Chương
2
Sau
khi chồng tôi bỏ đi, tôi tiếp tục sống với cha mẹ
tại Hokkaido. Hàng ngày tôi vừa nuôi con, vừa làm những công
việc đồng áng như cấy lúa, trồng rau, chăn nuôi gia súc.
Bên ngoài dường như không có chuyện gì nhưng trong tâm tôi
đã có nhiều thay đổi lớn. Khi xưa tôi là một người ích
kỷ, lạnh lùng, coi thường những giá trị đương thời thì
hiện nay tôi lại hoàn toàn tin rằng người ta không thể sống
mà không tuân theo những giá trị này được. Sự tin tưởng
rằng con người phải sống một cách thành thật (Makoto) với
những giá trị căn bản bắt nguồn từ Thần Đạo (Shinto)
là một truyền thống đã ăn sâu vào cách sống của người
dân đất Phù Tang. Thần Đạo quan niệm rằng mục đích của
đời người là làm sao biết cách sống thành thật với mình,
với người, và với ngoại cảnh hay thiên nhiên. Một khi đã
sống một cách trong sạch, quang minh chính đại và hợp đạo
nghĩa thì tất cả mọi ý nghĩ, hành động của mình đều
hòa hợp được với các thần linh trong thiên nhiên (Kami).
Sở dĩ con người đau khổ vì họ đã không biết cách sống
hòa thuận với những giá trị thiêng liêng bất di dịch này.
Từ đó tôi nghiệm rằng chính sự thương yêu chân thành của
cha tôi đã cảm hóa được tôi và bổn phận của tôi, sau
khi đã nghiệm được những điều này, là phải giúp đỡ
những người khác để họ biết cách sống hợp với đạo
nghĩa như vậy. Từ đó tôi thấy mình bắt đầu thay đổi
và đời sống trở nên có ý nghĩa hơn trước. Từ một con
người lạnh lùng, ích kỷ, tôi trở nên một con người có
ý tưởng phụng sự, giúp đỡ những người khác.
Hôm
đó tôi ra đồng làm việc, như thường lệ, tôi khởi công
làm từ lúc trời còn mờ sáng đến khi mặt trời đứng bóng
mới chịu ngừng tay nghỉ ngơi. Tôi vừa ngồi xuống bờ ruộng
thì bỗng thấy xây xẩm mặt mày và có cảm giác như đang
ở trong một trạng thái mê hoặc, xuất thần. Tôi nghe có
tiếng ai gọi bên tôi một cách cấp bách “Matsumo! Này Matsumo
hãy nhìn kìa!” Tự nhiên tôi thấy thửa ruộng trước mặt
bỗng biến thành một vườn dâu xanh ngắt với trăm ngàn bông
hoa nhỏ màu vàng đang nở rộ. Tôi ngạc nhiên dụi mắt nhìn
kỹ thì thấy bên dưới những tàu lá xanh mơn mởn và những
bông hoa vàng rực rỡ có hàng ngàn hàng vạn con sâu màu sắc
lạ lùng đang gậm nhấm, âm thanh sột soạt của muôn vạn
hàm răng đang ngấu nghiến lá dâu khiến tôi phát rợn cả
người. Tôi đang bàng hoàng thì một tiếng nói ở đâu đó
vang lên: “Con thấy không, thế giới loài người cũng đang
bị gậm nhấm như vậy đó”. Tôi cố gắng định thần để
tìm hiểu thêm về ý nghĩa câu nói trên thì tự nhiên vườn
dâu trước mặt tôi bỗng biến thành một khu rừng rậm rạp,
cây cối mọc chi chit. Có tiếng ai thúc giục:” Này Matsumo,
