Những
tiến triển mới đây trong việc hiểu biết và hợp tác giữa
những tông phái Phật giáo
Đối
thoại giữa những truyền thống tôn giáo khác nhau là một
hiện tượng rất phổ biến trong những giai đoạn gần đây.
Có rất nhiều tác phẩm viết về đề tài này, cả về phương
diện lý thuyết lẫn phương diện thực hành. Điều ít xảy
ra hơn lại là những đối thoại với nhau trong cùng một truyền
thống tôn giáo. Lý do có thể là có nguồn gốc lịch sử,
xem những dị kiến trong nội bộ là sai quấy và tội lỗi
hơn là những truyền thống tôn giáo hoàn toàn khác, nghĩ như
vậy rõ ràng là sai lầm. Những việc không đồng tình với
nhau trong nội bộ được xem là kẻ thù bên trong nên ngay cả
việc chia sẻ thương thảo với nhau cũng đã chẳng có ai nghĩ
tới. Lịch sử Phật giáo đã có hơn một trường hợp những
sơn môn tông phái không chịu bao dung cho nhau và có những khi
xung đột với nhau.
Mặc
dầu chuyện đó trước kia đã từng xảy ra trong Phật giáo
nhưng những diễn tiến gần đây cho thấy rằng đối thoại
trong nội bộ càng lúc càng gia tăng giữa ba tông phái chính.
Lịch sử hiện đại, nhất là đầu thế kỷ 20, được định
tính với những nổ lực hợp tác giữa những tông phái khác
nhau. Ngày nay, sự hợp tác và hiểu biết lẫn nhau như vậy
trở thành một màu sắc tỏa sáng mang bản chất liên kết
nội bộ giữa những người Phật tử với nhau.
Mục
đích của bài viết là xem xét những tiến triển như vậy
phát sinh như thế nào và gợi lên những ý nghĩa gì trong lý
thuyết và thực hành.
Đối
thoại nội bộ: Những thôi thúc tương tác giữa những tông
phái Phật giáo
Giới
thiệu
Những
cuộc gặp gở giửa những truyền thống tôn giáo khác nhau
và giửa những bộ phái trong cùng một tôn giáo rõ ràng có
hai hình thức. Thực tế cho chúng ta thấy rằng đối thoại
với những nhóm đối nghịch trong cùng một tôn giáo khó khăn
hơn là đối thoại với những đối tượng thuần túy là
người khác tôn giáo. Những nhóm đối nghịch trong cùng một
tôn giáo thì được xem là phản đồ trong khi người khác
tôn giáo thì rõ ràng chỉ là người ngoài và vì vậy mà không
cảm thấy bị e sợ. Phật giáo trong dòng lịch sử lâu dài
của mình đã đối mặt với cả những người bên trong lẫn
những người bên ngoài và những diễn biến lịch sử đó
cần phải được vận dụng để nêu lên được phương hướng
về mặt lý thuyết. Sau đây, trước hết tôi sẽ bàn ngắn
gọn về vấn đề Phật giáo trong bối cảnh văn hóa Ấn Độ
đã đối mặt với những tôn giáo khác và với những chi
phái trong nội bộ như thế nào. Sau đó tôi sẽ tập trung
bàn chi tiết hơn về bản chất và ý nghĩa của những diễn
biến gần đây, một hiện tượng mà tôi gọi là ‘đối
thoại nội bộ’ giữa những người thuộc những hệ phái
khác nhau trong Phật giáo.
Những
cuộc đối thoại giữa các tôn giáo thời xưa
Trong
giai đoạn phôi thai, thời mà Đức Phật còn tại thế, Đức
Phật thường xuyên đối thoại với những truyền thống tôn
giáo thời ấy. Thư tịch cổ cho chúng ta thấy rằng trong những
cuộc đối thoại này Đức Phật thường gặp mặt những
tín đồ của những tôn giáo khác, cụ thể là Bà-la-môn giáo,
một truyền thống đã sâu rễ bền gốc và có thế lực trong
xã hội. Đức Phật chỉ trích nhiều điểm của Bà-la-môn
giáo, cụ thể là hệ thống giai cấp, một hệ thống được
biện minh bằng giáo điều tôn giáo mà Phật cũng đã chỉ
trích một số tế lễ và những nghi thức trong đó. Theo kinh
Sa-môn quả thuộc Trường Bộ kinh thì có 6 vị đạo sư nổi
tiếng đương thời và có vị trí vững vàng với đồ chúng
đông đảo. Những vị đạo sư này đại diện cho truyền
thống sa-môn, một truyền thống khác với truyền thống Bà-la-môn.
