫn có thể được sử dụng nhiều thế kỷ
sau như một số giả thuyết mà các bộ môn khoa học cần
phải kiểm chứng; và ngày nay, chúng ta đều biết sự quan
trọng của giả thuyết đối với những khám phá khoa học
là như thế nào (vai trò của thuyết nguyên tử của Démocrite
(460 - 370 trước Tây lịch) trong lịch sử khoa vật lý là một
thí dụ). Mặt khác, tại sao người hiếu kỳ lại không được
phép vừa nghiên cứu về thiên nhiên hay thần thánh, vừa tìm
hiểu về con người? Nhưng đấy là chuyện bao đời sau.
Trở
về thời đại của Socrate, trọng tâm của triết lý nhân
sự tất nhiên phải là con người. Song từ con người ở đây
lại không chỉ những cá thể biệt lập, đối tượng của
một tên gọi nhất định X, Y nào đó chẳng hạn, mà thật
sự là con người tập thể, thành viên của cái mà họ gọi
là thành quốc [polis]. Bởi vì người Hy Lạp trước kia, tuy
không biết con người xuất phát từ đâu, đều nhận thức
rằng mỗi khi họ gặp một sinh vật gọi là người, cá thể
này luôn luôn mang một kích thước tập thể. Nói cách khác,
ở đây, con người tự nhiên là con người sinh ra, lớn lên
và chết đi bên trong một cộng đồng.
Hãy
dừng lại một phút ở khái niệm tự nhiên [phusis] của cổ
Hy Lạp. Một mặt, «tự nhiên chỉ đặc tính của một (loại)
sự vật, cách thức biểu hiện và hành xử của nó, và (loại)
sự vật này được xem như không phải là sản phẩm của
thần thánh hoặc của con người». Mặt khác, «tự nhiên cũng
có nghĩa là tăng trưởng, và do đó, chỉ cái mà sự vật
đã lớn thành, cái thành quả của sự tăng trưởng, cái tính
chất của sự vật một khi sự tăng trưởng đã kết thúc
- nghĩa là khi nó có thể làm những gì mà chỉ có một sự
vật đồng loại đã phát triển đầy đủ mới có đủ khả
năng làm và làm tốt» [09].
Như
vậy, kích thước tập thể chính là đường ranh để người
Hy Lạp thời xưa phân định con người tự nhiên gọi là politès
(con dân của thành quốc), một mặt với thú vật, mặt khác
với thần linh, mà họ gộp chung dưới nhãn hiệu idiotès.
Bởi vì chỉ có hoặc thiên thần, hoặc súc vật mới không
cần đến, và do đó, có thể vừa sống bên trên hay bên ngoài
xã hội, vừa không màng tìm hiểu hay luận bàn về sự tồn
tại của thành quốc với những vấn đề liên hệ - những
cái mà thời ấy người xưa phân biệt ra làm politika (công
việc của thành quốc), politikê (loại kiến thức liên quan
đến thành quốc) hay politeia (sự tổ chức thành quốc), những
thứ mà ngày nay chúng ta thường có khuynh hướng giản lược
vào hai khái niệm là «chính trị» và «chính trị học».
Nói
cách khác, đối với người Hy Lạp cổ đại, nếu có một
quy luật nào có thể được gọi là luật tự nhiên của con
người, thì đó chính là quy luật sống trong xã hội, đối
lập với các quy định khác chỉ có giá trị nhân tạo, và
do đó, chỉ đáng được xem là quy ước hay luật lệ [nomos].
Điều này không nhất thiết phải liên hệ hay trùng hợp với
định nghĩa hoặc quan điểm của các tác giả thuộc thời
Phục Hưng, cũng như của thế kỷ Khai Sáng sau này, về trạng
thái tự nhiên [état de nature], ở Hobbes, Locke, Rousseau, và trên
cơ sở đó, về quyền tự nhiên [droit naturel] ở Grotius, Pufendorf,
Hobbes, Locke, Paine,... của con người. Song đấy lại là chuyện
của cả 2000 năm tới nữa.
Tựu
trung, cánh cửa của thành quốc chính là ngõ vào triết lý
nhân sự của Socrate. Nó là cái lăng kính xuyên qua đấy Ông
nhận diện và xác định không những chỉ con người, mà ngay
cả mọi giá trị nhân bản như sự hiền minh [sagesse], đạo
hạnh [vertu], công chính [justice], v. v... [10]. Và cũng chính
vì công chính chẳng hạn là một ý niệm không ai có thể
định nghĩa dứt khoát, mà việc truy tìm giải đáp cho loại
câu hỏi muôn đời ấy, lúc đầu chỉ là một tiên đề cho
việc tổ chức thành quốc, dần dà trở thành cứu cánh tự
thân. Khởi hành từ một vấn đề chính trị - công chính
là gì? - Socrate lại tìm thấy giải đáp cho một khắc khoải
nhân sinh khác - đâu là lối sống cao đẹp nhất? - ở triết
học. Cha đẻ của triết lý chính trị, ở Tây Phương, Socrate
còn là hình tượng truyền thống của triết lý nói chung.
3
- PHẬT VÀ CON ĐƯỜNG GIẢI THOÁT
Đức
Phật, tập thể Phật tử, và con người làm đối tượng
của sự giải thoát trong thế giới quan của đạo Phật, phải
chăng là những idiotès theo nghĩa cổ Hy Lạp? Tất nhiên, Đức
Phật không phải là một idiotès, dù cũng có một thời kỳ
tu ẩn khổ hạnh có thể tương xứng với khái niệm này.
Nhưng sau đó Ngài đã trở về với tập thể loài người
và thu nhận đệ tử từ mọi thành phần xã hội, không phân
biệt quý tộc hay cùng đinh, nam hoặc nữ. Người Phật tử
cũng không phải là những idiotès, dù không thiếu gì người
cũng có thừa «khôn ngoan trần tục» để bưng mắt, che tai,
bịt mũi, ngậm miệng, khi xã hội gặp lúc hỗn loạn, nhiễu
nhương, và chính trị u tối, bất nhân. Nhưng còn con người
nói chung, đối tượng của biểu văn về tứ diệu đế và
bát chánh đạo trong đạo Phật thì thuộc loại nào, idiotès
hay politès?
Chân
lý đầu tiên của đạo Phật là khổ đế [dukkha]. Và ý nghĩa
đầu tiên của khổ đế là khổ khổ - cái khổ xuất phát
ngay từ cuộc sống. Hãy nghe lại một bài giảng của Đức
Phật như đã được ghi chép: «Này, các tỳ kheo, đây là
chân lý cao siêu về sự khổ. Sinh là khổ, lão là khổ, bệnh
là khổ, tử là khổ. Sầu não, thương tiếc, tai ương, hoạn
nạn, hoang tàn, tuyệt vọng đều là khổ. Phải chung sống
với những người và hoàn cảnh ta không yêu thích là khổ;
phải xa lìa những người và hoàn cảnh ta yêu thích là khổ.
Không chiếm hữu được điều ta ham muốn cũng là khổ. Nói
tóm lại, thân xác này, năm uẩn trói buộc này tất cả đều
là khổ» [11]
Nếu
sinh, lão, bệnh, tử là những sự kiện thuần sinh lý - bởi
vì chung cho mọi sinh vật, cái khổ nội tại cơ bản này chắc
chắn phải được xác định một cách hoàn toàn độc lập
với mọi bối cảnh xã hội, chính trị. Nhưng điều khó chối
cãi là «phải chung sống với những người và hoàn cảnh
ta không yêu thích», và «phải xa lìa những người và hoàn
cảnh ta yêu thích», thì ngược lại, cũng hiển nhiên phải
bao hàm sự hiện diện của cả xã hội và tha nhân - hoặc
như thiên đường, hoặc như địa ngục -, nghĩa là tất yếu
không thể nào không liên hệ ít nhiều đến việc tổ chức
cuộc sống công cộng.
Tóm
lại, cái khổ - trong ý nghĩa là khổ đau của kiếp người
- không thể không mang một chiều kích tập thể, như chính
bản thân con người. Nghĩa là, nếu điều kiện xã hội -
chính trị không phải là thứ nguyên do gọi là cái nhân, thì
ít ra nó cũng là loại lý do gọi là cái duyên của khổ khổ
- nếu ta chấp nhận rằng, trước quan hệ nguyên do - hậu
quả cực kỳ phức tạp của vạn vật, Đức Phật đã phân
biệt hai loại lý do, giống như Aristote đã đề xướng một
học thuyết về 4 lý do sau này [12]. Và điều kỳ lạ nhưng
rõ rệt trong mối quan hệ nhân duyên sinh trùng trùng điệp
điệp của cuộc sống là, ở đây, duyên lại thường tác
động cũng mạnh mẽ và thường xuyên không kém gì nhân («xúc
duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu
duyên sinh, sinh duyên lão-bệnh-tử»,...) và, do đó, không thể
chỉ đơn thuần được hiểu và giải thích như điều kiện
- trừ phi là thứ điều kiện không thể thiếu như cái mà
Aristote gọi là lý do thực hiệu [cause effective]!
Mặt
khác, không cần phải là Socrate ngày xưa hay chuyên gia chính
trị thời nay mới có đủ năng lực nhận thức rằng ngay
cả cái khổ xuất phát từ sinh, lão, bệnh, tử cũng có nhiều
mức độ và khía cạnh khác nhau, tùy theo từng hoàn cảnh
xã hội của mỗi người. Đó là chưa nói đến cái khổ của
sự nô lệ, nghèo hèn, đói rách, dịch bệnh, ngu dốt, áp
bức, bóc lột, v. v... thường mang đậm dấu ấn của chính
trị. Ngày nay, có ai muốn đóng góp vào việc đoạn trừ đau
khổ một cách rốt ráo và cụ thể mà lại tự cho phép mình
khinh rẻ mọi hoàn cảnh xã hội hay chính trị có khả năng
tăng gia hoặc giảm thiểu nỗi đau khổ trong cuộc sống và
trong ý thức của mỗi cá nhân?
Sự
thực là Đức Phật không hề bịt mắt trước kích thước
xã hội hay chính trị của con người và của sự đau khổ.
Nhưng một sự thực khác là Ngài cũng không hề cho rằng sự
tồn tại của khổ đau nhất thiết bắt nguồn từ chế độ
xã hội - chính trị. Và nếu đau khổ không chủ yếu xuất
phát từ loại hệ thống ấy, thì cũng không một thể chế
xã hội - chính trị nào có khả năng thực sự mang lại hạnh
phúc cho con người cả! Nhà nước nào tự cho rằng mình có
thể mang lại hạnh phúc cho nhân dân là một chính quyền vừa
nói láo (bởi vì, nhiều lắm, nó chỉ có thể tạo ra những
điều kiện thuận lợi để mỗi người công dân tự mình
tìm lấy hạnh phúc), vừa nguy hiểm (bởi vì, vô tình hay cố
ý, nó đang áp đặt một quan điểm đại đồng không tưởng
về hạnh phúc cho mỗi người).
Nếu
biển khổ không xuất phát từ hệ thống xã hội hay chính
trị, thì nó bắt nguồn từ đâu? Đối với Đức Phật, căn
bản từ cấu trúc của hiện thực, và từ sự kiện là con
người không biết nhìn hiện thực như hiện thực. Chúng ta
có thể trình bày khổ đế trong đạo Phật như 3 vòng tròn
đồng tâm, mỗi vòng xác lập một mức độ kiến giải: vòng
trong giải thích vòng ngoài, đi sâu dần từ thế giới hiện
tượng vào những diện trừu tượng hơn.
