THƯ VIỆN HOA SEN
[Search][English][Mirrorsite]
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
 
c
HỌC THẾ NÀO ÐỂ ÐƯỢC "KHUYẾN" ?
Thiện Hòa
Hiện nay, việc học tập của Tăng Ni rất được coi trọng, bởi ai cũng nhận thức được rằng đạo Phật là đạo "Duy tuệ thị nghiệp", không thể chấp nhận việc "tu mù". Ðồng thời, chúng ta đang sống trong một thời đại khoa học phát triển, do đó cũng không thể quá cách ly xã hội, quá lạc hậu, làm sao tiếp cận với chúng sanh đầy kiến thức, kiến giải, để mà hoằng pháp. Cho nên, cả học nội điển lẫn ngoại điển đều là những yêu cầu chính đáng, đặc biệt với lớp Tăng Ni trẻ sẽ là những người đứng ra làm Phật sự trong tương lai.

Ðầu tiên là có một động cơ đúng đắn. Người đi học phải thật tâm nghĩ rằng học để đường tu sáng suốt hơn và để dẫn dắt chúng sanh cùng giải thoát. Chí nguyện mạnh mẽ đó sẽ thúc đẩy Tăng Ni nỗ lực vượt qua khó khăn, đi đến cùng, thậm chí quyết học thật giỏi, học hết sức mình chứ không thả trôi, an phận. Chúng tôi nói như thế bởi thực tế đã có một số vị đi học với những tư tưởng khác hẳn. Có người không ham học nhưng thấy huynh đệ có bằng này bằng nọ được chung quanh nể trọng thì lòng bỗng "xôn xao", muốn kiếm một chút "chứng chỉ" cho… bằng chị bằng em !. Cái bản ngã trở thành động cơ. Có người học là để né tránh công tác ở chùa Thầy Tổ, có khi ở nông thôn phải làm vườn, làm ruộng, hoặc né tránh cảnh heo hút buồn bã ở vùng sâu vùng xa. Học kiểu này thường không có mục đích rõ ràng, cứ đăng ký hết lớp này đến lớp khác miễn lấp đầy thời gian. Dẫu có giấu giếm cỡ nào thì lâu ngày những động cơ như thế vẫn lộ hình, mọi người vẫn nhìn ra và không ủng hộ.

Thứ hai, nên học theo đúng sở trường của mình. Học nội điển là dĩ nhiên bắt buộc. Nhưng nếu đi sâu vào chuyên ngành thì cũng phải chú ý đến sở trường. Có người cứ nhất quyết học khóa giảng sư dù khả năng ăn nói chỉ "tạm tạm" trong lúc viết chữ Hán rất đẹp mà lại bỏ qua. Thay vì chọn lớp nghiên cứu Hán Nôm hoặc lớp thư pháp, có lẽ hiệu quả hơn, có người tán tụng rất hay, tại sao không nghiên cứu về nhạc lễ Phật giáo như Giáo sư Trần Văn Khê đã thử nghiên cứu một phần. Về ngoại điển, lại càng phải chọn lựa kỹ hơn vì quá nhiều ngành, nhiều môn. Hiện nay, xu hướng chung là học ngoại ngữ vì nghĩ nó rất cần để "hội nhập". Nhưng có người học mấy năm không lấy nổi bằng A Anh văn, chán, quay sang Hoa văn, cũng trầy trật, cuối cùng bỏ dở. Mà thực tế, vị đó rất giỏi trang trí, sao không dự một lớp mỹ thuật ứng dụng để sau này điều hành việc thiết kế lễ đài ? Hoặc giỏi kiến trúc thì đi học đại học kiến trúc để xây chùa cho đẹp. (Hàng trăm ngôi chùa đã bị "làm mới" một cách vô tội vạ, không hề có kiến thức về thẩm mỹ Phật giáo, phá vỡ truyền thống văn hóa lâu đời của dân tộc. Cứ tưởng đem bê tông sắt thép bồi bổ vào là xong, biết đâu rằng chúng ta đã làm mất đi nét đẹp kiến trúc rất đặc trưng của ngôi chùa). Hoặc có người giỏi về điện tử sao không học môn đó để giúp cho tự viện của mình khỏi lúng túng mỗi lần lễ lạc, đám tiệc… Chúng tôi đã chứng kiến nhiều vị có sẵn năng khiếu trời cho mà không hề biết phát huy, cứ bị động chạy theo bên ngoài. Thấy người ta ùn ùn đi học báo chí (ừ, thì nghe mấy chữ "phóng viên báo chí" cũng oai !) nên lật đật ghi danh, thực tế viết văn câu cú lủng củng, sai chính tả quá nhiều. Thấy bạn bè rủ học ngành y, cũng nhắm mắt đi theo, dù tính tình ít kiên nhẫn, tỉ mỉ. Những dạng học ấy, dăm ba tháng là nản, hoặc bị đánh rớt vì quá yếu, thật phí thời gian và tiền bạc.

