Ðạo
Phật là gì?
Hỏi:
Ðạo Phật là gì?
Ðáp:
Danh từ Ðạo Phật (Buddhism) xuất phát từ chữ "Budhi" nghĩa
là "tỉnh thức" và như vậy Ðạo Phật là triết học của
sự tỉnh thức. Nền triết học này khởi nguyên từ một
kinh nghiệm thực chứng của Ngài Sĩ-Ðạt-Ða Cồ-Ðàm, được
biết như một vị Phật, đã tự mình giác ngộ ở tuổi ba
mươi sáu. Ðến nay Ðạo Phật đã có mặt trên 2500 năm và
có khoảng 300 triệu tín đồ trên khắp thế giới. Hàng trăm
năm về trước, Ðạo Phật đã chính thức là một nền triết
học của Á châu, tuy nhiên ngày nay đã phát triển và có tín
đồ ở khắp châu Âu và châu Mỹ.
Hỏi:
Như vậy, Ðạo Phật có phải là một triết học không?
Ðáp:
Danh từ triết học - philosophy - bắt nguồn từ hai chữ "philo"
nghĩa là "tình thương" và "sophia" nghĩa là"trí tuệ". Vậy
triết học là tình thương của trí tuệ hoặc tình thương
và trí tuê. Cả hai ý nghĩa nầy đều diễn tả một đạo
Phật toàn bích. Ðạo Phật khuyên dạy con người nên cố
gắng phát triển khả năng tri thức của mình đến chỗ cùng
tột để có thể hiểu biết một cách rõ ràng. Ðạo Phật
cũng dạy chúng ta làm lớn mạnh lòng từ bi và lòng nhân ái
để mình có thể trở thành một người bạn chân thànhĩ
đối với tất cả chúng sanh. Vì thế Ðạo Phật là một
triết học, nhưng không chỉ là một triết học mà là một
triết học siêu việt.
Hỏi:
Ðức Phật là ai?
Ðáp:
Vào
năm 624 trước Tây Lịch, một hoàng nhi đã ra đời tại một
vương quốc
thuộc
miền Bắc Ấn Ðộ. Vị hoàng nhi ấy đã lớn lên trong nhung
lụa và xa hoa,
nhưng
cuối cùng sớm nhận ra rằng tiện nghi vật chất và sự yên
bình của thế
gian
không đủ để bảo đảm hạnh phúc. Chàng đã xúc động
sâu xa bởi những cảnh
khổ
đau mà chàng đã thấy ở khắp mọi nơi, và quyết tâm tìm
một lời giải đáp đưa
đến
hạnh phúc cho nhân loại. Năm hai mươi chín tuổi, chàng từ
giả vợ và con, và
tìm
học với các bậc đạo sư vĩ đại đương thời. Các vị
này đã dạy cho chàng
rất
nhiều nhưng không có người nào thật sự biết rõ được
nguyên nhân khổ đau
của
kiếp người và phương cách vượt thoát khổ đau. Cuối cùng,
sau sáu năm
tu
học và hành thiền, chàng đã đạt được một kinh nghiệm
mà tất cả mọi
phiền
não vô minh được đoạn trừ và ngài đã hoát nhiên giác
ngộ. Kể từ ngày ấy,
Ngài
được tôn xưng là Phật-đà (Buddha), một bậc Giác Ngộ.
Ngài tiếp tục ở lại
thế
gian trong 45 năm nữa, chu du khắp miền Bắc Ấn độ để truyền
dạy cho mọi người
những
gì mà ngài đã chứng ngộ. Lòng từ bi và đức tính kham nhẫn
của Ngài là
một
sự kỳ diệu đã khiến cho hàng ngàn người theo làm đệ
tử của Ngài. Ở tuổi tám mươi, tuy già và bệnh, nhưng vẫn
hạnh phúc và thanh thản, cuối cùng ngài đã viên tịch.
Hỏi:
Ðức Phật vô trách nhiệm chăng khi Ngài rời bỏ vợ con của
mình?