Vòng
thứ nhất, gọi là khổ khổ [dukkha-dukkha], là vòng của các
loại hiện tượng sinh lý, tâm lý, xã hội. Tại sao lại có
già, chết, buồn, vui, thăng, trầm, v. v...? Bởi vì vạn vật
là vô thường: tất cả đều bị thời gian chi phối, hủy
hoại; đó là cái vòng thứ hai gọi là hoại khổ [viparinâma-dukkha]:
ở đây, ngay cả khoái lạc hôm nay cũng chỉ có nghĩa là đau
khổ nay mai. Tại sao mọi vật đều mang tính phù du? Bởi vì
vạn vật là vô ngã: chẳng có gì là tự hữu, tồn tại vô
điều kiện, thường trực, bất biến cả; đấy là cái vòng
thứ ba gọi là hành khổ [samkhâra-dukkha]: con người trùm lên
sự vật khát khao vĩnh hằng của mình, trong khi mọi hiện
tượng chỉ là những hiện hữu có điều kiện - những uẩn
hữu - nhất thời, biến đổi không ngừng trong dòng chuyển
hoá vô thủy vô chung của vũ trụ.
Nếu
không rời tháp ngà để bước vào xã hội, Siddhârtha đã
không gặp kẻ già, người bệnh, rồi xác chết, với thầy
tu khổ hạnh. Không gặp những người hoặc cảnh ngộ này,
đã không có chí hướng cứu độ chúng sinh, không có sự
tu hành, không có giác ngộ. Tựu trung, cánh cửa cộng đồng
cũng là lối vào triết lý của Đức Phật. Và nếu người
ta phải nhất quyết từ chối dán lên Đạo Phật, vì một
lý do nào đó, cái nhãn hiệu triết lý nhân sự theo nghĩa
cổ điển của Hy Lạp, thì chắc cũng khó lòng phủ nhận
cho nó tên gọi là một nhân sinh quan theo nghĩa Á Đông, giả
dụ rằng đây là hai loại biểu văn thực sự khác biệt!
Mặc dù lối đặt vấn đề của Ngài, cùng với truyền thống
văn hoá của Ấn Độ thời ấy, không cho phép Đức Phật
đi tìm giải đáp trong các lãnh vực kinh tế, xã hội hay chính
trị, mà lại hướng Ngài về một chân trời tư duy và suy
luận khác.
4-
PHẬT VÀ SOCRATE: HAI CUỘC ĐỜI, MỘT NGHỊCH LÝ
Giả
sử xứ Sâkya thời xưa cũng lâm vào cảnh loạn lạc, chiến
tranh triền miên, rồi tiếp theo là khủng hoảng chính trị
trầm trọng như Athènes vào thế kỷ thứ V trước tây lịch,
thì liệu Đức Phật có thể đã trở thành một triết gia
chính trị tại Ấn Độ như Socrate ở Hy Lạp chăng? Câu hỏi
hoàn toàn vô bổ, vì vĩnh viễn không có giải đáp. Nếu sự
thanh bình (có thể chỉ là giả định) của một đất nước
rộng lớn như Ấn Độ cổ đại là điều còn chưa mấy hiển
nhiên, thì điều đã rất rõ ràng là cả thái tử Siddhârtha
lẫn Đức Phật đều không tỏ vẻ gắn bó bao nhiêu với
quê hương như Socrate với thành quốc. Và nếu quả thật xưa
nay «xuất thế» và «nhập cuộc» vẫn là hai lối sống tương
phản dưới một khía cạnh nào đó, thì nhìn từ quan điểm
cộng đồng và dưới góc độ này, thái tử Siddhârtha rồi
Đức Phật một bên, cùng với Socrate phía bên kia, chính là
các đại biểu chân chính của hai cực nghiệm sinh dường
như hoàn toàn đối lập.
Trong
khi Siddhârtha chọn cuộc đời ẩn sĩ, Socrates làm tròn mọi
thứ nghĩa vụ công dân đối với Athènes cho đến lúc chết,
về chính trị cũng như quân sự. Siddhârtha từ bỏ ngai vàng;
Socrate từng tham gia và ngay cả chủ trì Hội Đồng Bộ Tộc
(nghị viện 10 bộ tộc [tribu = phulê] của thành quốc) [13];
và qua các lần tham chính đó (406, 403 trước Tây lịch), đã
để lại hình ảnh một nghị viên [prytanes = prutanis] công
chính [14]. Khi xảy ra chiến tranh giữa người Sâkya và dân
Koliya, Đức Phật can thiệp ngay trên chiến địa để chấm
dứt cuộc chiến chứ không đứng về phía quê hương Sâkya
[15]; Socrate, trái lại, tích cực bảo vệ quyền lợi của
thành quốc trong suốt 27 năm chiến tranh bá quyền giữa Athènes
và Sparte (431 - 404 trước Tây lịch), chẳng những không hề
có thái độ nghi ngại mà còn để lại ở đây một tấm
gương can đảm ít thấy. Đức Phật đi truyền đạo khắp
xứ Ấn Độ to rộng; gần như cả cuộc đời của Socrate
chỉ quẩn quanh trên đường phố hay tại những nơi công cộng
của thành quốc.
Về
đối tượng của việc truyền bá tư tưởng, cũng có một
khác biệt khá quan trọng. Đức Phật có khi thuyết pháp trước
đám đông, có lúc cho một cá nhân; và Ngài truyền giảng
cho mọi người, kể cả vua chúa và phụ nữ. Trừ lúc hành
sử quyền nghị viên và một lần khác phải tự biện hộ
trước công chúng ở toà án, Socrate chỉ đàm luận tay đôi
với từng cá nhân, dù mỗi khi hội đàm thường vẫn có sự
hiện diện của nhiều người; và thật ra Ông chỉ đàm luận
với thành phần mà ngày nay chúng ta gọi là «tinh hoa» của
Athènes thời ấy: công dân tự do, con nhà dòng dõi, trượng
phu nam giới, và nếu chẳng tha thiết với các khái niệm triết
học trừu tượng thì ít ra cũng không thờ ơ với những khó
khăn cụ thể của thành quốc.
Đức
Phật chắc chắn sẽ phản đối nếu người đương thời
gán cho Ngài một ý đồ chính trị nào khác ngoài việc truyền
giảng con đường thoát khổ. Socrate, một mặt, vừa khẳng
định «tôi không phải là nhà chính trị», mặt khác, lại
vừa tự biết rằng Ông là «người công dân Athènes hiếm
hoi, nếu không muốn nói là độc nhất, đã trau giồi nghệ
thuật chính trị đích thực và ngày nay mang nó ra thực hành»[16].
Hơn thế nữa, Socrate còn cương quyết bác bỏ mọi ngộ nhận
«phi chính trị» mà người đời có thể gán cho mình. Trước
thách thức «nhập cuộc» thay vì «biện luận suông» của
Antiphon, Ông đã mỉa mai hỏi lại kẻ đối thoại: «Tôi sẽ
dấn thân chính trị nhiều hơn bằng cách tự mình làm chính
trị, hay bằng cách kiên trì đào tạo ra càng nhiều người
có khả năng làm chính trị càng tốt?» [17].
Dù
đôi khi được tiếp đón ân cần, Đức Phật và đệ tử
cũng thường xuyên bị xua đuổi tại nhiều nơi ở Ấn Độ.
Do ngộ nhận về giáo lý của Ngài, nhiều giáo phái và ngay
cả các thành phần dân chúng lắm lúc đã công khai chỉ trích
«tính tiêu cực» hoặc «chủ nghĩa hư vô», v. v... ở đạo
Phật, chưa kể đến loại dị ứng bệnh hoạn trước một
lối sống mà họ không hiểu hoặc không theo nổi. «Hãy dừng
lại, tên trọc đầu. Dừng lại, thằng sa môn khốn nạn.
Dừng lại, đồ cùng đinh» - bản thân Đức Phật cũng đã
từng được chào đón nóng bỏng như thế [18], Nhưng nguyên
tắc hành xử nhất quán của Ngài là, ngoài những cuộc đàm
luận mà đối tượng duy nhất là sự truy tìm chân lý, từ
khước mọi thách thức mang tính chất phỉ báng, hoặc tranh
giành uy tín hay ảnh hưởng giữa các giáo phái: «Này các
tỳ kheo, thế gian chống ta, chứ ta không chống thế gian. Kẻ
trao truyền chân lý không cần công kích ai cả» [19].
Socrate
bị Athènes kết án tất cả hai lần. Lần thứ nhất (403 trước
Tây lịch) khi thành quốc này thất trận và bị Sparte áp đặt
một chế độ bù nhìn; chính quyền gọi là «nền chuyên chính
của ba mươi bạo chúa» [tyrannie des trente] này, dù chỉ tồn
tại vỏn vẹn trong 8 tháng (404 - 403 trước Tây lịch), cũng
có đủ thời giờ để nhận thức được sự nguy hiểm đến
từ những câu hỏi ỡm ờ của triết gia, và do đó, cấm
Ông phát biểu tại các nơi công cộng. Lần thứ hai (399 trước
Tây lịch), Socrate bị ngay chính nền dân chủ của Athènes
kết án tử hình, dựa trên một cáo trạng với 3 trọng tội:
một, huyễn luận về những hiện tượng trên trời và trong
lòng đất; hai, chối bỏ các thần linh của thành quốc để
thay thế bằng tà thần; và ba, làm hư hỏng thanh thiếu niên
công dân.
Tuy
nhiên, đối chiếu hai cuộc đời, hai định mệnh song song
và ngược chiều này, khó lòng không nhìn thấy một nghịch
lý hiển nhiên. Sau khi Đức Phật lìa trần, đạo của Ngài
còn cảm hoá được Asoka [20] của Ấn Độ cổ đại: rốt
cuộc, kẻ đã từ bỏ ngai vàng để khoác áo tu sĩ vẫn để
lại cho thế gian một minh quân Phật tử! Khi Socrate bị xử
uống thuốc độc - một phần lớn vì hành tung bất hảo của
hai môn đồ cũ là Critias [21] và Alcibiade [22], ông tổ của
triết lý chính trị và vị thầy của chính trường này không
để lại cho hậu thế ở đây một kẻ kế thừa nào xứng
danh! Có Platon trong lãnh vực tư tưởng thật đấy, song triết
lý của Platon thì thực chất đâu còn là của Socrate! Còn
trong hành động, ngoài chính bản thân Ông ra, xưa nay ai là
người có thể được xem là chính khách tiêu biểu cho cái
«phong cách người hiền» kiểu Socrate?
5-
TÔN GIÁO, CHÍNH TRỊ: DANH VÀ THỰC
Cả
học thuyết của Đức Phật lẫn triết lý của Socrate đều
lấy đối tượng là nhân sự. Điều khác biệt chính yếu
là ở đạo Phật, tất cả vạn vật đều được đặt dưới
một thứ quy luật đồng nhất của tự nhiên: mọi hiện tượng
đều chỉ là những tổ hợp tạm bợ, cái này có thì cái
kia có, cái này mất thì cái kia mất. Trong thứ vũ trụ quan
tương quan tương duyên ấy, xác định một cõi người biệt
lập với thế giới đã bấp bênh, làm sao xây dựng nên những
lãnh vực sinh hoạt với ranh giới cố định rõ rệt? «Tôn
giáo», «chính trị», «kinh tế»... chỉ là những danh từ,
sản phẩm của tư duy phân tích; trên thực tế, chỉ có một
dòng đời luôn luôn chuyển hoá, trên ấy không có bức tường
siêu hình nào ngăn cấm Asoka hành xử theo giáo lý của Đức
Phật hết cả. Ở đây, hoàn toàn không có chi là nghịch lý.
Có
chăng là từ quan điểm của Socrate. Bởi vì, khác với nhiều
triết gia đi trước, Socrate độc đáo ở chỗ Ông đã nhận
định rằng cốt lõi của thế giới tự nhiên không phải
là tính đồng nhất [homogénéité] mà là tính bất đồng [hétérogénéité]
của vạn vật; hơn nữa, đây không phải chỉ là một sự
dị biệt trong cảm giác [sensible] mà là dị biệt từ ở tư
duy [noétique] [23]. Nghĩa là, đối với triết gia, vũ trụ bao
gồm vô số sự vật, và trong đó nếu có những cái luôn
luôn thay đổi như các sự vật cá thể, thì cũng có những
cái không hề thay đổi như các lớp, loại sự vật. Các lớp
hay loại sự vật sau - đối tượng của câu hỏi «cái này
là cái gì?» - đều khác nhau về tính chất, và chính nhờ
ở sự khác nhau từ gốc rễ ấy mà người ta có thể xác
định bản chất của lãnh vực chính trị, và do đó, phân
biệt được cái «chính trị» với cái «phi chính trị» như
«tôn giáo» hay «đạo lý » chẳng hạn.