Ở đây, không chỉ là trách nhiệm của mỗi người, mà còn có trách nhiệm của Thầy Tổ, huynh đệ. Lẽ ra cần sâu sát tâm tính và bản chất của "con" mình, "anh em" mình mà đưa ra lời cố vấn thích hợp. Hình như chúng ta vẫn còn để mặc cho lớp trẻ tự bươn chải với ngưỡng cửa cuộc đời, ngỡ ngàng, phân vân trước muôn nẻo đường học vấn và định hướng "nghề nghiệp". Và chúng ta còn quá định kiến, thiên lệch về các ngành, khiến lớp trẻ chạy theo ngành nào có "hào quang" nhiều nhất. Dĩ nhiên, làm một pháp sư thuyết giảng vẫn là ước mơ đẹp nhất, nhưng hoạt động của Giáo hội không chỉ có thế, mà đa dạng hơn, cần tới nhiều ngành liên quan, tại sao ta không chọn ngành phù hợp để phục vụ hiệu quả hơn ? Làm một chuyên gia thiết kế giỏi vẫn được khen hơn làm một giảng sư yếu. Chúng ta nên tập có cái nhìn "bình đẳng" một chút, trân trọng mọi nỗ lực dù ở bất cứ ngành nào, như thế lớp trẻ mới mạnh dạn đi theo sở trường của mình. Ngày xưa, sở dĩ xã hội quá coi trọng giảng sư bởi người được đi học rất ít. Ngày nay, và trong tương lai, đội ngũ giảng sư sẽ rất nhiều, nếu đào tạo không có kế hoạch, qui hoạch, biết đâu lại bị thừa, trong khi chuyên viên cho các ngành khác lại thiếu trầm trọng. Ngoài đời, đang có hiện tượng "thừa thầy-thiếu thợ" cũng do định kiến xã hội và quy hoạch thiếu cân đối. Sinh viên đại học ra trường tìm không ra việc, còn các công ty lại săn tìm chuyên gia kỹ thuật, săn tìm thợ bậc cao, trả lương rất hậu. Phật giáo chưa đến nỗi như thế, nhưng quy hoạch là vừa để 5, 10 năm sau chúng ta mới có đội ngũ chuyên viên đa dạng.

Yếu tố thứ ba là học hoài, không chịu làm. Có nhiều lý do. Có thể vì các địa phương chưa mở rộng vòng tay đón nhận lớp trẻ, nên lớp trẻ "thất nghiệp", lại trở lên thành phố học để "chờ thời". Có thể vì lớp trẻ quá say mê kiến thức, thấy môn nào ngành nào cũng hay, không học thì tiếc. Tất nhiên, "ngũ minh" vẫn cần, mọi thứ đều bổ sung cho nhau, rất ích lợi. Nhưng bể học mênh mông, biết bao giờ mới đủ , mà tuổi trẻ qua đi thì năng lực phục vụ cũng giảm bớt. Chi bằng học kết hợp với hành, thì kiến thức ấy mới được củng cố và sống động hơn, ngày càng được bổ sung, phát triển. Trong khi làm việc, vẫn có thể tiếp tục học qua "ông thầy" rất tốt là sách vở. Thực tế, những người có thái độ tự học tích cực, tự học bền bỉ ngày này qua ngày khác , đã nạp được một dung lượng kiến thức còn lớn hơn đi vào trường hợp mà nôn nóng, ôm đồm. Một dạng khác, không cần quá nhiều môn mà môn nào cũng như cỡi ngựa xem hoa, chỉ cần một môn cho thật giỏi vẫn hơn . 

Sau cùng, và cũng là quan trọng nhất, học đừng quên tu. Học cũng là tu nếu chú tâm, đạo hạnh. Còn nếu lo học mà buông lung những phẩm chất của người xuất gia thì cái học ấy không được thiện cảm của người chung quanh. Một trong những lý do khiến Phật tử ít ủng hộ việc học của Tăng Ni là bởi nhìn vào thấy cái học không làm cho người tu tốt hơn, thôi thà ở chùa lo tụng kinh cho rồi. Con sâu làm rầu nồi canh chăng ? Nhưng hãy cảnh giác. Và khi đã học xong rồi, vẫn không thể nghĩ rằng kiến thức là nổi trội. Nhiều vị tôn túc học xong đã nhập thất tĩnh tu để nâng cao "đạo lực" rồi mới ra làm Phật sự. Ðó cũng là một trong những cách hỗ trợ cho kiến thức. Hay nói đúng hơn, đạo lực tu hành mới là cái nền vững chắc để kiến thức phát huy công dụng của nó. Thiếu sức tu, thì có học giỏi mấy cũng thiếu sự thuyết phục. Hình như lớp trẻ chúng ta đang quá hăng hái chạy theo kiến thức mà bỏ quên điều này. Có thể rực rỡ ở giai đoạn đầu, nhưng rồi sự nghiệp không được bền cho lắm.

Tất cả đều xuất phát từ thực tế, xin cùng nhau thẳng thắn trình bày, với thành tâm mong sao những vị ngồi ghế nhà trường hôm nay đều sẽ trở thành những Tăng tài cho đất nước, tu-học song hành.
 (Tuần-báo Giác Ngộ)

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap