Chương
8
Thỉnh
thoảng tôi có đến thăm Hayakawa. Mỗi khi gặp nhau chúng tôi
thường hỏi: ”Chị đã tìm được vị thầy nào chưa?”
Trong một khóa tu tại chùa Chuoji, tôi có nghe vài người nhắc
đến tên thiền sư Suga Sama tại tỉnh Chitose và nói rằng
đó là một vị thầy cự phách. Tôi bèn kể cho Hayakawa nghe,
bà có vẻ thích lắm nhưng vốn cẩn thận, bà bảo tôi:”
Chị hãy để tôi đến đó trước xem thế nào. Lời đồn
đãi nhiều khi không đúng sự thật đâu. Nếu quả là một
vị chân tu đạo hạnh, chúng ta sẽ cùng đến đó cầu đạo”.
Hôm sau Hayakawa thu xếp đi Chitose ngay. Khi trở về, bà đến
tìm tôi và nói vắn tắt: ”Vị thầy đó rất giỏi, tôi
đã xin phép gặp ngài vào tuần sau, chúng ta sẽ cùng đi với
nhau”. Tôi biết Hayakawa là người cẩn thận, có nhận xét
thâm trầm. Một khi bà đã nói vậy chắc chắn thiền sư Suga
Sama phải là một người đặc biệt hiếm có.
Chitoji
là một ngôi chùa khá lớn, chánh điện trần thiết giản
dị nhưng nghiêm trang. Thiền sư Suga Sama dáng người cao lớn,
trông có vẻ lạnh lùng khắc khổ hơn những vị tăng mà tôi
đã gặp. Vừa nghe Hayakawa giới thiệu, ông đã nói ngay: ”Tôi
nghe nói bà nghiên cứu rất nhiều về Phật học?” Tôi ngượng
ngập vì kiến thức hạn hẹp của mình nên chỉ ấp úng nói
vài câu lấy lệ nhưng thiền sư Suga Sama đã nói: ”Học nhiều
mà không biết áp dụng chỉ là một mớ kiến thức suông,
không ích lợi gì cho việc giải thoát hết”. Mặc dù đó
chỉ là một câu nói bình thường nhưng không hiểu sao tôi
cảm thấy nó có một sức mạnh vô cùng. Dường như ông đã
đánh trúng vào tâm lý đang hoang mang của tôi nên tôi không
thể chịu được nữa, bao nhiều nghi ngờ bất mãn trong lòng
tôi trào ra như suối. Bỏ qua các dè dặt thường lệ, tôi
kể lại việc theo học với giáo sư Shibata như thế nào và
những khó khăn tôi gặp phải sau khi ông này qua đời. Thiền
sư Suga Sama im lặng nghe tôi nói rồi đặt câu hỏi:
-
Bà đã tọa thiền bao giờ chưa?
-
Thưa có. Con đã từng tọa thiền tại chùa Chuoji và đã tham
dự khóa nhiếp tâm tại Zuiganji với thiền sư Joten.
-
Thiền sư Joten dạy những gì?
-
Con được dạy phải tham công án Vô.
-
Bà đã kinh nghiệm được gì khi tham công án đó?
Đây
là lần đầu tiên có người hỏi tôi về những kinh nghiệm
khi tu thiền, tôi bèn kể lại công phu tu tập suốt mấy năm
và nói rõ về kinh nghiệm lạ kỳ mà tôi đã trải qua khi
còn ở trên núi Hokkaido. Tôi cũng kể thêm việc xin đặc tham
và sự im lặng, không trả lời một cách bí hiểm của thiền
sư Joten. Thiền sư Suga Sama lập tức nói ngay:
-
Thiền sư Joten đã từ bi chỉ dẫn như thế mà bà vẫn không
hiểu ư? Nếu không có sự im lặng sấm sét đó thì giờ này
bà đâu được như thế này.
Câu
nói bất ngờ của thiền sư Suga Sama làm tôi giật mình và
chớm lên hy vọng. Phải chăng hoàn cảnh của tôi không đến
nỗi bi đát như tôi nghĩ? Thiền sư Suga Sama nói tiếp:
-
Bà hãy lập tức đến tu viện Mitaka tại Tokyo xin nhập thất
tu trong thời gian một năm. Tôi sẽ viết thư giới thiệu.
Bà phải đi ngay, không nên chần chờ gì nữa.
Lời
nói của thiền sư Suga Sama như có một sức mạnh kỳ lạ,
vừa nghe xong tôi đã quyết định đi Tokyo nhập thất tu thiền
ngay. Có lẽ cũng cảm nhận được điều đó nên ông mỉm
cười có vẻ hài lòng. Lần đầu tiên tôi thấy một nụ
cười trên khuôn mặt khắc khổ của ông. Thiền sư Suga Sama
chỉ tay ra chính điện:
-
Bà hãy vào đó lạy Phật và đừng quên cám ơn lòng từ bi
của thiền sư Joten. Tôi sẽ thỉnh chuông cho bà.
Chúng
tôi bước vào chính điện làm lễ. Thiền sư Suga Sama đích
thân thỉnh ba hồi chuông. Sau khi lễ Phật xong, ông chỉ vào
một bức tranh bằng giấy treo trên vách bị thủng mấy lỗ,
ôn tồn nói:
-
Nhờ công phu tu tập, bà đã chọc thủng được bức màn vô
minh, ít ra cũng thủng được hai lỗ nhỏ như bức tranh kia,
dù chưa hoàn toàn, dù vẫn còn nông cạn nhưng ngộ vẫn là
ngộ.
Lời
nói của ông như luồng ánh sáng chiếu thẳng vào tâm thức
đen tuối, đầy hoang mang của tôi. Lạ lùng thay, tôi cảm
nhận được một sức mạnh kỳ lạ phi thường từ ông rót
qua tôi. Chưa bao giờ tôi cảm thấy thoải mái sung sướng
như lúc đó. Hình như tôi vừa tìm lại được một cái gì
quý báu nhất đời. Câu trả lời mà tôi tìm kiếm bao lâu
bỗng dưng được giải đáp một cách ngắn gọn và bất ngờ.