Dưới
mắt nhận thức luận, lấy lập trường duy danh như Đức
Phật là bơi ngược dòng, ở chỗ nó đòi hỏi một sự đoạn
tuyệt với tập quán suy nghĩ của người thường. Giữ lập
trường duy thực như ở Socrate, ngược lại, mặc nhiên bao
hàm quan điểm theo đó cái gọi là kiến thức trong sáng [connaissance]
chỉ là sự nối tiếp của dư luận dân gian [opinion]. Và trên
thực tế, tất cả triết lý của Socrate đều khởi đầu
từ những giải đáp quen thuộc của kẻ đối thoại - nghĩa
là từ loại ý kiến bình dân [sens commun] -, cho câu hỏi «cái
này là cái gì?» mà Ông đã đặt ra cho họ, để sau đó dần
dần chuyển hoá thành khái niệm triết học, qua sự gọt dũa
của tư duy, dưới tác động qua lại của biện chứng tranh
cãi.
Duy
thực, vì thế, là một quan điểm thực tiễn và rất phổ
biến, nhưng không phải là không đặt vấn đề. Theo lối
nhìn này, có cái gọi là «tôn giáo», có cái gọi là «chính
trị», và hai cái nếu không phải là đối lập thì ít ra
cũng khác nhau từ bản chất. Trước dư luận thế gian, Đạo
Phật chẳng hạn là một «tôn giáo», tất nhiên; song khẳng
định này, trên thực tế, lại cần được bổ túc bằng
một mệnh đề hiệu chỉnh: đây là một «tôn giáo» không
có Thượng Đế hay thần thánh! Trước công luận xưa nay,
bản án của Socrate là một cuộc thanh toán «chính trị» [24],
dĩ nhiên; song điều không thể chối cãi ở đây là Ông đã
bị kết vào một trong những tội «tôn giáo» nặng nề là
tội bất sùng kính [impie], cụ thể là «chối bỏ và thay
thế các thần linh của thành quốc bằng tà thần». Hoặc
sự phân chia lãnh vực chỉ có trong tư duy phân tích, hoặc
đường ranh giữa «chính trị» và «tôn giáo» có thể vô
cùng co giãn, hoặc «chính trị» bao trùm luôn cả «tôn giáo»,
ít nhất trên quê hương của triết gia!
Đối
với một quan điểm nào đó của đời sau, Athènes và cả
Hy Lạp cổ đại đã cống hiến cho nhân loại hai cái mới
gắn bó chặt chẽ với nhau: chế độ thành quốc và tư duy
thuần lý; và sự hình thành của cái sau tùy thuộc một phần
rất lớn ở sự xuất hiện của cái trước. «Trí tuệ Hy
Lạp đã không hề được tạo lập từ quan hệ giữa con người
với các loại sự vật mà từ sự tương tác giữa con người
với nhau... Trí tuệ Hy Lạp là thứ lý trí cho phép ta hành
động trên con người một cách tích cực, có suy nghĩ và phương
pháp, hơn là cải tạo (hiệu quả) thiên nhiên. Trong những
hạn chế cũng như trong các nét mới mẻ của nó, đây là
con đẻ của thành quốc» [25]. Nhận định trên có phần đúng,
với điều kiện đừng quên rằng sự thực thường vẫn ít
cứng nhắc hơn biểu văn; dù sao, nó cũng chỉ có thể là
kết quả của một quá trình tiến hoá nhiều thế kỷ.
Vào
buổi bình minh của chế độ thành quốc thì «chính trị»
không hề độc lập với «tôn giáo». «Thất Hiền» [26]trong
truyền thống xây dựng và cứu nguy thành quốc ít nhiều có
tính chất huyền sử của Hy Lạp chẳng hạn, chính là những
nhân vật lịch sử đã được người đời đặt ra ngoài
hay bên trên xã hội loài người như một loại bán thần,
do ở lối sống kỳ quặc cùng với những kiến thức dễ
được xem là «thiên khải» [27]. Mặt khác, ngay vào thời
đại của Socrate, chính trị trước hết là cái mà thời nay
gọi là hiến pháp, và Athènes chỉ công nhận là công dân
những ai vừa thờ phụng các thần linh, vừa tôn trọng luật
pháp của thành quốc. Vì là những politès tiếng tăm ở đây,
Alcibiade và Socrate chỉ là hai trường hợp «bất sùng kính»
nghiêm trọng nhất trong một chuỗi các phiên xử cùng tội:
nhiều khách viếng thành quốc cũng đã từng bị kết án,
song chỉ bị trục xuất khỏi Athènes như Anaxagore (432 trước
Tây lịch), Diagoras de Mêlos (415 trước Tây lịch), và Protagoras
(411 trước Tây lịch)! [28]
Tương
tự nhưng đối xứng với trường hợp của Hy Lạp, ở Ấn
Độ và vào thời Đức Phật thì quả đúng là «tôn giáo»
bao trùm luôn cả «chính trị». Nhìn tổng quát, tất cả những
gì có thể phân biệt ra làm «tôn giáo», «chính trị», «xã
hội», và ngay cả «kinh tế», đều được hợp nhất dưới
một khái niệm siêu hình gọi là pháp [dharma]. Song dharma, ngoài
ý nghĩa là mọi sự, mọi vật («tất cả các pháp»), còn
là quy luật phổ biến điều hành toàn thể vũ trụ. Trong
xã hội loài người, nó là một thứ công lý sống làm nền
tảng cho sự phân chia đẳng cấp; ở mức độ cá nhân, nó
là con đường mà mỗi người phải tự đi để hoàn thành
cái nghiệp [karma] của mình. Và karma lại là một khái niệm
siêu hình phổ biến khác, nhằm giải thích một day dứt xã
hội: vì sao cuộc đời lại đầy dẫy những bất công (chủ
tớ, giàu nghèo, sang hèn, khoẻ yếu, v. v...)? Câu hỏi này,
đặt ra ở một nơi nào khác, có thể đã mở đường cho
năm ba giải đáp «chính trị»; ở Ấn Độ, nó lại chỉ
dẫn tới khái niệm ngã [âtman] và lý thuyết luân hồi [samsâra],
nghĩa là vẫn trở về với «tôn giáo»!
Tựu
trung, trí tuệ Ấn Độ được xây dựng lên từ ý thức của
con người về cõi linh thiêng và thế giới siêu nhiên, hơn
là từ ý thức cộng đồng và sự giao tiếp giữa những công
dân với nhau; mặt khác, nó hoàn toàn hướng về lãnh vực
tâm linh và khát vọng siêu thoát điều kiện con người của
nhân cách Ấn Độ cổ đại. Có thể nói rằng trí tuệ Ấn
Độ chính là con đẻ của miếu đền, của thần thánh và
của sự đồng nhất được khẳng định giữa Âtman (tự
ngã, linh hồn bất diệt) và Brahman (Thượng Đế, cái Tuyệt
Đối), phôi thai từ kinh Veda, bàng bạc trong Brâmana, trước
khi cô đọng thành 4 lời phán lớn [mahavâkya] của Upanishad:
«Cái tôi đích thực chính là Brahman!»; «Cái Tuyệt đối,
ấy là thực tính của mi!»; «Âtman chính là Brahman!»; «Kiến
thức thuần túy và tinh khiết, đấy chính là chân tướng
của Brahman!» [29].
Trong
bối cảnh ấy, giáo lý của Đức Phật thực chất là một
trong những chấn động từ đáy biển nổi lên mặt nước
đã bao đời tĩnh lặng của truyền thống tư tưởng Ấn Độ
thời ấy. Tuy nhiên, bất cứ ai cũng chỉ có thể tư duy trong
một khuôn khổ nào đó, với những khái niệm và học thuyết
của một nơi, một thuở. Đức Phật, do đó, vẫn phải sử
dụng các thuật ngữ pháp, nghiệp, luân hồi, v. v... -, dù
đã đổi mới lối đặt vấn đề, mang đến cho chúng một
nội dung rất khác, nếu không nói là hoàn toàn khác. Tất
nhiên, đạo của Ngài, với tư cách là một «dị thuyết»,
đối lập với các «chính thuyết» làm nền tảng cho việc
tổ chức xã hội - chính trị bên trong một hệ thống triết
lý cứng nhắc như ở đây, không thể không gây ra những xáo
trộn nhất định, cả về mặt tư tưởng lẫn chính trị,
bắt buộc cái truyền thống ấy phải phản ứng quyết liệt
- dù chỉ vì và bằng bản năng tự tồn.
Một
mặt, bù lại với sự êm thắm bành trướng ra khắp Á Châu,
đạo Phật cũng lặng lẽ mất dần chân đứng ngay tại nôi
sinh trưởng: con đường thoát khổ của Đức Phật «đã được
quan niệm ở mức độ toàn nhân loại», trong khi Ấn Độ
chỉ muốn là Ấn Độ mà thôi, nghĩa là «sống chết với
chế độ đẳng cấp và các cựu thần của mình, trong loại
chỉnh thể đã được tư tưởng dày công xây dựng» [30].
Mặt khác, ngay chính Đức Phật, nhà tư tưởng thuần lý,
người từ chối biện luận về thần thánh, kẻ chỉ luôn
luôn tự nhận mình là một con người như bao người khác
và chỉ hơn chúng sinh ở chỗ đã giác ngộ mà thôi, cũng
bị thần thánh hoá. Trên mảnh đất Ấn Độ mầu mỡ của
tôn giáo, thay vì bị kết tội «vô thần» như Socrate, Ngài
lại trở thành một thứ «thần linh» đầy quyền, đầy phép
để con người thờ phụng, cầu xin. Một hình thức trả thù
tuy nghịch lý song lại vô cùng kiến hiệu của tôn giáo!
6-
SOCRATE TRƯỚC LOẠI THẦN NGƯỜI
Socrate
đã tự biện hộ trước toà bằng một bài cãi trung thực
mà cứng rắn, về sau được Platon và Xenophon ghi lại trong
hai tác phẩm trùng tên: Socrate Tự Biện. Và điều hiển nhiên
ở đây là cả hai vị, ngoài việc hồi tưởng lại từ ký
ức (Platon) hay từ lời tường thuật (Xenophon) về vụ án,
đều không tỏ vẻ gì hùng biện và có sức thuyết phục
cho lắm trước tội trạng «chối bỏ và thay thế các thần
thánh của Athènes bằng ngoại thần» gán cho sư phụ, bởi
vì thực ra nó đâu hoàn toàn là bịa đặt! Tất nhiên, Socrate
đã không hề phỉ báng hoặc đâm chém các tượng thần bằng
gươm giáo như Alcibiade, nhưng thần linh nào mà không rướm
máu trước những câu hỏi sắc nhọn của triết gia? Công
chính là gì?, đạo lý là gì?, hiền minh là gì? có nghĩa là
tôi đang khắc khoải tìm kiếm các giá trị ấy, và nếu tôi
phải ráo riết truy lùng là bởi vì chúng hoàn toàn vắng mặt
ở đây. Khi thành quốc rữa nát đến mức độ đó, thì ai
là người phải chịu trách nhiệm, nếu không phải là cấp
lãnh đạo, và những kẻ ở trên cả cấp lãnh đạo - loại
thần linh mà hạnh kiểm nhiều khi còn đồi bại hơn cả người
đời? Zeus chẳng hạn, bởi tánh hoang đàng, đã lấy cả em
gái là Héra, nghĩa là mắc tội loạn luân mà bất kỳ xã
hội người nào cũng lên án!