cái gốc rễ tội lỗi trên thế gian đã bị đốn sạch ở
thế giới bên này rồi. Con hãy tiếp tục công việc đó trên
thế gian”. Tự nhiên tôi đâm ra ngây ngất trước cái ý
tưởng lạ lùng đó. Tôi linh cảm rằng đó là tiếng nói
của các thần linh (Kami), hình như các ngài vừa truyền trao
cho tôi sứ mạng quét sạch mọi bất công, tội lỗi trên
thế gian này. Tôi không do dự, khẳng khái trả lời ngay: “Con
sẽ làm việc đó. Nếu gốc rễ của mọi tội lỗi đã bị
dọn sạch rồi thì chỉ cần dụng công một chút là xong chứ
gì”. Ngay lúc đó dường như có cái gì dội mạnh trong lồng
ngực khiến tôi tỉnh dậy. Phải chăng tôi đã ngủ mê? Tôi
bàng hoàng nhìn thửa ruộng trước mặt, nó vẫn không có
gì thay đổi, mấy gốc lúa non vừa trổ mầm, mấy rãnh nước
dẫn nước vào ruộng vừa được tôi khai thông. Tôi không
thể phân biệt rằng mình đang mê hay đang tỉnh. Mặc dù linh
ảnh lạ lùng đó đã qua nhưng nó để lại một ấn tượng
hết sức mãnh liệt trong trí tôi khiến tôi cứ ngây ngất
mãi.
Từ
đó trở đi tôi luôn luôn bị lôi cuốn vào những cơn mê
xuất thần như vậy. Có lúc tôi thấy mình như đang sống
trong một thế giới huyền bí lạ lùng, nửa như thực nửa
như mộng, và tôi có thể thấy trước được những điềm
chẳng lành sẽ xảy ra như những trận động đất, thiên
tai, hỏa hoạn, một bằng chứng rằng sẽ có những thay đổi
để quét sạch, tẩy uế mọi tội lỗi của thế gian này.
Trạng thái tinh thần của tôi càng ngày càng trở nên kỳ
lạ, tôi sống mà cứ như người bị mộng du, chập chờn
ở một nơi chốn nào đó không rõ rệt. Tuy nhiên không hiểu
sao tôi lại cảm thấy thích thú như được tham dự vào một
cuộc phiêu lưu mạo hiểm chi đó. Tôi tin rằng nhờ đã chuyển
hóa và biết phát tâm nên tôi đã được các đấng thần
linh lựa chọn với một sứ mạng quan trọng. Từ đó tôi
bị ám ảnh bởi ý nghĩa sẽ hoàn tất sứ mạng giúp đỡ
mọi người để họ có thể sống một cách chân thật cho
đúng với ý nghĩa của cuộc sống.
Một
hôm trong bữa cơm chiều, tôi thu hết can đảm ngỏ lời với
cha mẹ:
-
Xin cha mẹ cho phép con trở về Tokyo.
Cha
tôi ngừng đũa đưa mắt nhìn tôi một hồi lâu như dò xét
rồi lên tiếng:
-
Mày trở lại Tokyo để làm gì?
-
Con muốn tiếp tục việc học.
-
Đi học ư? Nhưng học cái gì mới được chứ?
-
Con không thể nói được.
Cha
tôi nhìn tôi ngờ vực, dĩ nhiên tôi không thể nói cho cha
tôi biết những ý nghĩ thầm kín của mình. May thay, mẹ tôi
lên tiếng:
-
Nó muốn về với chồng nó chứ còn gì nữa. Điều này cũng
dễ hiểu thôi…
Cha
tôi thở dài một tiếng não nuột rồi nói như than:
-
Thôi thế cũng được nhưng tao…
Sợ
cha tôi hiểu lầm, tôi vội vã cắt ngang:
-
Không phải đâu… không phải vậy đâu, con chỉ muốn cha
mẹ trông giùm hai đứa bé trong khi con đi Tokyo tíếp tục
việc học mà thôi.