Trước đây tại chùa Chuoji, tôi đã kể về kinh nghiệm này
cho hai vị tăng nghe. Một người cười lớn và nói rằng tôi
đã “mê ngủ”, người kia nói rằng đó chỉ là một “cảm
hứng nhất thời” mà thôi. Có lẽ vì thế, tôi không bao
giờ muốn nói đến cái kinh nghiệm kia nữa. Thiền sư Suga
Sama nói:
-
Bà nên biết kỷ luật nhập thất tại Ni viện Mitaka rất
nghiêm khắc nhưng đã khổ công tu hành trong suốt mấy năm,
tôi nghĩ bà có thể chịu đựng được. Bà hãy đi ngay trước
khi thân thể của bà không chịu đựng nổi những kỷ luật
gay gắt này.
Hayakawa
vẫn im lặng từ trước đến nay nhưng đến lúc đó thì bà
vội vã can thiệp:
-
Thưa thầy, chị bạn tôi đã già yếu lắm rồi, tu nhập thất
với những kỷ luật khắt khe tôi sợ bạn tôi chịu không
nổi. Tại sao thầy không thâu nhận và hướng dẫn cho chị
ấy ngay tại đây có hơn không?
-
Ta rất bận, không thể thâu nhận đệ tử trong lúc này.
-
Nếu thế thì cứ để chị ấy ở lại đây, khi nào rảnh
rỗi thầy chỉ dẫn cho chị ấy cũng được.
-
Không được. Bà phải lên đường ngay trước khi nghiệp lực
đời trước của bà làm giảm đi lòng nhiệt thành cầu đạo.
Bà nên biết đây là cơ hội cuối cùng.
Tôi
cương quyết nói ngay:
-
Xin cám ơn lòng từ bi chỉ dẫn của thầy, con xin đi ngay.
Quay
qua Hayakawa, tôi khẩn khoản:
-
Xin cám ơn lòng tốt của chị nhưng ý tôi đã quyết rồi.
Hayakawa
rưng rưng nước mắt nhìn tôi nhưng tôi biết chị đang mừng
cho tôi.
Tôi
trở về Toyohiro-cho thu xếp hành trang để lên đường ngay.
Tôi cho đi tất cả mọi vật sở hữu, chỉ giữ lại ba chiếc
áo. Trước khi lên đường, tôi trở về làng cũ để thăm
mộ song thân. Được tin tôi sẽ xuất gia nhập thất trong
một tu viện tại Tokyo, gia đình tôi phản đối kịch liệt.
Đứa con rể nói: ”Mẹ đã lớn tuổi rồi, không thể mạo
hiểm như thế được. Không ai ở tuổi đó mà xuất gia tu
hành nữa. Tu như vậy thì được lợi ích gì? Bây giờ mẹ
đã có cháu, đã trở thành bà ngoại rồi mà sao không hành
động như người đã có tuổi?” Đứa con gái vốn ít nói
cũng can ngăn: ”Mẹ già rồi, đã chịu đựng cực nhọc cả
đời rồi, bây giờ là lúc mẹ nên ở nhà tĩnh dưỡng cho
con cháu báo hiếu”. Tôi cảm động trước tấm lòng hiếu
thảo của đứa con mà tôi không hề nuôi nấng chăm sóc. Hai
cháu ngoại cũng chạy đến ôm chầm lấy tôi, không muốn
để cho tôi ra đi. Trước tình cảm gia đình, tôi cũng mủi
lòng nhưng lại nghĩ: ” Đời người nhanh như bóng câu qua
cửa, ta chưa tìm được con đường giải thoát thì một phút
chưa đại ngộ là một phút phí phạm. Ta không thể lưu luyến
nơi đây được”. Chiều hôm đó chúng tôi mang hương hoa
phẩm vật ra lễ trước mộ song thân của tôi. Đứng trước
hai nấm mộ, tôi đã khóc hết nước mắt. Tôi biết mình
là một đứa con bất hiếu, một người mẹ không ra gì, một
bà ngoại chẳng bao giờ biết đến các cháu nhưng làm sao
được khi tâm tôi không hề yên ổn, lúc nào cũng bị dằn
vặt bởi khổ đau.
Sau
cùng tôi gạt nước mắt khuyên hai con: ”Thời gian rất quý,
một phút giây ngắn ngủi cũng là một chút mạng sống rồi
cho nên mẹ không thể lãng phí thời gian được. Mẹ không
muốn chờ đến ngày mai khi chân tay đã mỏi, mắt mờ, tai
điếc không tu hành được nữa. Có lẽ vì kiếp trước mẹ
không chịu tu hành nên kiếp này mới gặp khó khăn trở ngại
như vậy, nhưng nay mẹ đã gặp được cơ hội thì phải bắt
lấy ngay. Cả đời mẹ chỉ chờ đến cơ hội này. Nếu các
con thương mẹ, hiểu mẹ thì hãy vui vẻ để cho mẹ ra đi”.
Trước
khi rời khỏi làng, một người bạn cũ rất giỏi về khoa
tử vi bói toán đã đến gặp tôi, cảnh cáo: ”Số chị năm
nay gặp nhiều tai họa lớn, có thể thiệt mạng. Chị hãy
đợi đến năm sau đi cũng không muộn”. Tôi cương quyết
trả lời: ”Cám ơn bạn đã khuyên nhưng tôi đã chờ cơ
hội này từ bao nhiêu năm nay rồi. Một phút chờ đợi là
một phút khổ đau, xin hãy cho tôi ra đi một cách thoải mái”.
Một cô đồng (Miko) khi xưa đã học hỏi về Thần Đạo với
tôi cũng khuyên: ”Tôi được chư thần cho biết chuyến đi
này của chị dữ nhiều lành ít, chị hãy xét lại”. Tôi
trả lời: ”Tôi không còn bao nhiêu thời giờ nữa mà cơ
hội chỉ đến một lần thôi. Xin hãy để cho tôi nắm bắt
lấy cơ hội cuối cùng này. Dù chết tôi cũng cam lòng”.
Tôi
rời Hokkaido vào ngày 2 tháng 6 năm 1955. Khi đó tôi vừa được
59 tuổi.
Ngồi
trên xe lửa đi Tokyo, tôi đã suy nghĩ rất nhiều về quyết
định xin xuất gia của mình. Đây là một vấn đề mà tôi
và Hayakawa đã bàn cãi rất nhiều lần trước đó. Theo tôi,
muốn tiến bộ trên con đường tu, người ta phải từ bỏ
gia đình để vào chùa, giữ gìn giới luật, xả thân tu hành
để cầu giải thoát. Hayakawa lại cho rằng việc xuất gia
không cần thiết vì một người tu tại gia vẫn có thể giải
thoát được. Tôi cho rằng nếu không có một nhóm người
cùng nhau khuyến tu, hỗ trợ tinh thần trong một môi trường
thuận tiện, người tu một mình dễ bị lung lạc, cám dỗ,
khó tiến bộ, và có thể lầm lạc vào các con đường tà.