Thật
ra, Socrate không vô thần. Đúng như Ông đã phân tích cho bên
nguyên thấy sự mâu thuẫn lúng túng của lời buộc tội:
Socrate vừa phạm tội không tin là có thần linh (chống nội
thần của Athènes), vừa mắc tội tin là có (đưa ngoại thần
vào thành quốc)! [31]. Nhưng một mặt, nếu Socrate tin ở sự
sáng suốt của thần Apollon qua lời phán của các tiên tri
đồng cô [pythie] tại đền Delphes, tin vào cái tiếng nói thiên
thần [daimônion] văng vẳng từ thâm sâu để can ngăn mỗi
khi Ông sắp làm điều gì sai trái, và tin cả rằng thần thánh
nhiều khi cũng dùng cả các phương tiện ngoại lý như mộng
mị, cuồng ngôn, loạn trí - những thứ mà ngày nay có thể
bị xem là dị đoan - để sai khiến hoặc cảnh giác con người,
thì mặt khác, mặc dù chưa bao giờ phỉ báng thần linh hay
các anh hùng dân tộc của Athènes, chẳng những triết gia ít
khi cầu cúng mà còn khuyên nhủ người đời nên thường xuyên
hoài nghi và thận trọng mỗi khi cầu xin, trong mối quan hệ
thần / người.
- Sùng
kính [piété] là gì?
Socrate
hỏi Euthyphron [32] khi biết y muốn tố cáo bố đẻ về tội
bắt trói, giam giữ, rồi vô tình để chết một kẻ sát nhân
trong nhà - Euthyphron muốn noi gương Zeus (nhờ mẹ cứu thoát
chết, Zeus đã lật đổ và trừng phạt cha mình là Cronos vì
tội ăn thịt con), hầu tỏ lòng sùng kính đối với Thần!
- Sùng
kính là làm như ta đang làm: truy tố kẻ phạm tội, dù đấy
là bố, là mẹ hay ai khác.
- Đấy
chỉ là một ví dụ, nó không nói lên được bản chất của
điều mà mọi người xem là sùng kính.
- Sùng
kính là làm những gì mà thánh thần yêu thích.
- Như
vậy, sùng kính cũng là bất kính hay sao, bởi vì cùng một
việc mà các thần lại có người yêu kẻ ghét?
- Sùng
kính là làm những gì mà tất cả thần linh đều yêu chuộng,
bất kính là làm những việc mà tất cả thánh thần đều
chê ghét.
- Điều
được các thần yêu thích thường là độc đoán, trong khi
sự sùng kính được trân trọng vì bản chất của nó.
Thấy
Euthyphron lúng túng, Socrate gợi ý:
- Sùng
kính phần nào là sự công chính chăng?
- Sùng
kính là thờ phụng thần linh như kẻ nô lệ hầu hạ chủ.
- Thế
ra sùng kính là dâng lễ vật để cầu xin, một hình thức
mua bán qua đó con người được ân huệ, còn các thần thì
được gì?
- Thần
thánh hài lòng khi được vinh danh là đủ.
- Rốt
cuộc, sùng kính vẫn là làm những gì mà các thần yêu thích
như định nghĩa đầu tiên.
Đến
đây, Euthyphron bỏ cuộc và Socrate vẫn không biết sùng kính
là gì, dù sắp bị lôi ra toà về tội bất sùng kính! [tóm
lược và phỏng dịch từ Eythyphron] [33]
Một
lần xa xưa hơn, Socrate gặp chàng Alcibiade trên đường đến
đền cầu nguyện. Ông tìm cách khuyên can.
- Hãy
suy nghĩ thật kỹ, vì các thần đôi khi cũng thoả mãn những
lời cầu xin, trong khi người đời nhiều khi lại chuốc lấy
họa cho mình chỉ vì tưởng đấy là phúc, như Œdipe (trong
cơn bấn loạn, Oedipe cầu khẩn thần linh xui khiến các con
mình tranh nhau gia sản bằng vũ khí).
- Oedipe
là kẻ điên rồ.
- Điên
loạn là một hình thức ngu dại, nhưng trong đời chỉ có
hai loại người mà thôi, một thiểu số là khôn ngoan, còn
đại đa số là ngu dại cả.
- Quả
đúng như vậy thật.
- Giả
sử vị thần cậu sắp cầu nguyện tự ý cho cậu làm vua
của Athènes, rồi của cả Hy Lạp, rồi của cả Âu Châu nữa,
thì cậu sẽ rất sung sướng mà nhận chứ gì?
- Như
bất cứ ai khác.
- Ngay
cả trong trường hợp phải trả ân huệ ấy bằng đủ thứ
hoạn nạn, mất mát, có khi là chết chóc chăng?
- Tất
nhiên là không rồi!
- Như
vậy, chỉ còn công thức này của một thi sĩ vô danh nào đó
là đẹp và chắc nhất: hỡi Zeus tôn kính, hãy ban cho chúng
tôi mọi điều lành, dù chúng tôi có cầu xin hay không, và
hãy tránh cho chúng tôi mọi điều dữ, dù chúng tôi có nài
nỉ.
- Sự
ngu dốt thật là tai hại, khi nó thúc đẩy người ta cầu
xin những tai hoạ mà không biết.
- Đối
với một số người, không biết một số chuyện đôi khi
lại là điều hay; song dù có nắm được đủ thứ kiến thức
trên đời mà không biết phân biệt thiện / ác thì cũng chẳng
ích lợi gì, dầu cho bản thân hay cho thành quốc.
- Thật
là vô nghĩa nếu phải vừa cầu xin vừa lo sợ xin nhầm điều
xấu.
- Chỉ
có kẻ hiền minh và công chính mới biết phải nói và làm
gì trong quan hệ với thần thánh và tha nhân, tốt hơn nên
chờ đến lúc có được các đức tính ấy.
Alcibiade
đồng ý, đình chỉ việc cầu xin [tóm lược và phỏng dịch
từ Second Alcibiade] [34].
Trong
hai bản đối thoại trên của Platon, cả Euthyphron lẫn Alcibiade
đều là đại diện cho quan điểm truyền thống về tôn giáo:
cái tốt là cái cổ xưa, và sùng kính là tôn thờ các vị
thần tổ tông theo đúng tập quán của tổ tiên để lại.
Nhưng cụ thể là phải làm gì? Bắt chước những gì các
vị đã làm hay chỉ tuân theo những gì các vị nói? Một mặt,
người ta chỉ biết đến thần thánh thông qua thi ca; mặt
khác, Athènes lại tôn thờ, không chút đắn đo, ngay chính
các vị thần «người, quá người» trong thần thoại của
Homère như nội thần. Và nếu phải dựa vào đấy mà bắt
chước thì hành động của các vị không phải lúc nào cũng
đáng kính, lời nói với việc làm thường chẳng đi đôi.
Khi Euthyphron tố cáo bố đẻ để noi gương Zeus chẳng hạn,
y đã vô tình phản bội một truyền thống hiện thực của
xã hội Hy Lạp! Rủi có một công dân nào khác cũng noi gương
Zeus lấy em gái mình, hắn sẽ vô tình vi phạm giới cấm loạn
luân phổ biến trong mọi xã hội con người! Còn nếu chỉ
tuân theo những gì các vị nói, thì phải nghe ai, khi các vị
bất đồng ý kiến? Và ý nghĩa của sự tranh cãi với nhau
là gì, nếu không phải là chính sự hiểu biết của các vị
cũng chỉ đáng gọi là ý kiến chứ không phải là kiến thức
- nghĩa là chính các vị cũng chẳng thật biết cái gì ráo?
Đối
với Xenophon, «Socrate là người sùng kính nhất trái đất»
[35]. Có điều tôn giáo của Ông thì lại không đồng nhất
với tín ngưỡng của người dân thành quốc. Nói cách khác,
các vị thần của triết gia, nếu cũng trùng tên với loại
thần linh của Homère thì lại khác tộc, nghĩa là không thuộc
dòng họ Huyền [Mythos] mà đều mang họ Lý [Logos], như Công
Lý, Chân Lý, Đạo Lý...
Trong
thế giới của Homère, thần thánh ngồi trên, ý tưởng đứng
dưới. Cái gọi là «thiện», là «chính» chỉ mang các danh
nghĩa ấy do ý muốn của thần linh mà không dựa trên một
lý do nội tại nào cả. Nó là thế giới của sự yêu thích
thuần túy, của sự độc đoán toàn diện. Trong thế giới
của Socrate, ý tưởng ngồi trước, thần linh đứng sau; và
tất nhiên là ngay cả thánh thần cũng phải phục tùng ý tưởng.
Với hai hậu quả tất yếu ở đây: thứ nhất, thần linh
trở thành phù phiếm; thứ hai, Euthyphron không thể định nghĩa
được sùng kính nếu chưa biết công chính là gì - bởi vì
sùng kính thực chất chỉ là một ý niệm tương đương với
công chính, chỉ khác ở chỗ là công chính áp dụng cho con
người, trong khi sùng kính lấy thần thánh làm đối tượng.
7-
ĐỨC PHẬT TRƯỚC LOẠI NGƯỜI THẦN
So
với trường hợp của Socrate, Đức Phật lịch sử đáng bị
kết án hơn nhiều. Kể cả và nhất là trước tội trạng
nặng nhất là tội «vô thần». Tất nhiên, Ngài chưa bao giờ
nói trắng ra rằng Thượng Đế hay các thần thánh đều không
tồn tại. Ngài cũng không hề nói tránh đi như Protagoras, dù
có thể hoàn toàn đồng ý với lời phát biểu sau đây của
nhà biện sĩ Hy Lạp: «Về thiên thần, tôi không thể biết
rằng các vị tồn tại hay không, mà cũng không thể biết
mặt mũi và dáng dấp các vị ra sao. Có quá nhiều chướng
ngại cho sự tìm hiểu: thần thánh thì vô hình mà đời người
lại quá ngắn ngủi» [36].
Trước
những vấn đề không thể giải đáp vào thời đại của
Ngài, hoàn toàn ý thức rằng điều mà Ngài có thể hiểu
biết và truyền giảng như cần thiết cho sự giác ngộ chỉ
là «một nắm lá trong tay, so với cả biển lá trong rừng
Simsâpa» [37], Đức Phật cũng kết luận khiêm tốn như Wittgenstein
25 thế kỷ sau: «Điều không thể phát biểu được, ta phải
giữ im lặng» [38]. Và Ngài đã thật sự «câm lặng» trước
những câu hỏi ít nhiều có tính chất thách đố của một
đệ tử tên là Mâlunkyaputta, hay trước nỗi hoang mang cùng
cực của chàng lang thang Vacchagotta.
- Vũ
trụ là hữu hạn hay vũ trụ là vô biên? Thế giới là thường
còn hay thế giới là vô thường? Hồn với xác cũng chỉ là
một hay hồn với xác là hai sự vật khác nhau? Như Lai còn
tồn tại hay Như Lai không còn tồn tại sau khi chết? Hoặc
Như Lai vừa còn-tồn-tại, vừa không còn-tồn-tại sau khi
chết? Hoặc Như Lai vừa không-còn-tồn-tại, vừa không không-còn-tồn-tại
sau khi chết?
Đấy
là những câu hỏi ồn ào, và đây là lời thách đố ngạo
mạn của Mâlunkyaputta:
- Nếu
Thế Tôn giải thích được, thì tôi sẽ tiếp tục sống đời
đạo hạnh dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn; còn nếu như
Thế Tôn không giải thích được, thời tôi sẽ bỏ đạo
pháp và hoàn tục. Nếu Thế Tôn biết, xin hãy nói là biết;
nếu Thế Tôn không biết, xin cứ nói thật là không biết.
Khi một người không biết, không thấy, người ấy phải thật
thà nói: tôi không biết, tôi không thấy[39].