Không có tư liệu nào ghi nhận rằng Đức Phật đã trực
tiếp gặp mặt bất cứ vị đạo sư nào, nhưng kinh điển
Phật giáo ghi lại nhiều trường hợp Đức Phật gặp những
đệ tử của Nigantha Nataputta, lãnh đạo đạo Jain, Makkhali
Gosala và Sanjaya Belatthiputta; những chúng đệ tử của ba vị
được người ta gọi là lần lượt là Niganthas, ajivikas và
paribbajakas. Có cả hai trường hợp Đức Phật đến thăm những
vị này những những vị này đến yết kiến đức Phật để
thảo luận với nhau. Mặc dầu kinh điển cổ xưa ghi lại
rằng thời đó có nhiều cuộc tranh luận diễn ra kịch liệt
giữa những tôn giáo khác nhau nhưng những cuộc thảo luận
giữa Đức Phật và những người thuộc tôn giáo khác lại
rõ ràng có tính cởi mở và tương kính.
Những
cuộc đối mặt trong nội bộ: Chia rẽ và đối đầu
Những
tranh biện trong nội bộ Phật giáo chỉ xảy ra sau khi Đức
Phật niết bàn. Theo những diễn tiến lịch sử do Thượng
tọa bộ ghi lại thì nội bộ giáo hội Phật giáo bắt đầu
mất hòa hợp sau cuộc kiết tập lần thứ hai xảy ra khoảng
100 năm sau khi Đức Phật niết bàn. Thư tịch cổ ghi lại
rằng 10 điều trong sinh hoạt thường nhật của tăng sĩ được
xem là nguyên nhân của sự mất hòa hợp đầu tiên. Khi quyết
định cho rằng 10 điều này là vi phạm giới luật được
ban hành thì một số lớn tăng chúng đã không muốn tuân hành
quyết định đó nên li khai khỏi giáo hội. Nhóm li khai có
tên gọi là Maha-sanghika gợi cho chúng ta thấy rằng đây là
nhóm đông người. Không giống như những bất đồng về giáo
pháp, những bất đồng về giáo luật khiến cho việc ở chung
với nhau trong cùng một tu viện trở nên khó khăn. Sự li khai
về chổ ở như vậy đã tạo môi trường cho sự bất đồng
về giáo pháp.
Trong
thời kỳ sơ khai này những phản đối trong nội bộ có mục
đích căn bản là xây dựng nên cái nhìn đúng hay xác định
đúng những gì là giáo pháp hay những lời mà Đức Phật
đã dạy. Trường hợp điển hình là sự kiện đại trưởng
lão Moggaliputta-Tissa biên soạn ra tác phẩm Kathavatthu-pakarana
để làm sáng tỏ quan điểm của Thượng tọa bộ đối với
những cách lý giải giáo pháp khác nhau đang dần dần phát
triển trong nội bộ tăng chúng. Ngay trước thời gian này giáo
hội gốc đã phân chia thành 18 bộ phái với 18 cách lý giải
giáo pháp khác nhau. Trong thời kỳ đầu có một điển hình
khác của việc phản đối trong nội bộ Phật giáo là sự
kiện tổ Long Thọ biên soạn tác phẩm Mulamadhyamaka-karika,
một nổ lực nhằm điều chỉnh những quan điểm sai lầm
của một số người tin Phật. Mục đích của tổ Long Thọ
trong Mulamadhyamaka-karika là bác bỏ quan niệm có một ‘sva-bhava’
(bản thể của con người), một đặc tính của các pháp như
một số người thừa nhận.
Sau
đó phát triển ra ba dòng truyền thừa chính: Tiểu thừa, Đại
thừa và Kim cang thừa, rồi dần dần lập cước ở những
khu vực địa lý khác nhau. Ba dòng truyền thừa này hoằng
hóa trong những khu vực cố hữu của mình suốt một thiên
niên kỷ vừa qua. Về phương diện lịch sử, Tiểu thừa
tức là Vaibhasika và Sautrantika đã không còn hiện hữu khi
Phật giáo dần dần biến mất ở đất nước Ấn Độ. Dòng
truyền thừa Thượng tọa bộ đã phát triển thành một tông
phái độc lập tồn tại ở Tích Lan và từ đó được truyền
sang những quốc gia ở Đông Nam Á.
Những
phản đối về mặt giáo pháp là đặc điểm của thời kỳ
đầu nhưng khi mỗi dòng truyền thừa định cư ở một vùng
hay một khu vực địa lý riêng biệt thì những phản đối
trong nội bộ Phật giáo chuyển sang một bước ngoặc. Thay
vì là những tranh luận giữa những dòng truyền thừa với
nhau thì dường như lại phát triển dạng phản đối trong
nội bộ của một dòng truyền thừa, cụ thể là trường
hợp của Mahavihara và Abhayagiriya ở Anuradhapura, Tích Lan. Những
bất hòa chủ yếu là về mặt giáo pháp mặc dầu những bất
đồng về mặt hành trì giới luật không thể hoàn toàn tránh
khỏi. Trong Phật giáo ở Đông Á một điểm tranh luận dữ
dội về giáo lý diễn ra ngay trong thời kỳ đầu về bản
chất của chứng ngộ, nghĩa là: chứng ngộ mang tính chất
bất chợt hay là từng bước. Sau rất nhiều diễn giảng,
nhiều biện luận và phản biện, kết quả của cuộc tranh
luận vẫn còn xa xôi mờ mịt.
Tranh
luận nội bộ: Cộng tồn và phản đối
Ngành
tôn giáo học so sánh với mục đích tìm hiểu những tôn giáo
khác với tôn giáo của mình, có cần thiết hay không? Người
ta đã khẳng định tôn giáo mà mình tin tưởng, do bởi chìu
theo niềm tin của gia đình. Những nhà trí thức và thành phần
ưu tú của tôn giáo đã nghiên cứu những tôn giáo khác để
phát triển năng lực phê phán đối với những tôn giáo. Trong
trường hợp những bất bình xảy ra giữa những bộ phái
trong cùng một tôn giáo thì cách ứng xử thường là không
chấp nhận, không thừa nhận và không bao dung nếu chưa đến
mức đối địch thật sự.
Từ
thời khởi thủy Phật giáo là một tôn giáo rất bao dung và
chưa từng có thái độ thù địch đối với những tôn giáo
khác mặc dầu thi thoảng những người tin Phật lại không
chịu làm bạn với những người đối nghịch trong nội bộ
của mình. Arnold Toynbee nói rằng ‘Tài liệu của đạo Judai
chép lại những sự kiện không khoan dung, thù địch, phản
trắc, không nhân từ và bức hại lẫn nhau; một vết đen
của mình khi so với tài liệu lịch sử của Phật giáo.’
Điều này nhắc nhở rằng Phật giáo có phong thái tốt hơn
khi ở trong môi trường đối thoại không những với những
tôn giáo khác mà còn với những dòng truyền thừa khác nhau
trong nội bộ. Lịch sử của thế giới Phật giáo cho chúng
ta nhiều bằng chứng về cách thức mà những dòng truyền
thừa khác nhau cùng phát triển một cách thân hữu và có những
hợp tác hiệu quả qua nhiều thế kỷ. Không có một điển
hình nào rõ rệt bằng những vị tăng sĩ nổi tiếng đã du
hành từ Trung Hoa cổ đại đến Nam Á. Thế giới Phật giáo
ngày nay chịu ơn những tăng sĩ người Hoa này, những người
đã liều thân cho việc bảo tồn di sản văn học to lớn của
Phật giáo.