Kinh nghiệm bản thân tự mình cầu đạo suốt mấy chục năm
nay đã dạy tôi như thế. Hayakawa cho rằng người ta không
thể tìm đến một môi trường thuận tiện, cùng một số
người xa lìa thế gian để tĩnh tu mà phải biết tu trong mọi
hoàn cảnh. Bà chủ trương người ta không thể lìa bỏ xã
hội vì mọi chúng sinh đều có liên hệ mật thiết với nhau,
không thể tách rời ra được, do đó theo bà con đường đứng
đắn nhất là phải đem đạo vào đời, không lìa xa thế
gian mà phải tìm giải thoát ngay trong thế gian này. Chúng tôi
đã bàn cãi nhiều lần về việc này, có lần chúng tôi đã
phải hỏi giáo sư Shibata nhưng ông này chỉ cười và nói
rằng không có con đường nào là tuyệt đối, mỗi cá nhân
có một nghiệp quả riêng biệt, và mỗi người phải tự
tìm lấy cho mình một con đường thích hợp. Nghe vậy, tôi
nhất quyết chọn con đường xuất gia. Theo tôi nếu không
thành công trong kiếp sống này, ít ra tôi đã gieo trồng một
hạt giống tu hành, nhờ thế những kiếp sau tôi có thể tiếp
tục con đường tu học cho đến khi giải thoát được.
Tôi
đến Tokyo vào một ngày hè, trời nóng như thiêu đốt. Chuyến
hành trình dài làm tôi vô cùng mệt mỏi, chỉ mong được
nghỉ ngơi và tắm rửa cho mát. Từ nhà ga xe lửa, tôi phải
đi bộ dưới cái nắng như nung nấu đó một lúc mới đến
tu viện Mikata. Đây là một ni viện nổi tiếng về kỷ luật
và cách sống kham khổ, đạm bạc. Không như các tu viện khác
sống bằng sự yểm trợ của Phật tử, các ni sư tại đây
đã sống tự túc bằng cách trồng trọt rau trái, đan rổ,
dệt chiếu theo đúng tinh thần cần lao của tổ Bách Trượng
khi xưa. Điều không ngờ là tôi đến Mikata nhằm vào mùa
an cư kiết hạ, trước cửa tu viện có gắn một yết thị
yêu cầu mọi người đừng làm rộn các ni sư trong thời gian
tu tập này. Tôi ngần ngại đứng trước cánh cửa bằng gỗ
dầy không biết có nên vào hay không. Sau cùng tôi tự nhủ
dù sao đã mất công đến đây, không lẽ lại quay về nên
tôi mạnh dạn đẩy cửa bước vào. Qua mảnh sân nhỏ trồng
rất nhiều hoa, tôi đi đến nhà bếp và gặp một ni sư già
đang nấu ăn. Tôi xuất trình lá thư giới thiệu của thiền
sư Suga-sama và giải thích lý do cuộc viếng thăm của mình.
Bà ni sư già mời tôi dùng trà và nói:
-
Tôi biết bà đã trải qua một hành trình dài từ Hokkaido đến
đây nhưng bà không thể gặp ni sư trưởng được. Trong mùa
an cư, chúng tôi không tiếp xúc với người ngoài, hơn nữa
lúc này ni trưởng đang tọa thiền, không thể làm rộn ngài
được.
-
Như vậy ni trưởng tọa thiền trong bao lâu?
-
Có khi một ngày, có khi lâu hơn thế.
-
Liệu tôi có thể chờ đợi đến khi ni trưởng hoàn tất
thời khóa thiền được không?
-
Không được, lúc khác bà hãy trở lại.
Tôi
cố gắng năn nỉ bà này cho phép tôi tạm trú tại đây ít
hôm nhưng bà lễ phép từ chối:
-
Tôi chỉ là người làm bếp, không thể quyết định gì được.
Kỷ luật tu viện rất nghiêm, không ai được phép tá túc
nơi đây nếu không có lệnh của vị ni trưởng. Ngay như thiền
sư Suga-sama có đích thân đến đây cũng phải xin phép trước
chứ không thể đường đột mà đến như vậy được, xin
bà hiểu cho.
Một
lần nữa tôi cảm thấy niềm hy vọng đang chan chứa bỗng
tắt ngúm. Tại sao mỗi lần tôi sắp đạt được điều gì
lại có những trở ngại như vậy? Phải chăng đây là một
thử thách? Tôi nghiến răng quyết định dù gặp khó khăn
thế nào cũng nhất định không bỏ cuộc. Tôi cố gắng năn
nỉ:
-
Thưa bà, tôi chẳng quen ai ở Tokyo cả. Tôi đến đây chỉ
với mục đích duy nhất là được xuất gia đầu Phật và
nhập thất tu thiền.
Bà
ni già tỏ vẻ thương hại, sau một lúc suy nghĩ bà nói:
-
Thôi được rồi, nếu bà đã nói thế thì tôi sẽ thưa lại
với ni trưởng sau khi bà hoàn tất công phu thiền quán. Nếu
ni trưởng bằng lòng tiếp bà thì mời bà trở lại sau vậy.
-
Nhưng tôi không quen ai ở Tokyo cả, xin bà cho tôi tạm trú
qua đêm nay.
-
Không được. Nếu không có phép, tôi không thể cho bà tạm
trú tại đây. Không lẽ bà không quen biết một người nào
ở đây hay sao?
Ngay
lúc đó, tôi chợt nhớ đến một vị tăng tên Minamikawa, xuất
thân từ Tokyo, thường hay đến giảng dạy các khóa thiền
tại chùa Chuoji.
-
Tôi có quen một vị tăng tên là Minamikawa.
-
Tưởng ai chứ Đại đức Minamikawa thì chúng tôi biết. Vị
này tu tại chùa Taiheiji, cách đây không xa. Bà có thể đến
đó xin tá túc qua đêm được.