Bằng
ngụ ngôn một kẻ bị tên thuốc bắn, chưa chịu rút ngay
mũi tên độc ra để lo cấp cứu mà còn muốn điều tra về
những chuyện chung quanh, Đức Phật giải thích cho Mâlunkyaputta
hiểu rằng đời sống đạo hạnh không tùy thuộc ở lời
giải đáp các vấn đề trên, rằng dù những giải đáp ấy
ra sao đi nữa thì vẫn luôn luôn có sinh, lão, bệnh, tử, hoạn
nạn, khổ đau, tuyệt vọng...
- Ðã
bao giờ ta hứa với ngươi: hãy đến đây sống đời đạo
hạnh với ta, ta sẽ giải đáp cho các thắc mắc ấy? Đã
khi nào ngươi nói với ta: tôi đến đây sống đời đạo
hạnh với Thế Tôn và Ngài sẽ giải đáp cho tôi những thắc
mắc đó? Như vậy, chẳng có gì ràng buộc giữa ta với ngươi
cả»... «Hãy xem những gì ta giải thích như đã được giải
thích, và những gì ta không giải đáp như không được giải
đáp. Những vấn đề nào ta không giải thích? Chính là những
thắc mắc trên. Vì sao ta không giải đáp? Vì chúng không liên
hệ gì đến đời sống đạo hạnh, không dẫn đến giác
ngộ. Những vấn đề nào ta đã giải thích? Chính là sự
tồn tại của khổ đau, nguyên nhân của khổ đau, sự chấm
dứt khổ đau, và con đường đoạn diệt khổ đau. Vì sao
ta giải đáp? Vì chúng gắn liền với đời sống đạo hạnh,
và dẫn đến Niết Bàn [40].
Đối
với các đệ tử thường nay đây mai đó tìm thầy học đạo,
Đức Phật giữ im lặng theo một nghĩa khác. Vacchagotta mon
men đến cạnh Ngài và hỏi:
- Bạch
Thế Tôn, có một Âtman chăng?
Đức
Phật không trả lời. Vacchagotta lại hỏi:
- Bạch
Thế Tôn, như vậy là không có Âtman chứ gì?
Ngài
vẫn nín thinh. Vacchagotta bèn đứng dậy và bỏ đi một mạch.
Khi người đệ tử này đã rời xa, một môn đồ khác là
Ânanda mới hỏi Phật:
- Bạch
Thế Tôn, vì sao Ngài không trả lời y?
Đức
Phật ôn tồn giải thích:
- Nếu
ta nói là có, hắn sẽ xếp ta vào phái thường hữu; nếu
trả lời rằng không, hắn sẽ đặt ta vào phái đoạn diệt.
Nếu ta nói là có, thì hoàn toàn trái ngược với sự hiểu
biết của ta là tất cả các pháp đều vô ngã. Nếu trả
lời rằng không, thì Vacchagotta lại càng rối trí hơn, bởi
vì hắn sẽ nghĩ rằng mới đây hắn còn có ngã, mà bây giờ
đã tan biến đâu mất[41].
Thật
ra, chủ trương vô thần của Đức Phật không phải là một
bí mật khó đoán, qua những điều mà Ngài phủ nhận. Trong
một quan hệ nhân quả, nếu khước từ hệ quả có nghĩa
là bác bỏ nguyên nhân, thì Ngài phủ nhận không những chỉ
sự trường tồn của một bản ngã bất biến Âtman như ở
trên - vế tương đương và hậu quả tất yếu của sự tồn
tại của Thượng Đế Brahman - mà còn phủ nhận luôn cả
sự phân chia xã hội thành 4 đẳng cấp: Brâhmana (tôn giáo),
Ksatriya (chính trị, hành chánh, quân sự), Vaisya (thương gia,
nông dân), và Sũdra (nô bộc) - được xem là sinh ra từ miệng,
tay, đùi, và chân của Thượng Đế -, chưa kể hạng người
bị xem là cùng đinh - một thứ cặn bã của đời sống tập
thể, bị cả tôn giáo lẫn chính trị góp sức phế thải
ra ngoài hệ thống phân công và phân cấp xã hội.
Đã
vô thần, Đức Phật không thể có thái độ sùng kính trước
Thượng Đế hay thần thánh. Và sự bất sùng kính của Ngài
được biểu hiện ở nhiều mức độ, trong nhiều lãnh vực
khác nhau. Trong khi đẳng cấp tăng lữ thống trị của Ấn
Độ cổ xưa tự hào biện bạch: «mặt trời sẽ không mọc,
nếu thầy tế quên dâng lửa cúng lúc rạng đông» [42], Đức
Phật giảng cho đệ tử Vâsettha hiểu rằng: không phải bằng
cách cầu khấn thần Indra, thần Soma, thần Varuna, thần Isâna,
thần Pajâpati, thần Brahma, thần Mahiddhi, hay thần Yama,... mà
người ta trở thành một người brahman đích thực; cũng không
phải bằng sự cầu khẩn, tiếng chuông mõ, lời tán tụng
thần thánh mà người brahman có thể về đoàn tụ với Thượng
Đế sau khi chết [43]. Và ngược với truyền thống tín ngưỡng
bao đời của Ấn Độ, Ngài không chấp nhận rằng số phận
của mỗi cá nhân lại bị quyết định bởi dòng dõi, thay
vì được xây dựng lên từ những hành động tạo nghiệp
(ý thức): «Con người ta không ai mới sinh ra đã là cùng đinh
hay mới sinh ra đã là brahman cả. Chỉ do hành động của bản
thân mà người ta sẽ trở thành hoặc cùng đinh, hoặc brahman
mà thôi» [44].
Đi
đến tận cùng của sự bất sùng kính, Đức Phật không ngần
ngại đồng hoá loại người mà xã hội gọi là «thánh thiện»
- dù là đàn ông hay đàn bà - với thần linh.
«Này
các gia trưởng, có 4 cách sống chung với nhau (như vợ chồng)».
Đấy là: chồng quỷ ở với vợ quỷ, chồng quỷ ở vợ
thần, chồng thần ở với vợ quỷ, chồng thần ở với vợ
thần. Thế nào là sống như quỷ? Sống như quỷ là «sống
như xác chết». Thế nào là sống như xác chết? «Sát sinh,
trộm cướp, tà dâm, gian dối, say sưa, làm hại người khác,
phỉ báng kẻ tu hành và người đạo hạnh». Thế nào là
sống như thần thánh? «Không sát sinh, không trộm cướp, không
tà dâm, không gian dối, không say sưa, không làm hại người
khác, không phỉ báng kẻ tu hành và người đạo hạnh» [45].
8-
SOCRATE, ARISTOPHANE, GIA ĐÌNH, NỮ GIỚI
Đức
Phật mới thực là kẻ vô thần. Socrate chẳng những đã không
phủ nhận thần linh mà còn đặt ở các vị một hoài bão
to tát: tôn giáo phải là nền tảng của đạo lý thành quốc,
và do đó, cần phải cải thiện những hình ảnh nhảm nhí
về thần thánh mà thi ca đã vô tình để lại trong ký ức
tập thể. Có thể gọi đó là quan điểm tôn giáo của Ông,
bộ phận không thể tách rời của một dự án sâu rộng hơn.
Và sự thật là Socrate ôm ấp cả một dự án chính trị.
Nói một cách trừu tượng, đó là cải tạo con người để
cải tổ cái mà thời nay gọi là nhà nước, đổi mới nề
nếp và tập quán chính trị bằng biện pháp giáo dục công
dân. Cụ thể hơn, đó là đảo ngược sự suy đồi trầm
trọng của Athènes thuở ấy, bằng cách chấn chỉnh ý thức
cộng đồng của người dân thành quốc.
Rốt
cuộc, Athènes đã dại dột sát hại người tình chung thủy
và tha thiết nhất với vận mạng của mình. Cuộc đời của
Socrate có thể cống hiến chất liệu bi kịch cho nhiều thế
hệ kịch gia, đương thời cũng như mai hậu. Song điều thật
cay đắng, thật oái oăm là: sinh thời - nghĩa là ngay từ 24
năm trước khi hạ màn -, nó chỉ được đem làm đề tài
giễu cợt trong một hài kịch của Aristophane [46]. Vở kịch
này tên là Mây [Les Nuées, 423 trước Tây lịch], và mây của
Hy Lạp cổ đại lại chính là cái lưỡi của Á Đông: cái
lưỡi không xương trăm đường lắt léo, đám mây không lõi
kết vạn hình thù! Chủ đích của tác giả, như vậy, đã
hiển hiện rất rõ ràng: phê phán các nhà biện sĩ [sophistes]
miệng lưỡi mà Socrate bị xem là nhân vật điển hình. Có
điều, ở đây, nhân vật chính chỉ là sản phẩm quá méo
mó của một sự «nhìn nhầm» không mấy quang minh giữa hai
con người hiện thực của Socrate, trước và sau bước ngoặt
về triết lý nhân sự.
Trong
Mây[47], Socrate là ông hiệu trưởng vừa khoác lác vừa lố
bịch của một thứ «xưởng đẻ tư tưởng» chuyên về khoa
ngụy biện, hàng ngày di chuyển trong một thứ lẳng mây lơ
lửng trên không hầu đến gần mặt trời hơn mà suy tưởng,
trong khi môn đồ thì vừa chổng mông nghiên cứu thiên văn,
vừa cắm đầu cặm cụi đo đoán chiều sâu của âm cõi.
Học trò mới là Strepsiade, một phú nông đang sạt nghiệp
vì bệnh mê ngựa đua của con trai. Nhằm chạy nợ, y tìm đến
trường để học nghệ thuật uốn lưỡi sao cho thật dẻo
để có thể chiến thắng trong mọi cuộc đấu khẩu. Sau khi
chứng minh cho Strepsiade thấy rằng «Zeus không tồn tại» («Thượng
Đế chết rồi» của thời xa xưa!), Socrate bắt lão quy y 3
vị thần mới là Rỗng, Mây và Lưỡi; song trước sự dốt
nát đến tuyệt vọng của ông lão, lại đuổi y về, bảo
dẫn con là Phidippide tới học thay.
Socrate
để cho cậu con tự do nghe cuộc đấu lưỡi giữa hai loại
biểu văn Chính và Ngụy, đại biểu của hai nền giáo dục
truyền thống và tân thời. Rốt cuộc, Chính Văn cãi thua,
đầu hàng vô điều kiện. Phidippide về nhà, dùng thuật ngụy
biện quịt được nợ. Cao hứng, y ngâm cho bố nghe một bài
thơ mới của Euripide mà đề tài là chuyện loạn luân giữa
hai anh em; hoảng kinh, Strepsiade phản đối thì bị con đè xuống
đánh túi bụi. Bởi vì, nếu đúng là «Zeus không tồn tại»
như lời thầy Socrate dạy, thì hắn phải được phép làm
tất cả: Phidippide vừa đánh bố, vừa chứng minh cho cha thấy
rằng việc đánh bố là chính đáng, vừa hăm he sau đó sẽ
đánh luôn cả mẹ. Strepsiade chợt hiểu sự sai lầm của mình,
gọi gia nhân vác đuốc trở lại đốt trường.
Thật
ra, mặc dù đã phê phán Socrate nặng nề bằng một bút thuật
không mấy đẹp đẽ, Aristophane không phải là một tác giả
«phản động»; nhìn từ quan điểm hiện đại, có lẽ người
viết kịch còn «tiến bộ» hơn cả nhà hiền triết trên
khá nhiều vấn đề. Do đó, mâu thuẫn giữa hai tác giả ở
đây không phải là sự đối lập giữa một bên là tinh thần
phê phán triệt để ở triết gia (Socrate chưa hề kết án
cuộc nội chiến, khoan nói đến chế độ nô lệ!), và bên
kia là sự gắn bó với truyền thống văn hoá của thành quốc
ở nhà soạn kịch (đối với thần thánh, nhiều khi Aristophane
còn tỏ vẻ bất sùng kính một cách ồn ào hơn cả Socrate).
Sự đối lập giữa hai tác giả thực sự nằm ở chỗ khác:
nếu đối với Socrate, thành quốc là thực thể xã hội tự
nhiên ưu tiên, thì trong nhãn quan của Aristophane, thực thể
tự nhiên đích thực phải là gia đình. Và có thể nói rằng:
toàn bộ sự nghiệp viết kịch của Aristophane, cùng với những
vở lý thú nhất của Ông, chỉ là sự minh hoạ dí dỏm của
cuộc đấu tranh căng thẳng giữa tổ ấm gia đình một bên,
và «tiếng gọi của thành quốc» phiá bên kia.
Đặc
quyền và độc quyền của thành quốc là làm chiến tranh?
Aristophane đã dàn dựng lên không ít kịch bản phản chiến
lý thú. Sống sượng nhất có lẽ là vở Lý Thị Ẩu Tả
[Lysistrata, 411 trước Tây lịch]: Lý Thị là công dân Athènes,
sau 20 năm nội chiến đăng đẵng với tất cả mọi đổ vỡ
tang tóc giữa các thành quốc Hy Lạp, Lý tập hợp các nàng
chinh phụ từ mọi nơi, dùng mưu kế chiếm lĩnh thượng thành
[Acropole], nơi thờ phượng nữ thần Athena, đồng thời cũng
là nơi trữ công quỹ của thành quốc - nghĩa là huyết mạch
của cuộc chiến. Từ đấy, sau khi bắt các bà thề độc
là «sẽ không để bất cứ người đàn ông nào đến gần
trong tình trạng cương nứng», Lý gửi tối hậu thư cho các
chinh phu: hoặc chàng sớm giã từ vũ khí để mau chóng bay
về với thiếp, hoặc từ đây chàng cứ làm tình một mình
hay ân ái với các chiến hữu! Sau khi đẩy lui được cuộc
tấn công của tập đoàn bô lão - những cựu chiến binh của
tiếc nuối «Athènes thời các chiến sĩ Marathon» đã khá xa
xưa (kháng Perse, 490 trước Tây lịch) -, và đối phó thành
công với nhiều chuyện hứng tình «trâu tìm cọc», «cọc
tìm trâu» sôi nổi, Lý Thị chiến thắng: trước nạn đào
ngũ vì cuộc đình công tình ái, các phe lâm chiến phải gửi
sứ giả đến điều đình, nhờ Lý làm trung gian hoà giải
để chấm dứt cuộc nội chiến! [48]
Vở
Xứ Chim [Les Oiseaux, 414 trước Tây lịch] thanh tao hơn. Ở đây,
Lưu và Nguyễn của Hy Lạp cổ đại (Pisthétairos và Evelpidès),
vì chán ngấy cái xã hội đầy bất hoà và kiện tụng ở
Athènes, rủ nhau đi tìm một thiên thai khác. Nhờ quạ dẫn
đường, hai chàng tìm đến một nơi chỉ có toàn chim; Lưu
dụ dỗ được một chú chim đầu rìu - kiếp trước hắn
là người - giúp chàng triệu tập ngày Muôn Điểu Hội. Dùng
tài hùng biện, Lưu thuyết phục được bầy chim rằng: ngày
xửa ngày xưa - nghĩa là trước khi bị Zeus cùng đồng đảng
đảo chánh -, loài chim mới đích thực là thiên thần, là
chúa tể hạ giới; và ngày nay, chỉ cần một chút quyết
tâm, loài chim hoàn toàn có khả năng chinh phục lại ngôi vị
đã mất. Rồi Lưu đề nghị hẳn một kế hoạch hành động:
chỉ cần xây một thành quốc trên không, chen giữa thần thánh
với con người, lại được bao bọc bởi các tường thành
kiên cố; loài chim sẽ hưởng hết những hương khói cúng
tế của người đời, trong khi các thiên thần thì rơi vào
cảnh đói rét. Diệu kế được hồ hởi chấp nhận; người
với chim cộng tác xây lên một xứ gọi là Cú Cu Vân Điểu
Quốc [Néphélococcygie, hay, Coucou-Ville-les-Nuées]. Trước sự
đồn đại về những luật lệ mới do thành quốc ban hành
(ở đây, nhiều chuyện mà con người cho là ô nhục đều
trở thành đẹp đẽ), dân giang hồ tứ xứ ùn ùn kéo nhau
đến xin nhập tịch, nhưng đều bị xua đuổi. Cuối cùng,
Zeus cũng phải gửi sứ thần đến xin hàng, trả vương trượng
lại cho loài chim, và gả cho chàng Lưu một tiên nữ [49].
Lý
Thị Ẩu Tả có khi đã đi trước thời đại chăng, và chuyên
chở, từ thuở xa xưa kia, cái thông điệp hippies - Make love,
not war! - của thế kỷ 20? Thực ra, trong bối cảnh của thành
Athènes thời đó, có lẽ nó chỉ muốn khai triển một luận
điểm đã bàng bạc trong nhiều vở kịch khác của tác giả:
gia đình là nền tảng của thành quốc. Nói cách khác: gia
đình quan trọng hơn cả thành quốc; các nàng chinh phụ nổi
loạn chính vì cuộc nội chiến dai dẳng đang phá hủy dần
cái cơ sở ấy. Và gia đình hệ trọng hơn cả thần thánh:
khi cần, con người có thể dẹp quách các thần linh mà nó
đã tạo ra để tự kiềm chế được (Mây, Xứ Chim); nhưng
xã hội loài người sẽ hoàn toàn băng hoại, nếu không bảo
tồn đến cùng hai giới luật căn bản của tổ chức gia tộc
là sự cấm đoán loạn luân và sự ngăn cấm ngược đãi
cha mẹ. Strepsiade có thể tin rằng «Zeus không tồn tại»,
song lại tỉnh ngộ khi đứa con mất dậy ca ngợi sự loạn
luân và đang tay đánh đập bố mẹ. Trái với các thành quốc
cổ Hy Lạp, xứ chim từ bỏ chế độ nô lệ và không xem
đào ngũ là một trọng tội; song chàng Lưu vẫn xua đuổi
kẻ mang ý đồ giết cha để đoạt gia tài đến xin nhập
tịch, bởi vì ở đây, bộ cổ luật của loài cò còn ghi
rành rành: «khi cò cha đã nuôi dạy cò con đến lúc biết
bay, thì đến lượt cò con phải phụng dưỡng bố mẹ trong
tuổi già» [50].
Đấy
là một phần của triết lý chính trị của Aristophane, trong
nét đối lập chủ yếu với tư tưởng của Socrate. Tất nhiên,
không thể gán cho nhà hiền triết những chủ trương của
Platon, trong Nền Cộng Hoà [La République] chẳng hạn, về gia
đình. Nhưng điều chắc chắn là Socrate không hề bàn luận
về thực thể này (trong các bản đối thoại đầu tay của
Platon). Và qua một số ít sử liệu được lưu truyền, thì
sự thực là ngay cả đời sống gia đình của triết gia cũng
không lấy gì làm thoải mái. Vợ Ông, Xanthippe, là một người
đàn bà chanh chua, đanh đá vào bậc nhất thiên hạ, và không
đóng một vai trò nào trong cuộc đời của Ông cả - trừ
phi, vì muốn tránh mặt bà mà triết gia suốt ngày lông bông
ngoài đường!
Có
lần, trong một bữa tiệc, Socrate tuyên bố: «Đàn bà không
thua kém chi đàn ông cả, trừ ở sự thông minh và thể lực»
(ôi bình đẳng!), rồi khuyên bảo: «Bạn nào đã lập gia
đình, hãy dạy vợ những gì mình muốn cho vợ biết». Một
đệ tử là Antisthène hỏi: «Nếu nghĩ như thế thật, tại
sao Socrate lại không dạy bảo mà phải chịu đựng Xanthippe,
người đàn bà không ai còn có thể khó chịu hơn trong cả
quá khứ, hiện tại, cho đến mai sau?». Socrate trả lời: «Tôi
muốn học nghệ thuật sống trong xã hội với đủ mọi hạng
người» ... «Lấy Xanthippe, nếu chịu đựng nổi, chắc chắn
tôi có thể chấp nhận bất cứ tánh nết nào khác» [51].
Và mỗi khi trong nhà có chuyện lục đục, triết gia hoặc
chịu trận, hoặc khuyên con là Lamproclès cắn răng chịu đựng
bằng một biểu văn về chữ hiếu kiểu Hy Lạp [52] mà, nếu
lọt vào tai của Khổng Tử tiên sinh (551 - 479 trước Tây lịch),
có lẽ cụ Khổng chỉ còn có nước nhảy nhổm than trời:
«Hoạ thay, hoạ thay! Kẻ tiểu nhân ờ tận bên rợ Hy xa xôi
mà nói năng nghe cũng lễ nghĩa được như rứa, thì bậc chính
nhân quân tử của Trung Nguyên này còn biết đi du thuyết nơi
nao?».
9-
ĐỨC PHẬT, KHỔNG TỬ, GIA ĐÌNH, NỮ GIỚI
Thật
ra, dù ở Hy Lạp, Trung Quốc hay Ấn Độ, gia đình đều là
nền tảng của tổ chức xã hội. Và điểm khác nhau giữa
Khổng Tử với Socrate chẳng hạn, không phải là người bàn
nhiều, kẻ nói ít về thực thể này. Nếu Socrate của Platon
là triết gia của câu hỏi «cái này là cái gì?» và của
những khái niệm trừu tượng, thì Socrate của Xenophon là một
người hiền trong xã hội, với không ít những lời khuyên
cụ thể cho mọi người, về tình nghĩa mẹ con, anh em, bạn
bè, v. v... (toàn bộ chương hai trên 4 chương trong Kỷ Niệm
Đáng Nhớ). Nét tương phản chủ yếu giữa hai nhà tư tưởng
chính trị này, trên thực tế, biểu hiện ở chỗ: ở Khổng
Tử, gia đình chính là một khâu trung gian bắt buộc trên cái
tiến trình «tu thân, tề gia, trị quốc» của nghệ thuật
xây dựng xã tắc, trong khi ở Socrate, nó lại hoàn toàn nằm
ngoài trình tự tổ chức thành quốc!
Nhưng
đấy có khi chỉ là một khác biệt cá nhân. Tiền kiếp của
«chính trị» trong không gian tư tưởng của Trung Quốc xa xưa
mang tên là «kinh luân». Và hệ qui chiếu của «kinh luân»
là nghệ thuật dệt sợi, với những động tác có tính chất
rất gia đình, nếu không muốn nói là đàn bà: «chia ra từng
mối tơ gọi là kinh, so những mối tơ cho bằng để gộp lại
với nhau gọi là luân» [53]. Điều lý thú là người ta có
thể tìm thấy ở Aristophane một hình ảnh tương tự khi nói
về politeia.
- Chẳng
lẽ các bà lại muốn giải quyết những vấn đề hệ trọng
(của thành quốc) giống như đan len, xe sợi, đưa thoi hay sao,
hỡi các mụ điên?.
Anh
cán bộ trong kịch Lý Thị Ẩu Tả xấc xược hỏi. Lý Thị
hiên ngang trả lời:
- Đúng
thế, và nếu thông minh hơn một chút, các ngài sẽ quản lý
mọi chuyện như chúng tôi đan len» ... «Trước hết, hãy giặt
cho thật sạch chất nhờn (trục xuất tất cả những phần
tử bất hảo), rồi bỏ hết vào giỏ mà đan lẫn tất cả
vào với nhau - kiều dân, khách viếng, bạn bè, công dân -
thành một mối tương thân. Với các thành thị cũng phải
làm như thế, đừng quên rằng mỗi thị xã do cư dân lập
nên là một cuộn len biệt lập, hãy tập hợp tất cả lại
thành một cuộn lớn, rồi từ đó mà đan thành áo rét cho
nhân dân khoác [54].
Tựu
trung, nếu đằng sau sự so sánh này là tư tưởng: việc «tề
gia» có thể làm mô hình cho thuật «trị quốc», thì Đông
Tây đã gặp nhau trên một vấn đề khá quan trọng. Riêng
trong trường hợp Ấn Độ, người ta có thể nhận định
rằng mô hình của chế độ quân chủ thời Đức Phật chính
là sự tổng hợp của hai yếu tố: một thành tố thuần Ấn
Độ là «nguyên tắc gia đình», và một thành tố ngoại lai
xuất phát từ đế quốc Perse là nguyên tắc «vạn quốc quân
vương» («monarque universel»). Nói một cách cụ thể, vương
quốc chỉ là một thứ gia đình được mở rộng đến một
biên cương nào đó, và vị «vua của tất cả các vua» phải
là mẫu mực của đạo làm người, nghĩa là: vừa là kẻ
đã dẹp bỏ mọi hỗn loạn và bất công trong xã hội để
tạo lập nên một trật tự mới, đồng thời cũng là người
làm điểm tựa cho tất cả những ai yếu đuối, thấp kém,
nghèo hèn sống dưới sự bao bọc của mình. Vương quốc Magadha,
rồi đế quốc Ấn Độ của Asoka đã được quan niệm theo
mô hình đó [55].
Thái
tử Siddhârtha là người đã rời bỏ tổ ấm với vợ con
để đi tìm chân lý. Nhưng từ khi thành đạt, Đức Phật
không hề xem gia đình như một trở ngại cho sự giác ngộ,
trái với nỗi lo lắng của nhiều người mà điển hình là
chàng du sinh Vacchagotta. Socrate - tất nhiên là Socrate của Xenophon
- chắc chắn sẽ đọc không ít những bài giảng của Đức
Phật về vai trò của gia đình với nhiều hứng thú. Và rất
có thể là triết gia sẽ đặc biệt chú trọng đến một
bài kinh về nghệ thuật làm vợ mà đối tượng khuyên bảo
là Sujâtâ, cô con dâu kênh kiệu trong gia đình ngoan đạo Anâthapindika,
đồng thời cũng là một thứ Xanthippe của Ấn Độ. Trái
với Socrate, dù không màng đến hay đã đầu hàng trước một
người vợ quá quắt, hoặc tin rằng đàn bà không đủ thông
minh để giác ngộ, Đức Phật phác hoạ cho Sujâtâ thấy chân
dung của 7 loại người vợ, và bảo cô hãy tự định vị
trí cho mình.
«Một
người vợ ác độc, có tư tưởng đồi bại, không yêu thương
chồng, động tình trước những người đàn ông khác, muốn
chồng chết đi cho rảnh nợ, có thể gọi đó là loại vợ
sát nhân. Một người vợ ăn cắp, dù ít thôi, những của
cải do chồng kiếm ra bằng công việc tiểu công, mua bán,
hay đồng áng, có thể gọi đó là loại vợ kẻ cắp. Một
người vợ lười biếng, không làm việc nhà, ngồi lê đôi
mách, ưa gây gổ, xem thường sự làm ăn cần mẫn của chồng,
có thể gọi đó là loại vợ bà chủ. Một người vợ biết
âu yếm với chồng, che chở chồng, gìn giữ của cải cho
chồng, có thể gọi đó là loại vợ mẹ hiền. Một người
vợ xem chồng như anh em, bình đẳng mà dịu dàng, mong điều
an lạc cho chồng, có thể gọi đó là loại vợ em thảo. Một
người vợ mừng rỡ khi chồng đi làm về như gặp lại người
yêu lâu năm xa cách, biết khuyến khích, khuyên nhủ, và làm
cho chồng thấy cần và thích gần gũi, có thể gọi đó là
loại vợ bạn nghĩa. Một người vợ chịu đựng bực mình
do chồng gây ra, trầm tĩnh mà không bận tâm, vâng lời mà
không oán giận, có thể gọi đó là loại vợ nàng hầu»
... «Đấy là 7 loại vợ mà một người đàn ông có thể
gặp, cô thuộc vào loại nào, hỡi Sujâtâ?» [56]. Xấu hổ
và ân hận, Sujâtâ nguyện từ nay sẽ làm vợ như người
hầu, không biết rằng quan hệ vợ chồng như bằng hữu mới
thực là khuôn mẫu cho sự giác ngộ đối với Đức Phật
[57].
Đạo
của người sống trong xã hội, giáo lý của Đức Phật không
bỏ quên kích thước tập thể của con người. Nó nhận diện
nhiều loại quan hệ hỗ tương, được bố trí tượng trưng
theo 6 phương hướng chính: Đông (cha mẹ, con cái), Tây (vợ,
chồng), Nam (thầy, trò), Bắc (bạn bè, bà con, đối tác),
và Trên (tu sĩ), Dưới (người hầu). Giới hạn vào phương
Đông, đạo Phật phân tích quan hệ bố mẹ - con cái trong
cuộc sống một cách khá cặn kẽ. Kẻ làm con có 5 cách trả
nghĩa cho cha mẹ: «chăm nuôi lại bố mẹ, làm tất cả mọi
bổn phận đối với cha mẹ, gìn giữ truyền thống gia đình,
bảo toàn gia sản, thờ cúng bố mẹ sau khi các người mất».
Bậc cha mẹ có 5 cách thương yêu con: «dạy con làm thiện
tránh ác, dạy cho con một nghề, chọn vợ gả chồng cho con,
để của thừa tự cho con lúc lâm chung»... «Nếu làm đày
đủ bổn phận theo cả hai chiều như thế, phương Đông sẽ
được che chở, và an toàn» [58]. Ở một bài kinh khác: «Kẻ
nào có đủ phương tiện mà không chịu phụng dưỡng cha mẹ
khi về già, kẻ đó phải bị xem là cùng đinh; kẻ nào đánh
đập hay xúc phạm bằng lời nói đến bố mẹ, bố mẹ chồng
hay vợ, anh hay chị mình, kẻ ấy phải bị xem là cùng đinh»
[59].
Nói
chung, quan niệm về gia đình với liên hệ cha mẹ, con cái,
vợ chồng, anh em không có gì khác nhau giữa Hy Lạp với Ấn
Độ và Trung Hoa cổ đại, giữa Đức Phật và Khổng Tử
với Socrate và Aristophane. Sự đánh đập và ngược đãi bố
mẹ, cũng như chuyện loạn luân đều bị kết án ở mọi
nơi, vào mọi thời, dù có nói hoặc viết ra hay không. Nhưng
vấn đề chính ở đây là: như một thực thể tự nhiên,
gia đình có liên hệ gì chăng đến việc quan niệm và tổ
chức một thực thể không kém tự nhiên khác là xã hội,
ở Socrate cũng như ở Đức Phật?
Tương
tự như đối với các câu hỏi khác về thần thánh hay nữ
giới, giải đáp cho trường hợp trên chỉ có thể được
tìm thấy tại hai nơi. Một, trong các định chế xã hội trung
gian nếu có - song điều này đặt ra vấn đề thiết chế,
có lẽ gần gũi với triết lý chính trị của Platon hơn là
của Socrate. Hai, trong sự đối chiếu hai chữ chính thách đố:
một mặt, chữ chính của bát chính đạo trong đạo đế của
Phật, và mặt khác, chữ chính trong câu hỏi nền móng của
triết lý chính trị ở Socrate - công chính là gì?. Và điều
này đòi hỏi chúng ta phải rời bỏ vùng cửa ô ít nhiều
có tính chất ngoại vi vừa thăm viếng để phiêu lưu vào
tận trung tâm thành quốc.
Nguyên
Đạt - Phạm Trọng Luật
[01]André
Migot. Le Bouddha. Paris: Le Club francais du Livre, 1957. Tr. 88
[02]Walpola
Rahula. L’Enseignement du Bouddha. Paris:Seuil, 1961. Tr. 108-124 &
Cũng xin trân trọng giới thiệu bản dịch Việt ngữ của
Thích Nữ Trí Hải, mặc dù chúng tôi không sử dụng ở đây:
Tư Tưởng Phật Học [What the Buddha Taught].Saigon: Tu Thư Đại
Học Vạn Hạnh, 1974.
[03]Culamalunkya-Sutta.
Trong: Môhan Wijayaratna. Sermons du Bouddha. Paris: Les Ed. du Cerf,
1988. Tr. 113-117 & Walpola Rahula, sđd, tr. 33-36.
[04]François
Chenet. La Philosophie Indienne. Paris: A. Colin, 1998. Tr. 24, 66.
[05]
Socrate. Trong: Karl Jaspers.Les Grands Philosophes 1: Socrate – Bouddha
– Confucius – Jésus.Paris: Presses Pocket, 1990. Tr. 137.
[06]Apologie
de Socrate.Trong:Platon. Apologie de Socrate - Criton - Phedon. Paris:
Garnier-Flammarion, 1965. Tr. 32.
[07]Socrate.
Karl Jaspers, sđd, tr. 137-138.
[08]Socrate.Karl
Jaspers, sđd, tr. 135.
[09]Leo
Strauss, Joseph Cropsey. Histoire de la Philosophie Politique. Paris: PUF,
1994. Tr. 2-3.
[10]
Xem: Thomas L. Pangle, Xb. The Roots of Political Philosophy. Ithaca (N.Y):
Cornell University Press, 1987.
[11]Dhamma-Cakkappavattana-Sutta.Môhan
Wijayaratna, sđd, tr. 105-106 & Some sayings of the Buddha according
to Pali Canon. Transl. by F. L. Woodward. London: Oxford University Press,
1973. Tr. 7-8.
[12]
Theo François Chenet, quan hệ nhân quả đã động não các nhà
tư tưởng Ấn Độ còn mãnh liệt hơn cả ở Hy Lạp, và là
một nguyên tắc để phân loại các triết thuyết. Nói chung,
tất cả vấn hệ này xoay chung quanh 3 câu hỏi: a) quả đã
có trước trong nhân vật chất hay không? ; b) quả là sự chuyển
hoá thật sự hay chỉ là ảo tưởng chuyển hoá của nhân?;
c) có nhiều thứ nhân hay chỉ có một nhân vật chất duy nhất?
(Xem François Chenet, sđd, tr. 91)
[13]
Athènes thời ấy gồm có khoảng 40000 công dân (điều kiện:
bố mẹ phải là người Athènes và đã đi quân dịch, nghĩa
là trên 20 tuổi) với 260000 người không có quyền công dân
(110000 phụ nữ và trẻ em tự do + 40000 kiều dân tự do + 110000
nô lệ). Trên cơ sở đó, thành quốc có thể tự trị dưới
hình thức dân chủ trực tiếp, theo một mô hình được cải
cách từ thời Clisthène (thế kỷ thứ V trước Tây lịch).
Định chế nền móng là Đại Hội Công Dân [Ecclesia = Ekklêsia],
được triệu tập khoảng 40 lần 1 năm trên đồi Pnyx, với
tất cả quyền hành (quyết định chiến tranh hay hoà bình,
biểu quyết luật lệ, chỉ định người vào các chức năng
khác, ban hay tước quyền công dân); sự kiện các quyết định
quan trọng phải được sự biểu quyết của ít nhất 6000
công dân xác nhận rằng Ekklêsia ít khi đạt đến con số
này, và bình thường công việc của thành quốc chỉ dựa
trên vài ngàn người tích cực nhất (chừng 1/8 tổng số công
dân). Tầng trên là Hội Đồng Bộ Tộc [Boulè]:cả thành quốc
được phân làm 10 bộ tộc (thật ra, từ này không còn chính
xác: từ thời Clisthène, để giảm thiểu ảnh hưởng của
các đại tộc, sự chia đơn vị thành quốc đã dựa trên
tiêu chuẩn địa lý nhiều hơn là huyết thống); mỗi bộ
tộc cử 50 đại diện vào Hội Đồng (trên cơ sở bắt thăm
hàng năm giữa những người tự nguyện), và luân phiên hành
sử quyền Hội Đồng [prytanie = prutaneia] khoảng 36 ngày 1 năm.