Cha
tôi ngạc nhiên nhìn tôi một lúc rồi lắc đầu:
-
Không được, mày hãy mang một đứa theo. Mẹ mày không thể
trông hai đứa nhỏ một lúc được, hơn nữa đứa bé còn
đang bú mẹ kia mà…
Tôi
biết một khi đã quyết định, ít khi nào cha tôi đổi ý
cho nên tôi thu hết can đảm xin thêm một ân huệ nữa:
-
Nếu thế xin cha cho con hai trăm đồng làm vốn.
-
Làm gì nhiều thế? Ba chục là đủ lắm rồi.
Hôm
sau tôi lên đường trở lại Tokyo với đứa con gái nhỏ trên
lưng và ba chục bạc trong túi. Mặc dù chỉ có ba chục nhưng
vào lúc đó, nó có giá trị bằng cả ngàn bạc bây giờ vì
vé xe lửa từ Hokkaido đi Tokyo chỉ mất có 5 đồng thôi. Tôi
thuê một gác trọ ở ngoại ô thành phố và lập tức đi
kiếm việc làm. Lúc đó tình hình kinh tế đang phát triển,
các hãng xưởng mọc lên như nấm, nhân công đi làm rất nhiều
nên tôi tìm ngay được việc bán cháo rong trước cửa các
hãng xưởng. Đời sống vật chất tạm ổn định, tôi nghĩ
ngay đến việc ghi tên đi học lại. Nhờ có học bạ tốt,
tôi được nhận vào phân khoa triết ở Đại học Tokyo. Vì
không thể gởi con cho ai nên mỗi sáng sau khi cho con bú, tôi
đành để nó nằm trong nôi một mình rồi đi học. Khi trở
về, đứa bé khát sữa đã khóc khô cả cổ, thân thể ướt
sũng đồ phóng uế vì không có người thay tã lót. Tôi đau
lòng lắm nhưng không biết phải làm sao hơn nên ngày nào cũng
vừa ôm con vừa khóc: “ Thôi con hãy chịu đựng ít lâu để
chờ mẹ học, sau này mẹ sẽ đền bù cho con”. Vì vừa đi
làm vừa đi học nên sức khỏe của tôi sút giảm nhanh chóng,
sữa của tôi cũng vì thế mà cạn dần nên đứa bé đã đói
lại càng đói hơn, đêm nào nó cũng khóc rất lâu khiến tôi
không sao ngủ được. Có lẽ thế nên khi vào lớp tôi cũng
chẳng học được bao nhiêu mà thường hay ngủ gật trong giảng
đường.
Tình
trạng này kéo dài khoảng vài tháng thì gia đình bên chồng
tôi biết được. Họ điều tra ra hoàn cảnh của tôi và kéo
đến làm dữ. Cha tôi được bà chủ nhà trọ thông báo, vội
vã đến Tokyo ngay. Hôm cha tôi đến thì gia đình bên chồng
tôi cũng kéo đến gác trọ và một trận cãi vã kịch liệt
đã xảy ra. Gia đình bên chồng tôi gồm có bà mẹ chồng,
cô em chồng và chồng tôi trong khi bên tôi chỉ có cha tôi
và bà chủ nhà trọ. Mẹ chồng tôi là một người to lớn
đẫy đà, giọng nói oang oang như lệnh vỡ. Bà quen thói lấy
thịt đè người nên chỉ sau vài câu quát tháo, bà đã hung
hăng xông vào toan túm lấy tóc tôi hành hung. Cha tôi là người
trầm tĩnh nhưng quyết liệt. Ông đứng chận ở giữa không
để cho bà mẹ chồng tôi làm dữ và nhất định đòi đem
việc này ra trước pháp luật. Ông lý luận rằng chính chồng
tôi đã bỏ đi, không một lời từ biệt, không hề cấp dưỡng
cho hai đứa con, do đó phần lỗi hoàn toàn ở hắn. Cuộc
tranh luận kéo dài suốt buổi chiều hôm đó với đủ mọi
lý luận nhưng rốt cuộc không ai chịu nhường ai. Sau cùng
bà mẹ chống tôi đổi chiến thuật, bà ôm mặt khóc rưng
rức rồi chỉ vào đứa bé:
-
Này chị kia, chị có thương con chị không? Tại sao chị nỡ
để cho nó đói khát, khổ sở như vậy?
Tôi
nghẹn ngào không nói được lời nào. Cô em chồng thừa lúc
tôi đang chùi mặt, xông đến giằng phắt đứa bé ra khỏi
tay tôi trong khi bà mẹ chồng xỉa xói:
-
Chị là cái giống gì vậy? Chị là người hay thú mà để
cho con ruột của mình phải đói khát, bẩn thỉu như vậy?
Tôi
kêu thất thanh:
- Con
của tôi, tại sao mấy người cướp con của tôi…
Bà
mẹ chồng xông ra chận lối để cô em chồng ôm đứa bé
chạy ra đường:
-
Này chị kia, tuy nó là con của chị nhưng nó là cháu của
tôi. Chị không lo được cho nó thì để tôi lo cho cháu của
tôi.
Cả
gia đình kéo nhau ra cửa, tôi xông ra theo nhưng bị chồng tôi
cản lại khiến tôi ngã lăn ra đất. Cha tôi đứng yên không
phản ứng. Ông chờ gia đình bên chồng tôi kéo đi hết, rồi
ôn tồn khuyên:
-
Thôi đừng khóc nữa, thà để cho cha của nó lo cho nó còn
hơn để nó phải khổ sở đói khát như vậy.
Bà
chủ nhà trọ cũng đồng ý:
-
Ông cụ nói thế mà đúng đấy. Cô không thể vừa trông con
vừa đi học được đâu. Thôi thế cũng hay, từ nay cô tha
hồ tự do, không phải lo lắng gì nữa. Nói thật, nhiều lúc
tôi cũng xót thương hoàn cảnh của cô lắm, còn trẻ mà lại
đèo bồng con nhỏ thì làm sao thoải mái cho được!
Tôi
cảm thấy khó chịu trước lời khuyên của bà chủ nhà trọ
nhưng nhìn khuôn mặt hiền lành chất phác đầy lo âu của
cha tôi, tôi thấy ngực đau nhói. Tôi đã chẳng quyết tâm
báo hiếu, làm cho cha tôi vui lòng hay sao? Từ trước đến
nay tôi đã làm cho ông đau khổ nhiều rồi nên không muốn
ông phải quá lo lắng về tôi thêm nữa. Tôi cắn răng, cương
quyết:
-
Cha đừng quá lo cho con nữa, con quyết sẽ cố gắng học hành
để không phụ lòng cha mẹ. Cha cứ yên chí rồi mọi việc
sẽ tốt đẹp.
Hôm
sau cha tôi trở về Hokkaido sau khi đã dặn bà chủ nhà trọ
trông nom săn sóc cho tôi. Tuy nhiên khi cha tôi đi rồi thì tôi
không còn thiết tha một thứ gì nữa, chỉ nằm trên giường
khóc lóc vật vã. Cho đến lúc đó tôi mới biết mình đã
thương yêu đứa con như thế nào. Đứa bé mà tôi vẫn nghĩ
là một gánh nặng thật ra chính là động năng thúc đẩy
tôi tranh đấu để vượt qua mọi khó khăn. Chính vì nó mà
tôi quyết tâm vừa đi làm vừa đi học để vươn lên, nay
không có nó, tôi mất hết mọi sinh lực và lý do để sống.
