Hiện
nay, việc học tập của Tăng Ni rất được coi trọng, bởi
ai cũng nhận thức được rằng đạo Phật là đạo "Duy tuệ
thị nghiệp", không thể chấp nhận việc "tu mù". Ðồng thời,
chúng ta đang sống trong một thời đại khoa học phát triển,
do đó cũng không thể quá cách ly xã hội, quá lạc hậu, làm
sao tiếp cận với chúng sanh đầy kiến thức, kiến giải,
để mà hoằng pháp. Cho nên, cả học nội điển lẫn ngoại
điển đều là những yêu cầu chính đáng, đặc biệt với
lớp Tăng Ni trẻ sẽ là những người đứng ra làm Phật sự
trong tương lai.
Ðầu
tiên là có một động cơ đúng đắn. Người đi học phải
thật tâm nghĩ rằng học để đường tu sáng suốt hơn và
để dẫn dắt chúng sanh cùng giải thoát. Chí nguyện mạnh
mẽ đó sẽ thúc đẩy Tăng Ni nỗ lực vượt qua khó khăn,
đi đến cùng, thậm chí quyết học thật giỏi, học hết
sức mình chứ không thả trôi, an phận. Chúng tôi nói như
thế bởi thực tế đã có một số vị đi học với những
tư tưởng khác hẳn. Có người không ham học nhưng thấy huynh
đệ có bằng này bằng nọ được chung quanh nể trọng thì
lòng bỗng "xôn xao", muốn kiếm một chút "chứng chỉ" cho…
bằng chị bằng em !. Cái bản ngã trở thành động cơ. Có
người học là để né tránh công tác ở chùa Thầy Tổ, có
khi ở nông thôn phải làm vườn, làm ruộng, hoặc né tránh
cảnh heo hút buồn bã ở vùng sâu vùng xa. Học kiểu này thường
không có mục đích rõ ràng, cứ đăng ký hết lớp này đến
lớp khác miễn lấp đầy thời gian. Dẫu có giấu giếm cỡ
nào thì lâu ngày những động cơ như thế vẫn lộ hình, mọi
người vẫn nhìn ra và không ủng hộ.
Thứ
hai, nên học theo đúng sở trường của mình. Học nội điển
là dĩ nhiên bắt buộc. Nhưng nếu đi sâu vào chuyên ngành
thì cũng phải chú ý đến sở trường. Có người cứ nhất
quyết học khóa giảng sư dù khả năng ăn nói chỉ "tạm tạm"
trong lúc viết chữ Hán rất đẹp mà lại bỏ qua. Thay vì
chọn lớp nghiên cứu Hán Nôm hoặc lớp thư pháp, có lẽ
hiệu quả hơn, có người tán tụng rất hay, tại sao không
nghiên cứu về nhạc lễ Phật giáo như Giáo sư Trần Văn
Khê đã thử nghiên cứu một phần. Về ngoại điển, lại
càng phải chọn lựa kỹ hơn vì quá nhiều ngành, nhiều môn.
Hiện nay, xu hướng chung là học ngoại ngữ vì nghĩ nó rất
cần để "hội nhập". Nhưng có người học mấy năm không
lấy nổi bằng A Anh văn, chán, quay sang Hoa văn, cũng trầy
trật, cuối cùng bỏ dở. Mà thực tế, vị đó rất giỏi
trang trí, sao không dự một lớp mỹ thuật ứng dụng để
sau này điều hành việc thiết kế lễ đài ? Hoặc giỏi kiến
trúc thì đi học đại học kiến trúc để xây chùa cho đẹp.
(Hàng trăm ngôi chùa đã bị "làm mới" một cách vô tội vạ,
không hề có kiến thức về thẩm mỹ Phật giáo, phá vỡ
truyền thống văn hóa lâu đời của dân tộc. Cứ tưởng
đem bê tông sắt thép bồi bổ vào là xong, biết đâu rằng
chúng ta đã làm mất đi nét đẹp kiến trúc rất đặc trưng
của ngôi chùa). Hoặc có người giỏi về điện tử sao không
học môn đó để giúp cho tự viện của mình khỏi lúng túng
mỗi lần lễ lạc, đám tiệc… Chúng tôi đã chứng kiến
nhiều vị có sẵn năng khiếu trời cho mà không hề biết
phát huy, cứ bị động chạy theo bên ngoài. Thấy người ta
ùn ùn đi học báo chí (ừ, thì nghe mấy chữ "phóng viên báo
chí" cũng oai !) nên lật đật ghi danh, thực tế viết văn
câu cú lủng củng, sai chính tả quá nhiều. Thấy bạn bè
rủ học ngành y, cũng nhắm mắt đi theo, dù tính tình ít kiên
nhẫn, tỉ mỉ. Những dạng học ấy, dăm ba tháng là nản,
hoặc bị đánh rớt vì quá yếu, thật phí thời gian và tiền
bạc.