Biết
không thể năn nỉ gì thêm, tôi đành xách khăn gói theo lời
chỉ dẫn của ni sư kia tìm đến Taiheiji. Một lần nữa tôi
phải đi bộ dưới cái nắng gay gắt của mùa hè suốt mấy
giờ liền mới đến được Taiheiji. Khi đến đây thì quần
áo tôi ướt đẫm mồ hôi, tôi phải cố gắng lắm mới trình
bày được hoàn cảnh của mình. Một lần nữa, tôi lại thất
vọng. Vị tri khách tại đây cho biết Đại đức Minamikawa
đã đi hoằng pháp tại chùa Ryukyu phải mấy tuần lễ nữa
mới về. Tôi lặng người không biết phải nói gì. Dĩ nhiên
tôi có thể tìm một xó nào đó ngủ tạm qua đêm nhưng trải
qua chuyến hành trình dài, tôi thấy trong người vô cùng mệt
mỏi, cần một mái nhà che chở. Tôi đang ngập ngừng lúng
túng thì một vị sư già ở đâu bước vào. Vị tri khách
tăng liền giới thiệu tôi với vị này:
-
Đây là vị trụ trì chùa Taiheiji, Thiền sư Yasutani.
Đó
là một ông lão có khuôn mặt gầy ốm, hai gò má rất cao
và đầy những vết nhăn. Ông im lặng nghe vị tri khách tăng
trình bày hoàn cảnh của tôi rồi ôn tồn nói ngay:
-
Tội nghiệp quá! Bà đi từ xa đến đây chắc mệt mỏi lắm
rồi, bà hãy tạm trú tại đây qua đêm nay đã. Để tôi thu
xếp phòng riêng cho bà.
Tôi
mừng rỡ đến chảy nước mắt và không biết phải nói gì
hơn ngoài mấy câu cám ơn tầm thường. Không như những vị
trụ trì khác có thể sai người dọn phòng cho tôi, Thiền
sư Yasutani đích thân đưa tôi đến tận phòng riêng. Ông còn
thân hành mang cho tôi một tấm nệm ngủ nữa. Tôi cảm động
trước cử chỉ thân ái, giản dị của vị sư già này. Hôm
sau tôi trở lại Mikata nhưng người ta cho biết ni trưởng
vẫn còn tọa thiền chưa xong nên tôi đành trở về Taiheiji
kể lại mọi sự cho Thiền sư Yasutani. Ông này ôn tồn nói:
-
Bà cứ tự nhiên tạm trú tại đây thêm ít hôm nữa cho đến
khi nào ni trưởng tu viện Mikata hoàn tất thời khóa công phu.
Từ nay bà khỏi mất công qua lại bên đó nữa, để tôi cho
người nhắn với họ rằng bà hiện tạm trú tại đây, khi
nào ni trưởng có thể tiếp bà thì bà hãy qua đó gặp họ
sau.
Tôi
hết sức cảm động trước thịnh tình của Thiền sư Yasutani.
Trong thời gian tạm trú tại đây, tôi ra sức làm công quả,
quét dọn lau chùi quanh chùa cẩn thận để báo đáp tấm lòng
tử tế của các sư sãi nơi đây.
Vài
hôm sau, một ni sư từ Mikata đến gặp tôi vào cho biết ni
trưởng đã hoàn tất thời khóa thiền và sẵn sàng tiếp
tôi. Tôi mừng rỡ theo vị nay trở lại Mikata. Vị ni trưởng
là một người lớn tuổi, mặt đầy những vết nhăn và đặc
biệt có một cặp mắt rất sáng. Bà nói:
-
Tôi đã đọc kỹ lá thư giới thiệu của Thiền sư Suga-sama
và đã suy nghĩ kỹ về trường hợp của bà. Theo ý tôi thì
có lẽ giải pháp tốt nhất là bà hãy tìm một nơi nào đó
tại Tokyo rồi hàng tuần đến đây tu học.
Tôi
thất vọng kêu lớn:
-
Thưa ni sư, con đến đây với mục đích xin xuất gia tu học.
Việc sống với một gia đình nào đó rồi hàng ngày
đến chùa tu học không phải là điều con muốn.
-
Như vậy ý bà muốn xin được xuất gia?
-
Thưa đúng như vậy. Hoàn cảnh của con không cho phép con tu
hành một cách nửa chừng được nữa. Xin ni trưởng cho phép
con được xuất gia thọ giới và nhập thất…
Vị
ni trưởng nhìn tôi một lúc rồi nhẹ nhàng:
-
Nhưng ít ra phải có một người nào đó bảo đàm cho bà kia
chứ.
-
Bảo đảm gì nữa, con tự bảo đảm cho mình là được rồi.
-
Nhưng nếu bà đau yếu hay bệnh tật thì sao?
-
Không sao đâu, con khỏe lắm, chẳng bao giờ đau yếu cả.
-
Nhưng ốm đau đâu phải điều người ta có thể tránh được.
-
Xin ni truởng đừng quá quan tâm, đến khi đó hẵng hay.
-
Không được, nếu bà đau ốm sẽ làm phiền những người
chung quanh. Ai sẽ săn sóc lo lắng cho sức khỏe của bà đây?
-
Thưa ni truởng, con biết thế nhưng xin ni trưởng mở lòng
từ bi.
-
Chúng tôi rất tiếc, ni viện tại đây có luật chỉ nhận
những người từ hai mươi đến ba mươi tuổi thôi. Bà đã
vượt quá số tuổi ấn định rồi.
Tôi
có cảm tưởng như bị sét đánh ngang tai. Có thể như vậy
hay sao? Có lý nào người ta lại không nhận tôi? Tôi cố gắng
nói nhưng cổ họng cứ nghẹn lại không sao nói được. Vị
ni trưởng tiếp tục:
-
Kỷ luật tại đây rất gắt gao, các ni sư tại đây đều
sống tự túc bằng cách làm việc lao động. Họ đan rổ,
dệt chiếu, trồng trọt cây trái, do đó sức khỏe là điều
rất quan trọng. Tu viện này chỉ nhận những người còn trẻ
mà thôi.
-
Nhưng… nhưng không lẽ nào không đổi luật được sao?
-
Không được. Chúng tôi không thể vi phạm luật lệ đã đặt
ra được.
-
Thưa ni trưởng, nếu bà không cho phép con xuất gia thì ít
ra cũng cho phép con được sống tại đây.
-
Không được. Bà chỉ có thể đến đây trong những thời
khóa tu tập mà thôi.
-
Như thế thì ít quá, con muốn xin nhập thất.