Ðáp:
Ðiều đó không dễ dàng chút nào khi Ðức Phật rời bỏ
gia đình. Ngài đã phải lo lắng và do dự trong một thời
gian dài trước khi quyết định ra đi. Lúc đó, Ngài có một
sự chọn lựa, hoặc là hiến dâng đời mình cho gia đình,
hoặc cho thế gian. Cuối cùng, với lòng từ bi rộng lớn đã
khiến ngài hy sinh đời mình cho thế gian , và cả thế gian
đều được lợi lạc từ sự hy sinh của ngài. Do vậy, đó
không phải là vô trách nhiệm. Có thể nói đó là một sự
hy sinh đầy ý nghĩa nhất từ trước đến nay.
Hỏi:
Ðức Phật đã nhập diệt thì làm sao Ngài có thể giúp đỡ
chúng ta?
Ðáp:
Ông Faraday, người phát minh ra điện, đã mất nhưng những
gì ông phát minh vẫn còn có ích cho chúng ta. Ông Luis Pasteur,
người tìm ra phương pháp điều trị nhiều bệnh tật, đã
qua đời, nhưng các khám phá y khoa của ông vẫn cứu được
nhiều mạng sống. Ông Leonardo da Vinci, người sáng tạo ra
những kiệt tác nghệ thuật, cũng đã khuất bóng, nhưng tác
phẩm của ông vẫn đem lại nhiều hứng khởi và niềm vui
cho mọi người. Những thánh nhân và anh hùng đã từ giã cõi
đời hàng thế kỷ nhưng khi chúng ta đọc lại những kỳ
tích và thành tựu của họ, chúng ta vẫn có nhiều hứng khởi
để noi theo những gì họ đã làm. Ðúng thế, Ðức Phật
đã diệt độ, nhưng 2500 năm sau lời giáo huấn của Ngài
vẫn giúp được nhân loại, gương lành của Ngài vẫn tạo
nhiều cảm hứng cho mọi người, lời dạy của Ngài vẫn
có thể cải tạo được cuộc sống. Chỉ có Ðức Phật mới
có thể có một tiềm lực thu hút như thế qua nhiều thế
kỷ sau khi Ngài đã nhập diệt.
Hỏi:
Ðức Phật có phải là một vị thần linh không?
Ðáp:
Không,
Ngài không phải là một vị thần linh (god). Ngài cũng không
tuyên bố
rằng
mình là thần linh, là con của thần linh, hoặc ngay cả là
một sứ giả của
thần
linh. Ngài là một con người đã tự toàn thiện mình, và dạy
rằng
nếu
chúng ta noi theo gương Ngài, chúng ta cũng có thể tự hoàn
thiện
được như Ngài.
Hỏi:
Nếu Ðức Phật không phải là thần linh, tại sao người ta
thờ cúng Ngài?
Ðáp:
Có nhiều loại thờ cúng khác nhau, khi người ta thờ một
vị thần, họ tán thán cung kính và cúng dường vị ấy, để
cầu xin ân sủng. Họ tin tưởng rằng vị thần linh ấy sẽ
nghe thấy sự tán dương, tiếp nhận sự cúng dường và đáp
ứng lại lời cầu xin của họ. Người Phật tử không theo
kiểu thờ cúng này. Cũng có các loại thờ cúng khác như khi
chúng ta bày tỏ lòng tôn kính đối với một người nào đó
hay điều gì khiến chúng ta ngưỡng mộ. Khi vị thầy giáo
bước vào lớp, chúng ta đứng lên; khi gặp một viên chức
cao cấp, chúng ta bắt tay; khi một bài quốc ca được trổi
lên, chúng ta nghiêm chào. Ðó là tất cả những cử chỉ cung
cách tôn kính tỏ bày lòng khâm phục của chúng ta đối với
người hay vật. Cách thờ cúng theo Phật giáo là thực hành.
Một pho tượng Phật ngồi với bàn tay nhẹ nhàng trong mãnh
y và nụ cười từ ái nhắc nhở chúng ta cố gắng phát triển
sự an lạc và yêu thương trong mỗi chúng ta. Mùi thơm của
hương trầm nhắc nhở chúng ta về sự ảnh hưởng của đức
hạnh lan tỏa khắp nơi, ngọn đèn nhắc nhở chúng ta đến
ánh sáng của hiểu biết, và những bông hoa sớm tàn úa nhắc
cho chúng ta lẽ vô thường. Khi đảnh lễ cuối đầu, chúng
ta bày tỏ lòng biết ơn đối với Ðức Phật về những lời
dạy của Ngài. Ðó là phương cách thờ cúng của người Phật
tử.