Ở
đây, không chỉ là trách nhiệm của mỗi người, mà còn có
trách nhiệm của Thầy Tổ, huynh đệ. Lẽ ra cần sâu sát
tâm tính và bản chất của "con" mình, "anh em" mình mà đưa
ra lời cố vấn thích hợp. Hình như chúng ta vẫn còn để
mặc cho lớp trẻ tự bươn chải với ngưỡng cửa cuộc đời,
ngỡ ngàng, phân vân trước muôn nẻo đường học vấn và
định hướng "nghề nghiệp". Và chúng ta còn quá định kiến,
thiên lệch về các ngành, khiến lớp trẻ chạy theo ngành
nào có "hào quang" nhiều nhất. Dĩ nhiên, làm một pháp sư
thuyết giảng vẫn là ước mơ đẹp nhất, nhưng hoạt động
của Giáo hội không chỉ có thế, mà đa dạng hơn, cần tới
nhiều ngành liên quan, tại sao ta không chọn ngành phù hợp
để phục vụ hiệu quả hơn ? Làm một chuyên gia thiết kế
giỏi vẫn được khen hơn làm một giảng sư yếu. Chúng ta
nên tập có cái nhìn "bình đẳng" một chút, trân trọng mọi
nỗ lực dù ở bất cứ ngành nào, như thế lớp trẻ mới
mạnh dạn đi theo sở trường của mình. Ngày xưa, sở dĩ
xã hội quá coi trọng giảng sư bởi
người được đi học
rất ít. Ngày nay, và trong tương lai, đội ngũ giảng sư sẽ
rất nhiều, nếu đào tạo không có kế hoạch, qui hoạch,
biết đâu lại bị thừa, trong khi chuyên viên cho các ngành
khác lại thiếu trầm trọng. Ngoài đời, đang có hiện tượng
"thừa thầy-thiếu thợ" cũng do định kiến xã hội và quy
hoạch thiếu cân đối. Sinh viên đại học ra trường tìm
không ra việc, còn các công ty lại săn tìm chuyên gia kỹ thuật,
săn tìm thợ bậc cao, trả lương rất hậu. Phật giáo chưa
đến nỗi như thế, nhưng quy hoạch là vừa để 5, 10 năm
sau chúng ta mới có đội ngũ chuyên viên đa dạng.
Yếu
tố thứ ba là học hoài, không chịu làm. Có nhiều lý do.
Có thể vì các địa phương chưa mở rộng vòng tay đón nhận
lớp trẻ, nên lớp trẻ "thất nghiệp", lại trở lên thành
phố học để "chờ thời". Có thể vì lớp trẻ quá say mê
kiến thức, thấy môn nào ngành nào cũng hay, không học thì
tiếc. Tất nhiên, "ngũ minh" vẫn cần, mọi thứ đều bổ
sung cho nhau, rất ích lợi. Nhưng bể học mênh mông, biết
bao giờ mới đủ , mà tuổi trẻ qua đi thì năng lực phục
vụ cũng giảm bớt. Chi bằng học kết hợp với hành, thì
kiến thức ấy mới được củng cố và sống động hơn,
ngày càng được bổ sung, phát triển. Trong khi làm việc, vẫn
có thể tiếp tục học qua "ông thầy" rất tốt là sách vở.
Thực tế, những người có thái độ tự học tích cực, tự
học bền bỉ ngày này qua ngày khác , đã nạp được một
dung lượng kiến thức còn lớn hơn đi vào trường hợp mà
nôn nóng, ôm đồm. Một dạng khác, không cần quá nhiều môn
mà môn nào cũng như cỡi ngựa xem hoa, chỉ cần một môn cho
thật giỏi vẫn hơn .
Sau
cùng, và cũng là quan trọng nhất, học đừng quên tu. Học
cũng là tu nếu chú tâm, đạo hạnh. Còn nếu lo học mà buông
lung những phẩm chất của người xuất gia thì cái học ấy
không được thiện cảm của người chung quanh. Một trong những
lý do khiến Phật tử ít ủng hộ việc học của Tăng Ni là
bởi nhìn vào thấy cái học không làm cho người tu tốt hơn,
thôi thà ở chùa lo tụng kinh cho rồi. Con sâu làm rầu nồi
canh chăng ? Nhưng hãy cảnh giác. Và khi đã học xong rồi,
vẫn không thể nghĩ rằng kiến thức là nổi trội. Nhiều
vị tôn túc học xong đã nhập thất tĩnh tu để nâng cao "đạo
lực" rồi mới ra làm Phật sự. Ðó cũng là một trong những
cách hỗ trợ cho kiến thức. Hay nói đúng hơn, đạo lực
tu hành mới là cái nền vững chắc để kiến thức phát huy
công dụng của nó. Thiếu sức tu, thì có học giỏi mấy cũng
thiếu sự thuyết phục. Hình như lớp trẻ chúng ta đang quá
hăng hái chạy theo kiến thức mà bỏ quên điều này. Có thể
rực rỡ ở giai đoạn đầu, nhưng rồi sự nghiệp không được
bền cho lắm.
Tất
cả đều xuất phát từ thực tế, xin cùng nhau thẳng thắn
trình bày, với thành tâm mong sao những vị ngồi ghế nhà
trường hôm nay đều sẽ trở thành những Tăng tài cho đất
nước, tu-học song hành.
(Tuần-báo
Giác Ngộ)