Nhiều hôm tôi thấy mình lang thang ngoài phố như người mất
hồn, quanh quẩn từ con đường này sang đại lộ khác và
rồi cuối cùng dừng chân trước căn nhà của gia đình chồng
tôi ở khu Kanda. Tôi đứng rất lâu trước cửa nhà, lấm
lét như một tên trộm, và sợ hãi bỏ chạy mỗi khi có người
trong nhà đi ra nhưng hình như gia đình chồng tôi đã dọn
đi nơi khác vì không bao giờ tôi gặp một khuôn mặt quen
thuộc nào ở đó cả. Trong suốt mấy tháng liền tôi sống
trong sự đau khổ và tuyệt vọng cùng cực, mỗi khi nghe tiếng
trẻ con khóc là tôi lại giật mình nghĩ tới đứa con đang
thèm sữa mẹ. Tình trạng tinh thần tôi sa sút thảm hại,
càng ngày tôi càng như muốn rút vào thế giới riêng của
mình, một thế giới mơ hồ với những ảo ảnh kỳ lạ.
Một
ngày mùa đông tuyết phủ trắng xóa. Tôi nằm trên giường
cố dỗ giấc, đầu óc chập chờn trôi vào một thế giới
lạ lùng đầy hoa thơm cỏ lạ mà tôi chưa từng thấy. Tôi
đang hoang mang thì bỗng có tiếng kêu lớn “Matsumo, hãy cẩn
thận!” Tôi giật mình nhìn lên trần nhà và thấy hình như
có một lưỡi kiếm sắc đang treo lơ lửng, mũi nhọn của
thanh kiếm chĩa xuống nhằm ngay cổ họng tôi. Tôi kêu lên:
“Đúng rồi, người ta muốn giết tôi đây mà!” Không hiểu
sao tôi nghĩ rằng bà chủ nhà trọ đã toa rập với gia đình
bên chồng để giết tôi. Tôi lẩm bẩm: “Ta không thể ở
đây được nữa, tuy chúng mày muốn giết ta nhưng đâu phải
dễ, vì ta đã có các thần linh phù hộ cho ta rồi!” Tôi
khoác vội lên mình chiếc áo choàng mỏng rồi mở cửa sổ
leo ra ngoài. Căn gác của tôi ở tầng trên, sát với những
mái nhà kế cận nên chỉ một thoáng sau tôi đã đứng trên
mái nhà. Tôi nhủ thầm: “Ta phải thoát ra khỏi nơi đây,
càng xa càng tốt”. Không hiểu sao tôi có thể di chuyển từ
mái nhà này sang mái nhà khác một cách dễ dàng, toàn thân
tôi lướt đi một cách nhẹ nhõm. Đôi chân trần của tôi
dẫm trên tuyết lạnh mà không hề hấn gì cho đến khi tôi
thấy mình đứng trước một hồ nước lớn. Tôi thấy hình
như có một người đang trầm mình dưới nước thì phải,
tôi nghĩ đến thi sĩ Fujimura Misao (1886 – 1903), người đã
gieo mình xuống thác Kegon sau khi để lại một bài thơ bất
hủ với những câu như “Ôi đời sống, ta thật không thể
hiểu mi nổi”. Tôi gọi lớn: “Misao, có phải thi sĩ
Misao đó không?” Người đó không trả lời mà cứ lờ mở
khi ẩn khi hiện dưới nước. Như có một hấp lực gì lôi
cuốn, tôi vội lao mình xuống đó. Hình như có tiếng kêu
thất thanh ở đâu đó vọng lên nhưng tôi không còn biết
gì nữa, trước mặt tôi chỉ có nước và đó là thứ tôi
cần. Tôi vừa bước chân xuống nước thì hình như có ai
đó xông đến nắm chặt lấy áo tôi, tôi vùng vẫy khiến
chiếc áo choàng tuột ra, bên trong tôi chỉ mặc đồ lót nhưng
tôi không còn biết gì nữa mà vẫn tiếp tục xông tới hồ
nước. Có tiếng nhiều người kêu gào rồi một người mặc
y phục cảnh sát xông ra ôm chặt lấy tôi. Tôi vừa gào thét
vừa vùng vẫy nhưng hắn đã nhanh tay thoi cho tôi một cái
khiến tôi ngã lăn ra.
Khi
tỉnh dậy tôi thấy mình đang nằm trong một dưỡng trí viện.