-
Không được. Việc nhập thất chỉ dành cho những người
đã được chọn lựa cẩn thận, những người đã dày công
tu hành trong nhiều năm tại đây. Phần bà là người mới,
lại chưa xuất gia thọ giới, ta không thể cho phép bà nhập
thất được.
-
Nhưng ni sư không cho phép con xuất gia thì làm sao con có thể
nhập thất?
-
Chúng tôi rất tiếc nhưng hiện nay tuổi bà đã cao, sức khỏe
của bà đã suy giảm nhiều nên chúng tôi không thể thâu nhận
bà được.
Tôi
trở về Taiheiji với một tâm trạng buồn chán thất vọng
hơn bao giờ hết. Một lần nữa tôi lại thất bại trong việc
tìm lối thoát cho mình. Có lẽ nghiệp của tôi quá nặng,
mỗi lần muốn tu là một lần gặp trở ngại. Con đường
đạo vẫn còn là một cái gì xa vời, không thể đạt được
và tôi trở lại tâm trạng bơ vơ lạc lõng như hôm nào. Thiền
sư Yasutani yên lặng nghe tôi trình bày rồi ôn tồn hỏi:
-
Bây giờ bà định làm gì?
-
Thưa thầy, có lẽ tôi đành phải trở lại Hokkaido vậy.
Lúc
đó tôi chỉ có ý nghĩ duy nhất là trở về Hokkaido tìm đến
Thiền sư Suga-sama xin thụ giáo mà thôi. Tôi biết Thiền sư
Suga-sama rất bận và không có ý định thâu nhận đệ tử
nhưng tôi không còn giải pháp nào khác. Ông là cái phao duy
nhất mà tôi có thể bám víu được trong lúc này mà thôi.
Thiền sư Yasutani quan sát tôi một lúc rồi nhẹ nhàng nói:
-
Nhưng bà đã mất bao công phu đến đây để xin xuất gia.
Tôi
nghẹn ngào như muốn khóc:
-
Thưa vâng, nhưng con không may mắn…
Thiền
sư Yasutani nhìn tôi một lúc rồi thong thả nói:
-
Cửa chùa lúc nào cũng rộng mở, nếu bà đã nhất quyết
thì ta có thể thu xếp cho bà xuất gia tu học tại đây được.
Tôi
rất cảm động trước câu nói của Thiền sư Yasutani nhưng
lúc đó vì đầu óc vẫn còn xúc động bởi những chuyện
vừa xảy ra nên tôi không thể quyết định ngay. Tôi xin ông
hãy cho tôi vài hôm để suy nghĩ đã. Thật ra lý do chính làm
tôi bối rối vì lúc trước tôi đã hứa với Thiền sư Suga-sama
sẽ xin tu nhập thất tại Mikata, nếu không được thu nhận
ít ra tôi cũng phải báo tin cho ông này biết rồi xin ông chỉ
dẫn cho. Thiền sư Yasutani ôn tồn:
-
Được lắm, bà cứ thong thả suy nghĩ. Nếu muốn thọ giới
xuất gia tại đây, ta có thể thu xếp cho bà được. Còn như
bà muốn trở về Hokkaido cũng không sao.
Tôi
tiếp tục sống tại Taiheiji trong vài hôm cho qua cơn xúc động.
Ngày nào tôi cũng lên chánh điện cầu nguyện, xám hối và
cầu mong chư Phật hướng dẫn cho tôi. Cuối tuần đó sau
khóa lễ phổ thông, có một buổi thuyết pháp của Thiền
sư Yasutani. Ông đã nói:
-
Sau khi chứng ngộ dưới cội bồ đề, đức Phật Thích Ca
đã thốt lên: “ Thật kỳ diệu thay, tất cả chúng sanh đều
có Phật tánh nhưng vì bị vô minh che lấp nên họ không nhận
ra điều ấy”. Lời tuyên bố đầu tiên của đức Phật
chính là tinh yếu của toàn bộ giáo lý của ngài. Đúng như
thế, mọi chúng sinh, dù nam hay nữ, dù thông minh hay khờ dại,
dù đẹp đẽ hay xấu xa, dù khỏe mạnh hay yếu đau cũng đều
có Phật tánh như nhau. Trải qua bao nhiêu kiếp sống luân hồi,
tâm thức của chúng sinh đã bị những lớp vỏ cứng của
vô minh bao phủ nên họ không thể nhận thức được cái Phật
tánh toàn vẹn, trong sạch, hoàn hảo kia nữa. Muốn giải thoát
ta phải quay về với cái Phật tánh đó để thấy rõ rằng
lâu nay chúng ta đã để cho vô minh lôi cuốn mà không hề
hay biết.
Phương
pháp hữu hiệu nhất để trở về với cái Phật tánh thanh
tịnh đó là tọa thiền. Lịch sử Phật giáo đã chứng minh
một cách hùng hồn rằng từ đức Phật đến các đệ tử
của ngài, đều giác ngộ từ công phu tọa thiền. Tâm của
Phật và tâm của chúng sinh thật ra không hề khác nhau. Cái
tâm này có thể ví như mặt nước hồ, tâm của Phật thì
như mặt nước yên tĩnh, trên đó mặt trăng chân lý có thể
phản chiếu một cách toàn vẹn. Trong khi tâm của chúng sinh
thì giống như mặt nước đang bị các làn sống vô minh quấy
động, không thể phản chiếu gì được. Mặt trăng chân lý
lúc nào cũng chiếu sáng, do đó vấn đề chính của sự tu
tập là làm sao để tâm của mình có thể phản chiếu rõ
ràng mặt trăng chân lý mà thôi.
Bây
giờ quí vị nên tự hỏi cái gì đã làm khuấy động tâm
của quí vị? Phải chăng đó là các tư tưởng? Trong việc
tu tập, việc đầu tiên quí vị phải làm là bặt các tư
tưởng lúc nào cũng dấy lên này. Đây là điều không dễ
vì trải qua bao nhiêu kiếp sống một cách vô ý thức, vọng
niệm đã thành một thói quen không dễ gì mà bỏ ngay được.
Quí vị nên nhớ, tất cả mọi tư tưởng, dù thanh cao hay
xấu xa, đều có khởi đầu và có chấm dứt. Vì có sinh nên
có diệt nhưng vì nó cứ tiếp tục nổi lên nên quí vị tưởng
rằng nó thường hằng, đó là sai lầm đầu tiên. Nếu những
tư tưởng này tiếp tục khuấy động tâm của quí vị, quí
vị sẽ không thể phân biệt cái thật với cái hư được.