Hỏi:
Nhưng tôi nghe người ta nói rằng nhiều Phật tử vẫn thờ
cúng thần tượng?
Ðáp:
Những lời phát biểu như vậy chỉ phản ảnh sự hiểu lầm
của người đang hành trì. Từ điển định nghĩa từ "idol"
là "một hình ảnh hay một pho tượng được tôn thờ như
một thần linh"( an image or statue worshipped as a god). Như chúng
ta đã biết, người Phật tử không bao giờ tin rằng Ðức
Phật là một vị thần linh. Vậy làm sao người Phật tử
có thể tin rằng một khối gỗ hay một mảng kim loại kia
lại là một vị thần?
Mỗi
tôn giáo đều dùng một biểu tượng nào đó để bày tỏ
quan điểm và niềm tin của riêng họ. Trong Ðạo Lão (Taoism),
Âm dương được dùng để làm biểu tượng hài hòa và đối
kháng. Ðạo Sikh (1), thanh gươm được xem là biểu tượng
cho sự đấu tranh tinh thần. Ðạo Cơ-đốc (Christianity), con
cá dùng làm biểu tượng cho sự hiện hữu của Chúa và cây
Thánh giá dùng làm biểu trưng cho sự hy sinh của Chúa. Và
Phật giáo, tượng Phật được xem như những biểu tượng
của sự hoàn thiện nhân cách con người. Tượng Phật cũng
nhắc nhở ta về tính nhân bản trong giáo lý nhà Phật. Thật
vậy, Phật giáo luôn xem con người là trung tâm chứ không
phải là thần linh, điều đó nhắc nhở chúng ta phải tìm
sự toàn hảo và hiểu biết ở bên trong chứ không phải vẻ
bề ngoài của hình tượng. Vì thế nói rằng người Phật
tử tôn thờ hình tượng là không đúng.
Hỏi:
Tại sao người ta đốt giấy vàng bạc và làm những chuyện
lạ trong chùa?
Ðáp:
Nhiều việc thấy lạ nếu ta không tìm hiểu về chúng. Tốt
hơn nên gạt bỏ những chuyện lạ ấy mà nên cố gắng tìm
hiểu ý nghĩa của chúng. Tuy nhiên, trong thực tế, đôi khi
người Phật tử đã áp dụng những điều mê tín dị đoan
và hiểu lầm hơn là lời dạy của Phật. Và những việc
hiểu lầm như vậy không phải chỉ riêng ở Phật giáo mà
thỉnh thoảng cũng được thấy ở những tôn giáo khác. Ðức
Phật đã dạy rất rõ ràng và chi tiết và nếu không hiểu
giáo lý của Ngài thì không thể đổ lỗi cho Ngài. Có lời
dạy rằng:
Nếu
một người đau khổ vì bệnh hoạn mà không chịu để điều
trị, thậm chí người ấy có người thầy thuốc trong tầm
tay. Ðó không phải là lỗi của người thầy thuốc..
Cũng
vậy, nếu một người bị hành hạ và đau khổ bởi phiền
não mà không tìm sự giúp đỡ của Ðức Phật, thì đó cũng
không phải là lỗi của Ngài.-- (JN 28-9)
Không
phải phật giáo mà bất cứ tôn giáo nào cũng không thể giúp
cho họ nếu bản thân họ không thực hành đúng pháp. Nếu
bạn muốn biết rõ ràng và chính xác về chân lý của Ðạo
Phật , thì hãy đọc những lời dạy của Phật hoặc học
hỏi với người hiểu đúng giáo lý này.
Hỏi:
Nếu Phật giáo quá tốt đẹp như vậy, tại sao vẫn còn nhiều
quốc gia nghèo khổ?