Người ta để tôi trong một căn phòng riêng có những chấn
song sắt như để nhốt một con thú, hàng ngày có y sĩ đến
khám nghiệm nhưng tôi không thèm nói chuyện với họ. Nếu
có thì tôi cũng chẳng biết mình nói gì nữa vì tâm trạng
tôi lúc đó thật hoang mang, mơ hồ. Tôi tin rằng mình đã
bị bắt do những kẻ hung dữ đồng lõa với gia đình nhà
chồng tôi. Tất cả mọi người, từ y sĩ đến nhân viên
bệnh viện, đều là những kẻ ác độc và tôi đã chỉ tay
vào họ, nguyền rủa: “Chúng mày là những kẻ độc ác,
sẽ bị trời tru đất diệt, ta là người được các đấng
thần linh phù hộ, ta có nhiệm vụ cứu khổn phò nguy, giúp
đỡ kẻ hiền lành lương thiện, chúng mày không làm gì được
ta đâu!” Có khi tôi thách thức họ: “Có giỏi giết ta đi,
chúng bay không thể giết ta được đâu! Ta đã được các
đấng thần linh che chở, ta sẽ không bao giờ chết cả!”
Suốt thời gian đó tôi sống trong một thế giới với những
hình ảnh lạ lùng, có khi tôi thấy lửa cháy rực trời, tôi
đoán chắc các đấng thần linh đang trừng trị những kẻ
ác độc trong bệnh viên và tôi la lớn: “Thấy chưa, lửa
cháy kìa! Lửa cháy để đốt sạch những tên ác độc như
bọn bay! Xin cảm tạ các đấng thần linh. Xin đội ơn các
ngài, con nguyện tuân theo ý muốn của các ngài…” Mỗi khi
nhân viên đưa thức ăn vào phòng cho tôi thì tôi tru lên: “Thuốc
độc! Bọn bây toan giết ta bằng thuốc độc hay sao? Ta không
bao giờ thèm đụng tới những thứ đó đâu!”
Sau
một thời gian la hét giận dữ, cơn điên loạn lui dần và
tôi bước vào trạng thái chỉ ngồi yên không nói năng gì
nữa. Người ta chuyển tôi vào một căn phòng với những người
điên như tôi. Đó là một nhóm phụ nữ tuổi tác khác nhau,
kẻ già người trẻ nhưng ai nấy đều ngồi riêng một góc,
không ai nói với ai, đắm mình trong thế giới riêng của họ.
Thỉnh thoảng có người cười ha hả rồi khóc tấm tức,
có người lâu lâu lại tru lên một hồi như những con thú.
Lúc đầu tôi tin rằng những người này đều là những kẻ
lương thiện đã bị hãm hại như tôi nhưng dần dần tỉnh
táo hơn, tôi thấy những hành động như thế quả hết sức
lạ lùng. Tôi hỏi tuổi một bà lão trạc sáu mươi nhưng
bà cười the thé và nói rằng bà chưa đầy mười sáu tuổi.
Một người khác xưng mình là “Tề Thiên Đại Thánh” và
thường gây hấn với một người khác xưng là “Nam Hải
Quán Âm”. Theo thời gian, tôi ý thức rằng những người
này quả là không bình thường chút nào và tìm cách tránh
né họ. Tôi rút vào một góc phòng và cố gắng ôn lại mọi
sự nhưng không sao nhớ được một điều gì rõ rệt, ngoài
những mảnh vụn rời rạc. Vài tháng sau, nhờ hạnh kiểm
tốt, tôi được đưa qua một khu khác với những người tương
đối bình thường hơn. Chúng tôi được giao phó công việc
khâu những bao tải đựng đồ và được trả công bằng một
số tiền nhỏ, nhờ đó tôi có thể mua thêm một ít quần
áo, thức ăn và tôi bắt đầu cảm thấy thoải mái với đời
sống trong dưỡng trí viện này. Hàng ngày ngoài công việc
thường nhật, tôi còn tham dự vào ban văn nghệ của viện
để tập diễn kịch. Chúng tôi được hướng dẫn để trình
diễn các vở kịch phổ thông cho mọi người trong dưỡng
trí viện. Một người bảo:” Trước sau gì bạn cũng được
xuất viện vì hầu như ai gia nhập ban kịch cũng đều được
xuất viện sớm”. Tuy nhiên tôi không muốn xuất viện, vì
hơn lúc nào hết tôi cảm thấy thoải mái, không phải lo lắng
hay phiền muộn gì trong thế giới của những người bị bệnh
tâm thần này.