Những
diễn tiến mới đây
Ngày
nay, xu thế hợp tác và giao lưu giữa những dòng truyền thừa
Phật giáo đã là một hiện tượng rất phổ biến. Xu thế
này phổ biến đến mức độ mà người ta có thể nói rằng
có một dạng Phật giáo thế giới hay là một dạng Phật
giáo hợp thừa thật sự đang phát triển. Tuy nhiên đây là
một tiến trình từng bước. Mãi cho đến cuối thế kỷ thứ
19 thế giới Phật giáo hãy còn là những dòng truyền thừa
riêng lẽ trong phạm vi những khu vực địa lý sẳn có từ
trước. Những tiến bộ nhanh chóng của ngành vận tải và
thông tin liên lạc đã tạo điều kiện dễ dàng cho việc
giao lưu. Tìm hiểu tôn giáo trở thành một bộ phận của
việc nghiên cứu văn hóa đóng vai trò cốt lõi trong tiến
trình này. Mặc dầu sự hiểu biết về Phật giáo ngày càng
gia tăng ở Châu Âu vào đầu thế kỷ thứ 19 nhưng việc giới
thiệu nền văn học Phật giáo một cách có hệ thống cho
người phương Tây vẫn chưa có ai thực hiện cho đến khi
Rhys Davids, một viên chức dân sự người Anh sinh sống ở
Tích Lan tìm hiểu tiếng Pali do một nhà sư Tích Lan chỉ dạy.
Khi trở về nước, Rhys Davids khai sáng hội Pali Text Society
vào năm 1882 để xuất bản thánh tạng nguyên văn Pali của
Thượng tọa bộ và những bản dịch tiếng Anh. Sự thích
thú đối với Phật giáo ở Bắc Mỹ là do nhà sư Anagarika
Dharmapala gốc người Tích Lan tạo nên tại World’s Parliament
of Religions, tổ chức ở Chicago, 1893. Ông Henry Steel Olcott, người
Hoa Kỳ, đến Tích Lan năm 1880 và trở thành một Phật tử
lãnh đạo phong trào phục hoạt Phật giáo, đã góp phần quan
trọng cho những hoạt động của Dharmapala sau đó. Olcott là
người đầu tiên khởi động quá trình thiết kế xuất lá
cờ Phật giáo 6 màu. Ngày nay lá cờ 6 màu đã được những
người tin Phật khắp nơi trên thế giới công nhận là biểu
tượng của mình.
Mặc
dầu chỉ là một nhà sư thuộc Phật giáo Theravada nhưng Dharmapala
có một tầm nhìn bao quát cả thế giới Phật giáo chớ không
hạn hẹp trong phạm vi đảo quốc Tích Lan mà thôi. Trong sự
nghiệp đấu tranh trường kỳ suốt đời cho việc phục hồi
những thánh tích Phật giáo ở Ấn Độ, Dharmapala đã huy động
tấm lòng của tất cả những người tin Phật trên thế giới.
Vào năm 1889, Olcott và Dharmapala đã đi sang Nhật Bản và chuyến
đi này đã được một cây bút miêu tả: ‘đã đánh thức
tinh thần hòa hợp giữa những người theo Phật giáo Nguyên
Thủy, Đại Thừa và Kim Cang Thừa’ Những hoạt động của
nhà sư Dharmapala đã được sự chứng minh của Maha sangha Tích
Lan, chứng tỏ rằng tinh thần thông thoáng mà nhà sư Dharmapala
đã thể hiện không phải là điều hoàn toàn mới mẽ và
cá biệt.
Ảnh
hưởng của Dharmapala lan tỏa rất xa. Hội Liên Hữu Phật
giáo (WFB) do cố giáo sư Gunapala Malalasekera khai sáng là một
kết quả trực tiếp của tầm nhìn thông thoáng này. Malalasekera
đã tiếp nhận ảnh hưởng của Dharmapala khi còn là một thanh
niên rất trẻ. Khi trở thành vị giáo sư đầu tiên của khoa
văn minh Phật giáo thuộc trường Đại Học Tích Lan, Malalasekera
đã có một kiến thức vững vàng về tiến trình lịch sử
của Phật giáo. Ông đã công khai quan điểm cho rằng tất
cả những người đã tin Phật thì có nhiều lý do để đến
gần với nhau hơn là đứng cách biệt với nhau. Chính nhận
thức và lòng khẳng quyết như vậy mà ông đã triệu tập
những người tin Phật thuộc tất cả những dòng truyền thừa
và xây dựng nên tổ chức tên là Hội Liên Hữu Phật Giáo
ngày nay. Sau khi thành lập Hội Liên Hữu Phật Giáo, Malalasekera
đã khởi động chuyến đi thăm vòng quanh thế giới bao gồm
những quốc gia ở phía Nam, Đông Nam và Đông Á để tiếp
xúc với người tin Phật thuộc tất cả những dòng truyền
thừa. Những bài tự thuật của Malalasekera về chuyến đi
đã phản ánh phong phú tấm lòng và sự kính trọng mà ông
nhận được khắp nơi. Ngày nay, Hội Liên Hữu Phật Giáo
là một địa chỉ gặp nhau cho những người tin Phật thuộc
tất cả truyền thống trên thế giới.
Một
tiến triển tương tự và còn hào hứng hơn nữa đã xuất
hiện trong hàng ngũ ni giới Phật giáo khắp nơi trên thế
giới. Giống như tăng chúng, ni chúng Phật giáo cùng với nữ
Phật tử đã phát động một hiệp hội quốc tế nữ giới
Phật giáo với danh xưng là Hiệp hội những người con gái
của Đức Phật Thích-ca. Hiệp hội đã khởi động năm 1987
với một nhóm những người nữ tin Phật do Karma Lekshe Tsomo
lãnh đạo; Tsomo là một người Mỹ theo nghành Châu Á học,
sau đó thọ giới Tỷ-kheo ni trong truyền thống Tây Tạng.
Tham gia hiệp hội gồm có những Tỷ-kheo ni và nữ tín đồ
thuộc tất cả những dòng truyền thừa, kể cả những nữ
tu thuộc Theravada Tích Lan.
Chính
sự kiện đưa giới đàn truyền thọ đại giới cụ túc ni
vào truyền thống Theravada mà một điển hình hưng khởi nữa
của một nền Phật giáo hợp thừa. Giáo đoàn Tỷ-kheo ni
ở những đất nước theo truyền thống Theravada (Campuchia,
Laos, Myanmar, Sri Lanka, và ThaiLand) đã mai một hẳn trong suốt
10 thế kỷ vừa qua và người ta cứ theo quan niệm cũ mà cho
rằng tái lập giáo đoàn Tỷ-kheo ni là việc vô nghĩa vì trong
dòng truyền thừa TheravÈda đã không có cộng đồng trưởng
lão ni nên không ai thực hiện việc truyền đại giới cho
ni. Người ta còn tuyên bố rằng trừ trường hợp Đức Phật
xuất hiện trở lại thì không ai có thể tái lập giáo đoàn
Tỷ-kheo ni trở lại. Điều này có nghĩa là không chấp nhận
cho giáo đoàn Tỷ-kheo ni phục hoạt trở lại trong lòng của
dòng truyền thừa Theravada vì những nhân vật trụ cột của
dòng truyền thừa Theravada không muốn có cùng nguồn cội tông
môn với những vị Tỷ-kheo ni Đại thừa về mặt giáo luật.
Nữ giới đã vượt qua được rào cản với sự chuẩn nhận
của Giáo hội Tăng-già Tích Lan, thọ nhận đại giới từ
truyền thống Tỷ-kheo ni Đại thừa Triều Tiên, sau đó lại
thọ nhận đại giới từ Giáo hội Tăng-già Tích Lan: y theo
giáo luật truyền thống. Như vậy, dòng truyền thừa Tỷ-kheo
ni Theravada Tích Lan ngày nay, nói một cách chính xác, thì thuộc
về cả hai truyền thống Đại thừa và Theravada. Mặc dầu
điều này không có nghĩa là tất cả những tăng chúng và
cư sĩ Theravada theo nếp xưa chấp nhận hiện tượng đó một
cách không đắn đo nhưng không nghi ngờ gì nữa những đường
ranh xa xưa ngăn cách những truyền thống khác nhau đang bị
xóa mờ và những gì đang xuất hiện rõ ràng mang tính chất
vượt thoát những quy phạm lâu đời.
Ngày
nay, quá trình toàn cầu hóa (do những tiến bộ vượt bực
của nghành thông tin và vận chuyển đã làm giảm hẳn những
khoảng cách về thời gian và không gian) đã tăng cường mức
độ tiếp xúc và thông tin liên lạc với nhau giữa những
tăng sĩ thuộc những dòng truyền thừa khác nhau với mức
độ chưa từng có trước đây. Cùng cọng trú, cùng chia sẻ
những nếp sống và những pháp hành trì đã làm tăng cường
sự hiểu biết lẫn nhau giữa những thành viên của tăng đoàn
Phật giáo. Nền giáo dục hiện đại cũng đã góp phần tạo
nên những cơ hội để tăng sĩ thuộc nhiều truyền thống
tìm hiểu lẫn nhau. Đặc biệt, có một khuynh hướng càng
ngày càng phát triển là những tăng sĩ không thuộc Theravada
đi đến những quốc gia Theravada để học hỏi những điều
mà chúng ta tin là những lời dạy nguyên thủy của đức đạo
sư. Điển hình là Viện hậu đại học chuyên nghành Pali và
Phật học thuộc đại học Kelaniya Tích Lan hiện nay do tôi
lãnh đạo, có rất đông sinh viên từ những quốc gia thuộc
truyền thống Đại thừa. Tương tự, nhiều tăng sĩ thuộc
truyền thống Theravada đã đi đến những quốc gia như Trung
Quốc, Triều Tiên và Nhật Bản để học hỏi những tông
phái khác nhau thuộc truyền thống Đại thừa. Những người
tin Phật chưa bao giờ giảm nhiệt tâm trong việc học hỏi
Phật giáo và chưa bao giờ cạn nguồn cảm hứng và thuần
túy học thuật mà thiếu nội dung tu tập. Kết quả cuối
cùng luôn luôn là làm phong phú cho nhau. Ngày nay dường như
đã là một thông lệ chúng ta thường nghe vị giảng sư Đại
Thừa hay Kim Cang Thừa viện dẫn thánh điển Pali và vị giảng
sư Theravada thuật lại những mẩu chuyện thiền Phật giáo
hay trích dẫn kinh văn Đại Thừa, Kim Cang Thừa. Thiền quán
niệm của Theravada đang có nhiều người tin Phật thực tập,
không còn vướng mắc bởi những tông chỉ truyền thống cố
hữu nữa. Những hành giả thuộc một phong cách mới có khi
được gọi tên là ‘Phật giáo phong cách Hoa kỳ’ cùng một
lúc rút tỉa cảm hứng từ nhiều truyền thống Phật giáo
khác nhau và phát triển thành một dạng Phật giáo tinh tuyển,
thoát ra ngoài vòng cương tỏa của những quy chuẩn xa xưa.
Phật
giáo phong cách Hoa kỳ như đã đề cập ở trên là một kết
quả của tiến trình toàn cầu hóa, cũng là kết quả của
một số vấn đề xã hội và địa lý chính trị trên thế
giới trong 4 - 5 thập kỷ mới đây. Những người tin Phật
từ Đông Nam Á, từ Việt Nam sau chiến tranh Việt Nam, thập
niên 70 đã đến Hoa kỳ mang theo truyền thống Đại thừa
và một số lớn những người tin Phật theo truyền thống
Theravada dưới sự hướng dẫn của đại trưởng lão Narada
ở Wajiraramaya, Colombo. Những người tin Phật thuộc Kim Cang
thừa từ Tây Tạng đã đổ sang Phương Tây rất đông khi
xảy ra rắc rối chính trị giữa Trung Quốc và Tây Tạng.
Những người tin Phật Campuchia cũng đã chạy nạn sang Phương
Tây từ những năm 1980 sau những cuộc thí nghiệm chính trị
kinh hoàng của chế độ Pol Pot, không quên mang theo truyền
thống Phật giáo Theravada. Ngoài những cộng đồng tỵ nạn
kể trên là những nhóm Phật giáo xuất thân từ những quốc
gia thuộc truyền thống Đại thừa đã định cư ở Hoa Kỳ
trên 100 năm và những nhóm Phật giáo truyền thống Theravada
từ Tích Lan, Thái Lan và Miến Điện. Sự phát triển của
dạng Phật giáo phức hợp này là một câu chuyện dài với
nhiều tình tiết mà tôi không có ý định kể lại nơi đây.
Tuy nhiên điều cần ghi nhận là sự diễn tiến liên tục
của một dạng Phật giáo mới; dạng Phật giáo kết nạp
nguồn cảm hứng từ tất cả những truyền thống có trước.