Ðáp:
Ý bạn muốn nói nghèo khổ về kinh tế? Ðó là sự thật,
vì vẫn còn nhiều quốc gia Phật giáo chưa phát triển về
mặt này. Nhưng nếu nghèo mà ý bạn muốn ám chỉ về "phẩm
chất của cuộc sống" thì có lẽ nhiều nước theo Phật giáo
lại rất giàu. Chẳng hạn nước Mỹ, một quốc gia cường
thịnh về kinh tế và quyền lực, nhưng lại là một trong
những quốc gia có mức độ tội phạm cao nhất thế giới,
hàng triệu người già bị con cái lãng quên và chết trong
cô độc tại các viện dưỡng lão; nạn bạo lực ở trong
gia đình và lạm dụng tình dục trẻ em là vấn đề nóng
bỏng. Cứ ba cặp cưới nhau có một cặp ly dị; sách báo
đồi trụy dễ dàng tìm thấy. Vì vậy, giàu theo nghĩa có
tiền nhưng lại nghèo về "phẩm chất cuộc sống". Bây giờ
chúng ta thử quay sang Miến Ðiện, một quốc gia có nền kinh
tế lạc hậu, nhưng cha mẹ được con cái tôn vinh và kính
trọng; tỉ lệ tội phạm tương đối thấp; vấn đề ly dị
và tự tử hầu như không nghe thấy; việc bạo lực trong gia
đình, lạm dụng trẻ em, sách báo kích dục và nạn mãi dâm
không thể có. Một nền kinh tế chậm tiến nhưng lại có
một nền tảng đạo đức xã hội cao hơn một quốc gia như
Hoa kỳ. Tuy nhiên, nếu chúng ta muốn nhìn thấy những quốc
gia Phật giáo theo cái nghĩa kinh tế như vậy, thì một trong
những quốc gia giàu có nhất và có nền kinh tế năng động
nhất thế giới hiện nay là Nhật Bản, nơi có 93% dân số
là tín đồ theo Phật giáo.
Hỏi:
Tại sao bạn không thường nghe người Phật tử làm công tác
từ thiện xã hội?
Ðáp:
Có lẽ người Phật tử không cảm thấy cần thiết phải
khoe khoang về những điều tốt của họ. Nhiều năm trước
đây ông Nikkyo Niwano (2), vị lãnh đạo Phật giáo Nhật Bản
đã được trao giải thưởng Templeton qua việc ông vận động
liên kết hòa hợp tôn giáo. Tương tự, một tăng sĩ người
Thái đã nhận giải thưởng Magsaysay cho chiến dịch bài trừ
tệ nạn ma túy. Năm 1987, Thượng tọa Kantayapiwat, người Thái
Lan, cũng nhận một giải thưởng Nhi đồng Hòa Bình của Na
Uy cho công việc từ thiện của ngài trong nhiều năm giúp đỡ
trẻ bụi đời ở vùng nông thôn. Và hiện nay, các hội đoàn
Phật giáo phương Tây đang thực hiện một số công tác từ
thiện ở các vùng nông thôn Ấn Ðộ, họ đang xây dựng trường
học, Trung tâm điều trị tâm thần thiếu nhi, trạm xá và
những khu công nghiệp nhẹ. Người Phật tử thấy rằng việc
giúp đỡ cho người khác như là một pháp môn tu tập của
họ, nhưng họ cho rằng công việc ấy nên thực hiện trong
thầm lặng, không cần phô trương. Chính vì thế mà bạn không
nghe thấy nhiều về các hoạt động từ thiện của họ.
Hỏi:
Tại sao có nhiều tông phái khác nhau trong Phật giáo?
Ðáp:
Có
nhiều loại đường khác nhau: đường vàng, đường trắng,
đường kết tinh, đường cục, đường cát, đường phèn...
nhưng tất cả chỉ là đường và chỉ có một vị ngọt.
Nó được sản xuất từ nhiều hình thức khác nhau để nó
có thể sử dụng nhiều cách khác nhau. Phật giáo cũng thế,
Phật giáo Nguyên thủy, Thiền tông , Tịnh độ tông, Du già
tông, Mật tông nhưng tất cả đều là Phật giáo và đều
có chung một vị - vị giải thoát. Phật giáo quả thật đã
phát triển qua nhiều hình thức khác nhau để nó hiện hữu
và thích ứng với những nền văn hóa khác nhau. Qua nhiều
thế kỷ Phật giáo có thể tồn tại phù hợp với mọi thế
hệ. Ðứng trên phương diện bề mặt, Phật giáo dường như
có khác nhau, nhưng tâm điểm dị biệt ấy vẫn là giáo lý
Tứ đế và Bát chánh đạo. Tất cả những tôn giáo chính,
kể cả Phật giáo, đã từng bị chia ra nhiều tông phái khác
nhau. Như những tôn giáo chính khác, Phật giáo bao gồm những
hình thái và tông phái. Những sự khác nhau của các tông phái
ấy không bao giờ đưa tới xung đột nhau, và cho tới nay chưa
bao giờ biểu lộ sự thù địch với nhau, họ đến với nhau
ở những chùa viện khác và cùng cầu nguyện với nhau. Lòng
bao dung, và hiểu nhau như thế quả thật là hiếm thấy.
Hỏi:
Bạn luôn nghĩ tốt về Ðạo Phật. Tôi cho rằng bạn nghĩ
Ðạo của bạn đang theo là đúng còn các đạo khác là sai.
Ðáp:
Không có một Phật tử nào hiểu lời Phật dạy mà lại nghĩ
các tôn giáo khác là sai. Không một ai có tâm hồn cởi mở
lại để tâm phán xét các tôn giáo khác. Việc trước tiên
bạn để tâm nghiên cứu những tôn giáo khác là để biết
có bao nhiêu điểm tương đồng.Tất cả các tôn giáo đều
thừa nhận rằng đời sống con người hiện tại không được
thỏa mãn. Tất cả đều tin rằng nếu hoàn cảnh của con
người phải cải thiện thì cách cư xử và quan điểm của
họ cần phải được thay đổi. Tất cả đều truyền dạy
về một nền đạo đức học về yêu thương, nhân ái, kiên
nhẫn, rộng lượng và có trách nhiệm với xã hội, và tất
cả đều chấp nhận có sự hiện hữu trong một vài hình
thức tuyệt đối.
Họ
sử dụng nhiều ngôn ngữ khác nhau, nhiều tên gọi khác nhau
và nhiều biểu tượng khác nhau để mô tả và giải thích
những sự việc này. Và chỉ khi nào họ bám chặt vào đường
hướng của mình bằng tâm lượng hẹp hòi để nhìn sự việc
thì sự ích kỷ, ngạo mạn và tự tôn liền phát sinh.
Cứ
tưởng tượng một người Anh, một người Pháp, một người
Trung quốc và một người Nam Dương. Tất cả đều nhìn vào
một cái ly nước. Người Anh nói "Ðây là cái 'cup'", người
Pháp nói "Không phải, nó là cái 'tasse'", người Hoa bảo "cả
hai ông đều sai hết, nó chính là ' pei'". Và người Nam Dương
cười lớn nói rằng: "Các anh ngớ ngẫn làm sao, nó là cái
'cawan'". Người Anh lật quyển từ điển ra và chỉ cho các
người kia "Tôi có thể chứng minh đây là cái 'cup', quyển
từ điển của tôi đã viết như thế". Người Pháp cãi lại
"từ điển của tôi nói rõ đó là 'tasse'. Người Hoa lớn
tiếng cãi lại "Từ điển của chúng tôi mới chính xác, vì
nó có hàng ngàn năm nay rồi, lâu hơn tất cả các từ điển
của các anh, vả lại người nói tiếng Hoa nhiều hơn người
nói ngôn ngữ của mấy anh, vì thế tôi nói nó là pei là chính
xác nhất". Trong lúc những người này đang cãi cọ và tranh
luận, một người Phật tử bước tới bưng lấy cái ly nước
lên uống. Sau khi vị ấy uống xong, vị ấy nói: "Dù các anh
có gọi nó là 'cup', 'tasse', 'pei' hay 'cawan' , mục đích của
cái ly là dùng để uống nước, các anh hãy chấm dứt tranh
luận và hãy uống nước để bớt cơn khát của các anh đi!".
Ðây là thái độ của người Phật tử đối với các tôn
giáo khác.
Hỏi:
Ðạo Phật có phải là khoa học không?
Ðáp:
Trước
khi trả lời câu hỏi này, tốt nhất chúng ta hãy tìm hiểu
về định nghĩa của từ khoa học, theo từ điển giải thích
khoa học là "Kiến thức có thể được hình thành theo một
hệ thống, cái tuỳ thuộc vào sự trắc nghiệm các dữ kiện
và xác nhận được quy luật tự nhiên, một phần tùy thuộc
vào những gì được nghiên cứu chính xác".
Trong
Phật giáo có nhiều phương diện không phù hợp với định
nghĩa này. Nhưng giáo lý cốt lõi của Ðạo Phật, Tứ Diệu
Ðế (Four Noble Truths) thì hẳn đã phù hợp. Chân lý thứ nhất
khổ đau là một kinh nghiệm và có thể xác định được.
Chân lý thứ hai chỉ rõ rằng đau khổ có nguyên nhân tự
nhiên của tham ái mà nó có thể định nghĩa, trải qua và
đo lường được. Không cần cố gắng giải thích khổ đau
theo thuật ngữ , quan điểm siêu hình hay huyền hoặc. Chân
lý thứ ba, chấm dứt khổ đau không nương nhờ vào thần
linh tối cao, vào niềm tin hay cầu nguyện mà đơn giản chỉ
là loại bỏ nguyên nhân của khổ đau. Ðó là việc hiển
nhiên. Chân lý thứ tư, con đường đưa đến sự chấm dứt
khổ đau, một lần nữa cũng không có gì siêu hình mà tùy
thuộc vào việc thực hiện theo phương pháp đặc biệt. Và
hơn nữa thái độ phải cởi mở để xét nghiệm.
Phật
giáo không thừa nhận quan điểm về một đấng cao cả , giống
như khoa học và giải thích nguồn gốc và sự vận hành của
vũ trụ theo quy luật tự nhiên. Hẳn những điều này là chứng
minh theo tinh thần khoa học. Một lần nữa, chúng ta lại thấy
tinh thần khoa học trong Phật giáo càng rõ ràng hơn qua lời
khuyên của Ðức Phật, rằng chúng ta không nên tin tưởng
một cách mù quáng mà ngược lại phải đặt vấn đề , tìm
hiểu và thẩm tra, nhờ vào kinh nghiệm của chính mình rồi
mới tin, có như thế tính chất khoa học mới được rõ ràng.
Ðức Phật dạy:
"Ðừng
tin tưởng theo huyền bí hay truyền thống. Ðừng tin tưởng
theo tin đồn đãi hay kinh điển, đừng tin tưởng theo lời
đồn hay những gì hợp lý, đừng tin tưởng theo khuynh hướng
của một ý niệm nào đó , hay do một ai đó có khả năng.
Và đừng tin tưởng theo ý tưởng " vị ấy là thầy của
ta". Nhưng khi chính các vị biết rằng điều ấy là tốt không
làm tổn hại ai, đó là sự sáng suốt đáng tán dương và
khi thực hành và theo dõi rằng nó sẽ mang đến hạnh phúc,
rồi hãy tin tưởng theo". -- (A I 188)
Vì
thế chúng ta có thể nói rằng mặc dù Phật giáo không hoàn
toàn khoa học, nhưng hẳn đã mang tính khoa học mạnh mẽ và
có tính khoa học hơn các tôn giáo khác. Chính ông Albert Einstein
(1879-1955) một nhà khoa học vĩ đại nhất của thế kỷ hai
mươi đã nói về tính khoa học của Phật giáo như sau:
"Tôn
giáo tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên trên
mọi tinh thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy
phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt
trên căn bản của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm
tổng thể gồm mọi lĩnh vực trong cái nhất thể đầy đủ
ý nghĩa. Phật giáo sẽ đáp ứng được các điều kiện đó.
Và nếu có bất cứ một tôn giáo nào có thể đương đầu
với những nhu cầu của nền khoa học hiện đại, thì đó
là Phật giáo vậy."
Ghi
chú:
(1)
Sikhism: một đạo phát triển từ Ấn giáo từ thế kỷ 16,
chỉ tín ngưỡng một vị thần.
(2)
Pháp sư Nikkyo Niwano (1906-1999), người khai sáng Hội Phật Giáo
Lập Chánh Giảo Thành (Rissho Kosei-kai, phát xuất từ phái Pháp
Hoa Nhật Liên Tông của Nhật bản), là nhà lãnh đạo Hội
Tôn Giáo và Hòa Bình Thế Giới, Hiệp Hội Tự Do Tôn Giáo,
Hiệp Hội Hòa Bình Niwano, Liên Ðoàn Tân Tôn Giáo Nhật Bản,
là tác giả của nhiều tác phẩm Phật học quan trọng. (Người
dịch).