Đúng
vào lúc tôi cảm thấy thoải mái nhất thì một hôm người
ta gọi tôi lên văn phòng bác sĩ trưởng. Cha tôi đã đứng
đó tự lúc nào. Nhìn khuôn mặt chất phác hiền lành của
cha tôi mà tôi vô cùng xúc động. Quả thật tôi là một đứa
con bất hiếu, càng tự nhủ phải làm vui lòng cha mẹ bao nhiêu,
tôi càng làm cho cha mẹ tôi khổ sở bấy nhiêu. Không hiểu
sao càng muốn làm việc tốt, tôi lại càng lún sâu vào hố
thẳm của những việc bất như ý. Phải chăng tôi đã sai
lầm khi quyết định sẽ thay đổi tâm tính? Tại sao tôi lại
hành động như thế? Lời hứa với cha tôi khi xưa bỗng văng
vẳng bên tai, tôi nghẹn ngào khi thấy cha tôi van xin bác sĩ
viện trưởng cho phép tôi xuất viện. Ông kể rõ lý do đã
đưa tôi đến điên loạn. Bác sĩ gật đầu tỏ vẻ thông
cảm, ông xem xét hồ sơ của tôi cẩn thận và sau cùng chấp
thuận cho tôi được phép xuất viện. Mặc dù không muốn
rời môi trường thoải mái này nhưng tôi cũng riu ríu theo
cha tôi về nhà trọ. Dọc đường cha tôi hỏi:
-
Mày muốn làm gì bây giờ?
Hiển
nhiên tôi không còn tha thiết với việc học nữa, đầu óc
tôi trở nên mơ hồ, tôi không biết mình muốn gì hay phải
làm gì. Dĩ nhiên tôi không muốn trở về Hokkaido vì biết
mẹ tôi sẽ không chịu nổi khi nhìn thấy tôi trong tình trạng
thân tàn ma dại này. Tự nhiên tôi buột miệng:
-
Con không muốn về Hokkaido, xin cha cho phép con đến ở với
cậu Tetsumei.
Tetsumei
là em ruột mẹ tôi, đã xuất gia từ nhỏ, hiện đang trụ
trì một ngôi chủa ở ngoại ô thành phố Tokyo. Cha tôi gạt
đi:
-
Không được, mày không thể làm rộn việc thanh tu của Tetsumei
được. Tuy nhiên mày cũng không nên trở về Hokkaido, có lẽ
tao phải nhờ bà chủ nhà trọ trông nom cho mày ít lâu nữa.
Bà
chủ trọ sau một lúc suy nghĩ đã quyết định đưa tôi đến
gặp một thầy tướng để xem vận mạng tương lai của tôi
ra sao. Ông thầy sau khi quan sát khí sắc đầy u sầu, ủ dột
của tôi, tuyên bố:
-
Cô là người rất nhạy cảm, có thể đảm nhận nhiều vai
trò khác nhau. Theo ý tôi thì nếu cô trở thành một diễn
viên sân khấu, thủ các vai đào thương thì chắc chắn sẽ
thành công lớn.
Bà
chủ trọ đồng ý ngay:
-
Nếu không đi học thì cô phải kiếm một nghề nghiệp gì
đó để sinh nhai. Thầy tướng nói cô thích hợp với nghiệp
sân khấu thì còn đợi gì nữa mà không theo đuổi con đường
này.