Con người đã đánh giá cao các tư tưởng trừu tượng, các
phân biệt của lý trí, của lý luận, nhưng tất cả những
cái này đều là sản phẩm của tư tưởng, mà đã là sản
phẩm của tư tưởng vốn vô thường, có sinh có diệt thì
gốc rễ của nó đã nằm ở chốn vô minh rồi. Tư tưởng
chính là tâm bệnh của con người. Nó chính là nguồn gốc
của sự mê hoặc và quí vị cần phải phân biệt thật rõ
vai trò của tư tưởng, lý trí vốn có tính cách nhất thời
với các khái niệm cố định.
Thiền
định là phương pháp làm ngưng lại và dứt đi những tư
tưởng này. Một khi các làn sóng tư tưởng khuấy động đó
dứt tuyệt thì quí vị sẽ nhận thấy rằng mặt trăng chân
lý lúc nào cũng chiếu sáng. Giây phút nhận ra điều này là
kiến tánh, tức là ngộ, là hiểu rõ được bản thể chân
thật của tự tánh. Khác với những ý niệm lý luận hay triết
học vốn xuất phát từ tư tưởng, nghĩa là có khởi đầu
và có chấm dứt, và có thể thay đổi theo thời gian. Sự
chứng ngộ chân lý khi các làn sóng tư tưởng chấm dứt này
không thay đổi hay có thể mất đi được. Nó sẽ ở mãi
mãi với quí vị, và từ đó quí vị có thể sống một cách
thoải mái, bình an trong cái tâm trạng đầy phúc lạc, thanh
thản đó…
Sau
buổi thuyết pháp, tôi tìm gặp Thiền sư Ysautani để trình
bày hoàn cảnh của mính. Cho đến lúc đó tôi mới kể cho
ông nghe về công phu tu học của tôi cũng như các kinh nghiệm
tâm linh mà tôi đạt được:
-
Thưa thầy, lúc nãy thầy nói rằng một khi đã kiến tánh
thì cái kinh nghiệm đó sẽ không mất đi.
-
Đúng như thế.
-
Nhưng trường hợp chứng ngộ của con lại khác. Thiền sư
Suga-sama nói rằng con đã chọc thủng được bức màn vô minh,
dù chỉ được một hai lỗ rất nhỏ.
-
Nếu bà có thể sống mãi trong tâm trạng đó thì đó là kiến
tánh, còn nó đến trong một phút nhất thời rồi lại mất
đi thì đó chỉ là một thứ mà ta gọi là Ma cảnh (Makyo),
không có gì đáng nói cả. Đừng nên để ý đến nó và cũng
đừng quan trọng hóa nó lên.
Tôi
giật mình, mồ hôi toát ra đầy áo. Chưa bao giờ tôi thấy
trong người lại chấn động mãnh liệt như vậy. Sau một
lúc định thần, tôi lên tiếng:
-
Xin thầy từ bi chỉ dẫn thêm cho con về Ma cảnh.
Thiền
sư Yasutani mỉm cười:
-
Ma cảnh là những hiện tượng không có thật, những cảm
giác hư huyễn, những ảo tưởng mà người tu thiền thường
gặp phải trong giai đoạn nào đó. Ma cảnh là những vọng
tưởng đến và đi theo thời gian nhưng nó sẽ trở thành “chướng”
khi người tu, vì thiếu sự chỉ dẫn, để nó quyến rũ và
tưởng rằng nó là thật. Ma cảnh thường xuất hiện tùy
theo nhân cách, tính khí của người tu. Trong kinh Lăng Nghiêm,
đức Phật đã giảng rõ về năm mươi hai loài Ma cảnh khác
nhau, nếu muốn bà nên nghiên cứu kinh này. Trong các tuần
lễ nhiếp tâm, thường thường học trò của tôi bắt đầu
kinh nghiệm về ma cảnh vào ngày thứ ba hay thứ tư. Sau khi
siêng năng tu tập để kiềm chế tư tưởng, đến một lúc
nào đó Ma cảnh sẽ xuất hiện và điều này rất thông thường,
không có gì lạ đâu. Có người nhìn thấy các hiện tượng
lạ lùng, có người nghe được những lời nói hay mách bảo,
xui khiến, có người còn ngửi được các mùi hương hay có
thể sờ mó được một vật gì kỳ lạ. Có khi họ thấy
thân thể họ nhẹ bổng lên như bay, có khi họ cảm thấy
như rơi vào một hố thẳm không đáy, có khi họ bật ra các
câu nói kỳ lạ mà không thể kiếm soát được. Đôi khi những
câu nói tưởng như vô tình này lại trở nên linh nghiệm như
những lời tiên tri. Nhưng dù thế nào chăng nữa, nó vẫn
là Ma cảnh, vẫn là những chướng ngại, vẫn xuất phát từ
các tư tưởng nghĩa là gốc rễ của nó nằm trong vô minh.
Trong
trường hợp của bà, đó là một ma cảnh về thị giác, bà
đã kinh nghiệm được những điều kỳ lạ, nhìn thấy những
quang cảnh với màu sắc lạ lùng, có thể nó xuất phát từ
trong tiềm thức do những hình ảnh ký ức ghi nhận được
khi bà tu theo Thần đạo. Ảo ảnh về thị giác là điều
thường xảy ra nhiều nhất vì mắt là giác quan gắn liền
với tư tưởng và người ta sử dụng giác quan này nhiều
hơn cả. Một cái nệm ghế bỗng biến thành một con quái
vật. Một vết nứt trên tường biến thành con rắn. Nhiều
đệ tử của tôi đã thấy hình ảnh ma quỷ nhe nanh múa vuốt
hoặc thấy các đức Phật hiện ra với hằng hà sa số đệ
tử đi quanh ngài. Điều quan trọng nhất phải ý thức đó
là Ma cảnh, đừng để nó quyến rũ, lôi cuốn mà cứ để
tự nhiên vì nó đến thì nó sẽ đi. Đừng để tâm vọng
động, cứ tiếp tục công phu thiền tập, không sợ hãi, không
vui mừng, vì vui hay sợ, lo hay mừng đều là những cảm giác
làm khuấy động tâm thức của người tu. Như tôi đã nói,
vấn đề quan trọng là làm bặt mọi tư tưởng, làm sao để
tâm trống rỗng, yên tĩnh như mặt nước hồ thu thì ánh trăng
của chân lý mới có thể phản chiếu một cách toàn vẹn
được. Bất cứ một cái gì làm cản trở điều này đều
là những chướng ngại do đó điều quan trọng nhất là phải
biết tự chủ.
-
Nhưng lý do nào đã làm cho ma cảnh xuất hiện?
-
Ma cảnh là những trạng thái tâm thức xuất hiện một cách
nhất thời trong khi khả năng tập trung của con người đã
đạt đến một mức độ nào đó. Nếu hiểu theo một nghĩa
khác thì công phu thực hành có tiến bộ, các lớp tư tưởng
hời hợt trong tâm thức có bị chế ngự thì Ma cảnh mới
xuất hiện. Nếu giải thích theo Duy Thức học thì khi các
vọng niệm thuộc thức thứ sáu đã lắng đọng, các chủng
tử tâm thức chứa đựng trong thức thứ bảy và thứ tám
sẽ bị khích động và nổi lên, tạo ra các hình ảnh, màu
sắc, âm thanh đặc biệt. Ma cảnh là một sự trộn lẫn của
cái thực và cái không thực, hư hư ảo ảo. Nó khác các giấc
mộng thông thường vì nó xuất phát từ những chủng tư hết
sức vi tế nằm rất sâu trong tâm thức con người. Một số
người tu, thiếu sự chỉ dẫn của một vị thầy đã có
kinh nghiệm về Ma cảnh, thường bị chúng quyến rũ và đi
lạc vào ma đạo. Đừng bao giờ nghĩ rằng các hiện tượng
mình kinh nghiệm được trong lúc này là thật. Thấy một cảnh
giới chư thiên không có nghĩa là mình đã đạt được cảnh
giới đó, đã trở thành một chư thiên. Thấy Phật hay Bồ
tát không có nghĩa là mình đã nhập được vào các Pháp hội,
nghe Phật thuyết pháp mà lầm lẫn. Một người tu tập phải
biết coi đó là một giấc mộng, là hư, là vọng tưởng,
là những chướng ngại làm cản trở công phu tu hành. Dù thấy
bất cứ điều tốt lành gì cũng đừng phấn khởi, dù thấy
điều gì xấu xa cũng đừng sợ hãi vì nếu trong tâm nảy
sinh bất cứ một cảm giác gì, nó cũng khuấy động mặt
nước hồ tâm, cản trở sự phản chiếu toàn vẹn của ánh
trăng chân lý.
Khi
tu tập đến mức thuần thục, các Ma cảnh còn xảy ra ghê
gớm hơn nữa. Có khi người tu thấy vào cõi Phật, thấy được
ban phúc, được truyền những mặc khải rồi tưởng mình
đã chứng đắc này nọ. Tất cả những cái đó đều là
Ma cảnh. Nếu bị quyến rũ, nếu để tâm vọng động thì
kết quả chỉ là sự phung phí năng lực mà thôi. Nhưng nói
một cách khác, khi bắt đầu thấy những Ma cảnh thì đó
là dấu hiệu cho biết mình đã đến một mốc điểm quan
trọng nào đó rồi, và nếu giữ tâm yên tĩnh, không bị xao
động thì chắc chắn sẽ thành công, sẽ kiến tánh, sẽ giác
ngộ. Bà không nhớ đức Phật cũng đã trải qua bao nhiêu
thử thách, bao nhiêu khó khăn, trước khi thành đạo dưới
gốc bồ đề hay sao? Người ta có thể cho rằng có những
Thiên Ma hiện ra quấy quá, thử thách ngài nhưng cũng có thể
đó là những Ma cảnh mà ngài kinh nghiệm trước khi đạt
đến trạng thái giác ngộ. Dù thế nào chăng nữa, phải biết
coi thường những hiện tượng này, cứ để nó đến rồi
nó đi, không phản ứng, không chống đối, không vui cũng không
buồn, không mừng cũng không lo, thản nhiên bất động trước
mọi sự kiện, đó chính là điểm then chốt của người tu
thiền.
Từ
trước đến nay tôi đã nghe nhiều người giảng về thiền
nhưng chưa bao giờ tôi thấy ai giải thích giản dị và rõ
rệt như vậy. Hiển nhiên đây không phải là lý thuyết mà
là kinh nghiệm thâm sâu của một bậc thầy đã từng trải.
Tuy cố gắng ngồi yên nhưng thực ra toàn thân tôi đã chấn
động mãnh liệt, bao thắc mắc nghi ngờ của tôi từ trước
dường như đều được giải đáp cả. Thiền sư Yasutani thong
thả giải thích thêm:
-
Theo kinh nghiệm của tôi, Ma cảnh thường xảy ra khi sự điều
hành của hơi thở và tâm thức chưa được hoàn chỉnh. Khi
tâm và thân chưa hoàn toàn nhất như thì sự sai lệch này
có thể tạo ra những hiện tượng kỳ lạ, do đó tư thế
tọa thiền và việc điều hòa hơi thở rất cần thiết. Người
ta không thể tu thiền một cách hấp tấp mà phải chú trọng
đến cách ngồi (thiền tọa) cho thật đúng cách, thật thoải
mái, và buông xả hoàn toàn.
Bà
nên nhớ thân và tâm là một, bất cứ một sự căng thẳng
nào của thân cũng ảnh hưởng đến tâm, và bất cứ một
sự xung đột nào của tâm cũng ảnh hưởng đến thân. Việc
ngồi thoáng nghe thấy giản dị nhưng thật ra quan trọng không
kém việc điều hòa hơi thở. Phần lớn các vị thầy dạy
thiền thường quá chú trọng đến việc đếm hơi thở hay
tham công án mà xao lãng việc dạy học trò phải ngồi sao
cho thật đúng cách. Phần đông các học trò cũng quá nôn
nóng hập tấp vào những công án lạ lùng, các quán tưởng
cao xa trong khi chưa biết cách ngồi sao cho thoải mái. Có lẽ
đó là lý do nhiều người tu thiền đã bỏ cuộc vì ngồi
lâu, chân tay tê buốt đau đớn mà chẳng thấy kết quả gì
khả quan. Tư thế trong lúc tọa thiền chính là một trong những
căn bản quan trọng của công phu tu tập. Đừng tưởng chỉ
ngồi xếp bằng, điều hòa hơi thở và tập trung tâm thức
là được. Đừng tưởng chỉ tham công án hay quán tưởng
vào các hình ảnh, màu sắc là đủ. Một người tu thiền
phải biết ngồi một cách trang nghiêm, thành kính với lòng
biết ơn sâu xa chư Phật và chư Tổ, những người đã làm
cho Phật pháp biểu hiện. Một người tu thiền còn phải biết
ơn tổ tiên, cha mẹ đã tạo ra thân thể, hình hài này nhờ
đó người tu mới có thể kinh nghiệm được thực tánh của
Pháp. Chính nhờ biết cách ngồi một cách trang nghiêm mà tâm
thức sẽ trở nên thành kính, rồi từ đó cử chỉ hành động
như đi, đứng, ăn, ngủ cũng ảnh hưởng theo mà có sự chuyển
hóa. Nhờ công phu tu thiền mà tâm thức được thoải mái,
các vọng tưởng dần dần lắng xuống, và tâm được thanh
tịnh. Khi tâm và thân đã quân bình thì sự an lạc sẽ đến,
và chỉ trong sự an lạc này người tu mới kinh nghiệm rõ
rệt được từng hơi thở sống động, mầu nhiệm từng phút
giây. Từ đó sự hô hấp, vốn có tính cách vô thức và thụ
động, sẽ chuyển qua ý thức và tích cực, và toàn bộ diễn
biến của sự sống sẽ biểu hiện ra một cách rõ ràng hơn
bao giờ hết.
Tóm
lại, việc ngồi cho đúng cách là căn bản chính yếu, cần
thiết cho những người mới bước vào con đường thiền.
Đừng cố gắng ngồi cứng ngắc như khúc gỗ, vừa không
tự nhiên, vừa quá căng thẳng nhưng cũng đừng ngồi một
cách cẩu thả, nặng nề, trì trệ như bị một vật gì đè
nặng lên vai. Tư thế ngồi phải thật thoải mái, vững chãi
do đó khi mới tập chỉ nên ngồi khoảng mười lăm phút cho
quen thuộc, cho gân cốt co giãn tự nhiên theo tư thế, rồi
dần dần tăng lên nửa giờ rồi một giờ. Dĩ nhiên thời
gian tọa thiền lâu hay mau tùy lòng nhiệt thành và công phu
hành trì nhưng khi người ta có thể ngồi khoảng từ nửa
giờ đến một giờ mà thân thể không đau đớn, tê buốt
thì cảm giác an lạc, thoải mái sẽ đến một cách tự nhiên.
-
Thưa thầy, con có thể ngồi lâu không mỏi mệt nhưng sao vẫn
không thấy có kết quả bao nhiêu?
-
Phải chăng khi ngồi thiền bà đã cố gắng để đạt đến
giác ngộ? Cái lòng mong cầu, ao ước đó chính là một chướng
ngại đã phá đi trạng thái ung dung tự tại cần thiết. Sự
mong cầu, dù mong cầu một sự bình an, giác ngộ, vẫn là
một vọng niệm làm khuấy động mặt nước hồ tâm thì làm
sao ánh trăng chân lý có thể phản chiếu một cách toàn vẹn
được?
Một
lần nữa tôi thấy tòan thân rung động mãnh liệt. Thiền
sư Yasutani đã vạch trần những lỗi lầm mà tôi mắc phải.
Tôi cố gắng biện bạch:
-
Nhưng dù sao con cũng đã phát triển được về định lực
(Joriki).
-
Phát triển về định lực không phải là mục đích tối hậu
của Phật giáo. Nó chỉ là một phương tiện, một trình độ
mà người ta có thể đạt được khi sự tập trung lên đến
mức nào đó. Có định mà thiếu tuệ thì làm sao có thể
kiến tánh được.
Câu
nói giản dị trên làm tôi giật nẩy người như bị điện
giật. Nó là câu trả lời mà tôi vẫn tìm kiếm trong bao lâu
nay. Thì ra thế! Tôi đã quá chú trọng đến công phu, đến
phương pháp, đến cách điều hòa hơi thở, và hài lòng với
những quyền năng của định lực mà quên lãng việc phát
triển trí tuệ, cái điều kiện tiên quyết của người học
Phật. Thiền sư Yasutani nói tiếp:
-
Người có định lực có thể phát triển được những năng
lực siêu nhiên hay thần thông nhưng dù đạt đến trạng thái
tuyệt đỉnh, người ta vẫn không thể cắt đứt được sự
kiềm chế của luân hồi sinh tử vì vẫn còn chịu sự chi
phối của nghiệp lực. Người có định tuy làm chủ được
thân tâm nhưng vẫn không thoát khỏi sự chi phối của khổ
não vì chưa nhận ra được tự tánh của mình. Có định phải
có tuệ đi kèm thì mới nhận ra tự tánh của mình được.
Đó chính là điều mà Tổ Huệ Năng đã nói:” Nào ngờ bản
tánh vốn tự đầy đủ, vốn tự thanh tịnh, vốn bất sinh
diệt”. Nếu đã nhận ra tự tánh thì thực chất của cái
kinh nghiệm đó sẽ không thể khác điều mà xưa kia chư Phật
hay chư tổ đã chứng đắc.
Kiến
tánh chính là sự phối hợp tự nhiên của định và tuệ.
Định là sức mạnh và tuệ là chất xúc tác để mở con
mắt Tâm. Thiếu trí tuệ, người ta chỉ có thể kinh nghiệm
được những cái gì hời hợt, nông cạn, chợt đến chợt
đi trong chốc lát và sau cùng chỉ là những kỷ niệm rời
rạc, chẳng giúp ích gì mà còn là những chướng ngại nếu
cứ mải bám víu vào đó.
Không
còn nghi ngờ gì nữa! Thiền sư Yasutani quả thật là vị thầy
mà tôi vẫn tìm kiếm từ bao lâu nay. Tự nhiên nước mắt
tôi trào ra như suối nhưng lần này tôi đã khóc vì vui mừng.
Tôi cung kính quỳ mọp xuống sàn đảnh lễ:
-
Bạch thầy, xin thầy mở lòng từ bi thu nhận con làm đệ
tử và hướng dẫn con trên đường tu học.
Thiền
sư Yasutani chắp tay đáp lễ:
-
Được lắm, ta sẽ thâu nhận con làm đệ tử.