Như trước đây chúng ta đã ghi nhận một số học giả đã
‘phong tặng’ dạng Phật giáo mới này danh hiệu ‘Phật
giáo phong cách Hoa kỳ’. Richard Hughes Seager hiện cố gắng
miêu tả như sau:
Cộng
đồng Phật giáo Hoa Kỳ nói chung là một phức hợp rất phong
phú những sắc thái, những quan điểm về bản chất của
Phật giáo. Trong đó, những người theo nếp cũ và những nhà
canh tân cùng có mặt với nhau, có khi thoải mái, có khi không.
Thông thường lòng bao dung được xem trọng và hầu như mọi
người đều chấp nhận quan điểm cho rằng tất cả những
cách diễn đạt về pháp trong yếu tính của nó thì pháp chỉ
là một mà thôi.
Điển
hình đẹp của dạng Phật giáo mới phát triển tại địa
phương là một Giáo Hội gồm cả tăng lẫn ni; đó là Hội
đồng Tăng-già Phật giáo Nam California thành lập năm 1980,
thoạt tiên hội đồng chỉ làm điều phối cho những buổi
đàm luận giữa tăng ni và Phật tử, sau đó phát triển thành
một tổ chức thu hút tăng ni và Phật tử thuộc tất cả
những truyền thống Phật giáo đang có mặt trong địa phương.
Hội đồng cũng đã tổ chức buổi đại lễ Phật đản chung
cho những người tin Phật; đây là một việc làm rất có
ý nghĩa nó biểu tượng cho sự đồng thuận của tất cả
những dòng truyền thừa Phật giáo đối với việc chọn ngày
trăng tròn của tháng Năm theo truyền thống Theravada làm ngày
đản sinh của Đức Phật. Điều này cho người ta thấy những
truyền thống Phật giáo khác nhau đã phát huy tính đồng thuận
với nhau như thế nào trong những sự kiện trọng đại và
tạo nên những tiền lệ mới ở địa phương cư trú mới
của mình.
Kết
luận
Đối
thoại tôn giáo dù là trong nội bộ hay đối với bên ngoài
đều đầy những khó khăn. Điều khó khăn nhất là không
có sự đồng thuận ngay cả giữa những hành giả nhiệt tâm
nhất. Đối thoại trong nội bộ Thiên Chúa giáo được phát
động và tiến hành bởi những người Ki-tô thường bị chỉ
trích là một dạng cải giáo trá hình. Một số lượng rất
đông những người Ki-tô bảo thủ không chấp nhận việc
đó. Chúng ta có thể mường tượng tình trạng tương tự
như vậy xảy ra trong nội bộ Phật giáo. Cụ thể là việc
có một số những hành giả không nhân nhượng và chỉ muốn
duy trì thật đúng với những gì đã được truyền từ đời
này sang đời khác.
Như
chúng ta biết, xưa nay Đại thừa tách biệt với Tiểu thừa
dựa trên thành kiến: Đại thừa cho Tiểu thừa là căn cơ
thấp kém trong khi Tiểu thừa lại tin rằng Đại thừa là
lệch hướng. Tuy nhiên sau 2 ngàn năm bất mãn với nhau, ngày
nay sự li khai không còn mang tính chất cũ. Tất cả những
dòng truyền thừa dường như đã đi đến một sự đồng
thuận về vấn đề điều gì là cốt lõi của Phật giáo.
Những dòng truyền thừa đã thể hiện tính khai phóng, học
hỏi lẫn nhau. Những người tin Phật được tự do theo bất
cứ mục tiêu nào mà người ấy có cảm hứng: mục tiêu giải
thoát toàn bộ, mục tiêu giải thoát tự thân hay mục tiêu
chứng đắc quả vị A-la-hán. Thảo luận đến đây chúng
ta thấy rằng đối thoại giữa những người tin Phật hướng
về lý thuyết thì ít mà hướng về tu tập thì nhiều hơn.
Tuy nhiên điều này không có ý định đưa ra dự báo về nhu
cầu phải có một học thuyết tinh tế về vấn đề đối
thoại nội bộ. Dường như quá trình thực tu một cách chất
lượng có thể phác họa ra được bản chất của một học
thuyết đối thoại nội bộ, đồng thời tránh được nguy
cơ tạo ra một học thuyết chỉ để người ta học và thuyết
rồi thôi.