Trong suốt thời gian này, túc trực ngày đêm tại một công
thự dành riêng cho họ là phủ Tholos, 50 prutanis của bộ tộc
đương nhiệm nắm quyền cai quản thành quốc trên thực tế,
không chỉ chủ yếu là lập pháp (soạn thảo luật lệ, triệu
tập và điều khiển các buổi Đại Hội Công Dân), mà còn
là hành pháp (trông nom chính sách đối ngoại, tổ chức quân
đội và tài chính). Phần quyền sau còn được tăng cường
bởi 700 viên chức [magistrats] được bổ nhiệm do bắt thăm
hoặc bầu cử (nếu là các chức vụ quan trọng về tài chánh
hay quân sự), trong đó có 10 tổng đốc [archontes] và 10 tư
lệnh [stratèges], với nhiệm vụ áp dụng luật pháp, tổ chức
hành chính, hoặc chỉ huy quân đội. Quyền tư pháp dựa trên
6000 viên tòa thuộc Toà Án Héliée (mỗi bộ tộc cung cấp
600 người, bắt thăm hàng năm từ những công dân tự nguyện
trên 30 tuổi), và mỗi phiên toà xử việc công dựa trên một
hội thẩm đoàn chừng 500 người (cũng do bắt thăm). Nhằm
khuyến khích sự tham gia của công dân vào việc chung, mọi
chức vụ đều được trả lương. Một thời thường được
ca ngợi trong sách giáo khoa,ngày nay nền dân chủ của Athènes
là đối tượng của rất nhiều công trình nghiên cứu phê
phán các mặt hạn chế.
[14]
Năm 406 trước Tây lịch, mặc dù thắng trận thủy chiến
ở vùng đảo Arginuses, khi trở về Athènes, các tư lệnh quân
đội bị kết án đã không vớt những chiến hữu còn sống
hoặc đã chết rơi xuống biển. Do bộ tộc của Socrate lúc
ấy đương hành sử quyền prutaneia, triết gia giữ chức Chủ
Tịch Hội Đồng, và Ông đã từ chối kết án tập thể các
tư lệnh này vì tính bất hợp pháp của thủ tục (luật lệ
thành quốc chỉ cho phép xử từng cá nhân), bất chấp mọi
áp lực và đe dọa của quần chúng hay đảng phái. Một thí
dụ khác xảy ra 3 năm sau, dưới chế độ chuyên chính của
30 bạo chúa: được lệnh đi Salamine cùng với 4 prutanis khác
nhằm bắt giết một nhân vật đối lập tên là Léon, Socrate
bất tuân lệnh và bỏ về nhà; nếu chế độ chuyên chính
bù nhìn không bị lật đổ ngay, có thể triết gia đã lãnh
án tử từ thời đó.
[15]
Walpola Rahula, sđd, tr. 120.
[16]Gorgias.Trong:Platon.
Gorgias - Ménon. Paris: Les Belles Lettres, 1984. Tr. 147, 216.
[17]Les
Mémorables.Trong: Xenophon. Oeuvres complètes 3: Les Helléniques - L’Apologie
de Socrate - Les Mémorables. Paris: Garnier-Flammarion, 1967. Tr. 311-312.
[18]
Walpola Rahula, sđd, tr.154.
[19]
Bouddha. Karl Jaspers, sđd, tr. 171.
[20]Asoka
(274 ? - 232 ? trước Tây lịch) trị vì trên vương quốc Maghada
(nay thuộc bang Bihar). Mở mang bờ cõi về phía Tây và Nam bằng
chiến tranh chinh phục, Ông là người đầu tiên đã thống
nhất Ấn Độ, lập nên một đế quốc bao gồm một phần
của xứ Afghanistan và phần lớn Ấn Độ ngày nay. Quy y theo
đạo Phật, Ông thay đổi hẳn tâm tính từ đấy, chủ trương
bất bạo động và áp dụng giới luật của đạo Phật vào
chính trị. Chính sách của Ông được biết đến nhờ những
chỉ dụ mà Ông đã cho khắc trên đá và các cột trụ trên
khắp lãnh thổ. Ông cũng đóng một vai trò quyết định trong
sự phát triển của Đạo Phật về vùng Đông Nam Á Châu.
[21]Nhà
chính trị, nhà văn, và nhà thơ của Athènes. Critias (? - 403
trước Tây lịch) còn là cậu của Platon và là học trò của
Socrate. Y xuất hiện trong nhiều bản đối thoại của Platon,
một bản mang tên là Critias. Thuộc đảng đại tộc, Critias
bị đày khỏi Athènes trong cuộc chiến tranh bá quyền. Y trở
lại đây khi Athènes thất thủ và, với hậu thuẫn của Sparte,
trở thành một trong 30 bạo chúa. Trong thời kỳ chuyên chính
này, Critias đã tỏ ra vô cùng độc ác và kẻ cướp. Chính
y đã làm ra đạo luật cấm Socrate phát biểu ở nơi công
cộng. Critias chết trong trận nội chiến lật đổ chế độ
chuyên chính bù nhìn, khi muốn đánh chiếm lại cảng Pirée
vừa được Thrasybule giải phóng.
[22]Nhà
chính trị và tư lệnh của Athènes. Mồ côi bố, Alcibiade (450
- 404 trước Tây lịch) được anh họ là Périclès nuôi dạy.
Quyến rũ, giàu có, hùng biện, thông minh, y ôm ấp nhiều tham
vọng chính trị. Alcibiade xuất hiện trong nhiều tác phẩm
của Platon; tên y là tựa của hai bản đối thoại. Học trò
của Socrate, Alcibiade là người ca ngợi triết gia hơn ai hết;
mặt khác, y với Socrate đã từng cứu sống lẫn nhau trên
trận địa. Tham chính dưới nhãn hiệu dân chủ, Alcibiade lôi
Athènes vào cuộc phiêu lưu quân sự ở Sicile (415 trước Tây
lịch). Lãnh án tử hình vì tội đập phá các tượng thần
Hermès, y đào ngũ, trước ra hàng Sparte rồi sau theo Perse. Tại
đây, một mặt, Alcibiade xúi giục vua Perse làm suy yếu Hy Lạp
bằng chiến lược hao mòn (lúc giúp Athènes, lúc hỗ trợ Sparte),
mặt khác, dựa vào đảng đại tộc để gây rối loạn tại
Samos. Khi tình hình thuận lợi, y lại dựa thế đảng dân
chủ và được quân đoàn ở Samos chọn làm tướng lãnh. Nhờ
thắng Sparte nhiều trận, Alcibiade trở lại Athènes như tư
lệnh quân đội (407 trước Tây lịch), nhưng chỉ sau một
chiến bại, lại bị lật đổ (406 trước Tây lịch) và phải
trốn sang Perse. Nhưng lần này, y bị cả Sparte lẫn Perse âm
mưu sát hại. Cùng với Hélène thành Troie, Alcibiade là nhân
vật cổ sử được bàn tán nhiều nhất.
[23]Léo
Strauss. La Renaissance du Rationalisme Politique Classique. Paris: Gallimard,
1993. Tr. 209.
[24]
Ba nguời buộc tội Socrate là Anytos, Mélètos và Lycon. Nhà thơ
Mélètos là kẻ đã thảo và nộp đơn kiện, 2 người kia chỉ
ký tên xác nhận. Nhưng Anytos, thợ thuộc da, biện sĩ, đồng
thời là một thủ lãnh của đảng dân chủ đã từng làm
đến chức tư lệnh, mới thực là kẻ chủ mưu. Lycon cũng
thuộc về giới biện sĩ, nhưng ít được biết đến. Nói
chung, cả 3 đã bắt tay nhau để hãm hại Socrate, một mặt,
vì hận thù tập đoàn (những kẻ sống bằng miệng lưỡi),
mặt khác, vì quyền lợi đảng phái (đảng dân chủ): kiến
thức của giới biện sĩ cũng như của giới lãnh đạo chính
trị luôn luôn là đối tượng nghi ngờ, phê phán, thử thách,
đôi khi giễu cợt của triết gia.
[25]Jean-Pierre
Vernant. Les Origines de la Pensée Grecque. Paris: PUF, 1975. Tr. 6-8
& 133.
[26]
Chỉ các triết gia hay nhà lập pháp đã để lại những phương
châm nổi tiếng vào thế kỷ thứ 6 trước Tây lịch. Danh
sách «Thất Hiền» thay đổi tùy theo sử gia, nhưng thường
gồm có: Thalès (Milet), Pittacos (Mytilène), Bias (Priène), Cléobule
(Lindos), Périandre (Corinthe), Chilon (Lacédémone), và Solon (Athènes).
[27]Jean-Pierre
Vernant, sđd, tr. 53-54.
[28]Anne
Baudart. Socrate et le Socratisme. Paris: A. Colin, 1999. Tr. 20.
[29]François
Chenet, sđd, tr. 8-18.
[30]
François Chenet, sđd, tr. 195.
[31]
Apologie de Socrate. Platon, sđd, tr. 38.
[32]Euthyphron
làm nghề bói toán, đầu óc thiển cận nhưng lại rất tự
cao tự đại. Y không có uy tín gì với người dân thành quốc,
và thường bị họ đem ra chế giễu vì thói gàn dở, ngông
cuồng như trong câu chuyện đi tố cáo bố đẻ trên đây.
[33]Euthyphron.
Trong: Platon. Premiers Dialogues: Second Alcibiade – Hippias Mineur
– Premier Alcibiade – Euthyphron – Lachès – Charmide – Lysis
– Hippias Majeur – Ion.Paris: Garnier-Flammarion, 1967. Tr. 177-211.
[34]
Second Alcibiade. Platon, sđd, tr. 29-56.
[35]
Les Mémorables. Xenophon, sđd, tr. 289.
[36]
Trích dẫn bởi Anne Baudart, sđd, tr. 33.
[37]
Walpola Rahula, sđd, tr.
[38]Ludwig
Wittgenstein. Tractatus Logico-philosophicus. Paris: Gallimard, 1972. Tr.
177.
[39]Culamâlunkya-sutta.
Môhan Wijayaratna, sđd, tr. 113-114 & Walpola Rahula, sđd, tr. 33-36.
[40]Culamâlunkya-sutta.
Môhan Wijayaratna, sđd, tr. 116-117 & Walpola Rahula, sđd, tr.
[41]
Walpola Rahula, sđd, tr. 90-92.
[42]
André Migot, sđd, tr. 42.
[43]Tevijja-sutta.
Môhan Wijayaratna, sđd, tr. 149-170.
[44]
Walpola Rahula, sđd, tr. 154-157.
[45]Veranjaka-sutta.Môhan
Wijayaratna,
sđd, tr. 67-69.
[46]
Về sự đối lập giữa Aristophane và Socrate, xem: Léo Strauss.
Socrate et Aristophane. Paris : L’Eclat, 1993.
[47]Les
Nuées. Trong: Aristophane. Théâtre Complet 1: Les Acharniens – Les
Cavaliers – Les Nuées – Les Guêpes – La Paix. Paris: Garnier-Flammarion,
1966. Tr. 143-215
[48]
Lysistrata. Trong: Aristophane. Théâtre complet 2: Les Oiseaux – Lysistrata
– Les Thesmophories – Les Grenouilles – L’Assemblée des Femmes
- Ploutos. Paris: Garnier-Flammarion, 1966. Tr. 99-162
[49]
Les Oiseaux. Aristophane, sđd, tr. 15-98.
[50]
Les Oiseaux.Aristophane, sđd, tr. 81-82.
[51]Le
Banquet Xenophon. L’Anabase - Le Banquet. Paris: Garnier-Flammarion,
1996. Tr. 263.
[52]
Les Mémorables.Xenophon, sđd, tr. 323-326.
[53]Bửu
Kế. Tầm Nguyên Tự Điển. Tp Hồ Chí Minh: Nxb Tp Hồ Chí Minh,
1993.
[54]
Lysistrata.Aristophane, sđd, tr.135.
[55]
André Migot, sđd, tr. 28.
[56]Bhariyâ-sutta.Môhan
Wijayaratna, sđd, tr. 75-77.
[57]Nandasena
Ratnapala. Buddhist Sociology. Dehli: Sri Satguru, 1993. Tr. 26