Cha
tôi cũng đồng ý với bà chủ trợ vì theo ông, tôi cần phải
làm một thứ gì khác hơn là nằm nhà khóc lóc vật vã. Ông
sợ tôi nổi cơn điên trở lại và sẽ bị giam vĩnh viễn
trong dưỡng trí viện. Tôi cảm động trước tình thương
của ông nên tuy không thích lời đề nghị của bà chủ trọ
nhưng tôi cũng chấp nhận việc trở nên một diễn viên của
đoàn hát Kageki.
Kageki
là những đoàn hát rong chuyên diễn những vở kịch dựa theo
các điển tích phổ thông. Điểm đặc biệt của các đoàn
hát này là tất cả diễn viên đều thuộc phái nữ. Họ thủ
đủ mọi vai, cả nam lẫn nữ. Việc diễn xuất chỉ chú trọng
đến các động tác, cử chỉ giới hạn mà người ta có thể
được chỉ dạy nhanh chóng. Bà chủ nhà trọ đưa tôi đến
gặp bà bầu gánh hát Kageki trong vùng. Điều kiện thâu nhận
cũng dễ dàng, vì là một diễn viên tập sự, tôi chỉ được
ăn ngày hai bữa cơm chứ không thể đòi lương bổng hay điều
kiện gì khác.
Để
khuyến khích, bà chủ nhà trọ mua cho tôi một chiếc áo kimono
thật lộng lẫy và yêu cầu những diễn viên trong gánh hát
giúp tôi trang điểm. Cha tôi sung sướng nhìn tôi súng sính
trong bộ kimono mới tinh và được những nhân viên trong đoàn
thoa son dồi phấn cho. Bà chủ nhà trọ cười thích thú:
-
Thấy chưa! Có lẽ cả đời chưa bao giờ cô được mặc một
bộ áo đẹp như vậy. Rồi sẽ có bao nhiêu người say mê
cô cho mà xem.
Nghe
bà chủ nhà trọ nói, tôi lợm giọng muốn nôn nhưng nhìn
nét mặt rạng rỡ đầy hy vọng của cha tôi, tôi cố gắng
giữ bình tĩnh để ông vui lòng:
-
Xin cha hãy trở về, đừng quá lo cho con, rồi mọi việc sẽ
tốt đẹp.
Tôi
mong cha tôi giữ mãi hình ảnh thật đẹp ngày hôm đó vì
chỉ hôm sau khi đoàn hát khởi sự, tôi trở nên một nhân
viên quét dọn sân khấu và nấu ăn cho đoàn hát. Người ta
chỉ dạy tôi một vài động tác diễn xuất mỗi khi cần
có một vai phụ nào đó thôi. Sự thật thì đoàn hát nào
cũng có cả chục diễn viên phụ chờ đợi được thủ vai
chính, và những cô đào chính thì không bao giờ muốn ai thay
thế mình cả. Cơ hội trở nên một diễn viên nổi tiếng
rất khó khăn, chỉ trừ khi diễn viên chính bỏ gánh hát ra
đi hoặc già yếu, bệnh hoạn thì người ta mới cần người
thay thế. Tôi sống với gánh hát được hơn hai năm và từ
từ leo lên hàng diễn viên phụ, sau khi đã có những “lính
mới tò te” xung phong nhận lãnh nhiệm vụ quét dọn và nấu
ăn thay cho tôi. Tuy nhiên, việc diễn xuất không mang lại cho
tôi một hứng thú gì, cuộc sống trôi qua một cách vô cùng
tẻ nhạt. Một hôm tôi đem điều này nói với bà bầu gánh
hát:
-
Chúng ta khổ công tập luyện để trình diễn nhưng có ai thèm
để ý đến chúng ta đâu? Đa số khán giả chỉ vào xem để
mua vui chốc lát, có lợi ích gì cho cuộc đời đâu?
-
Sao mày ngu quá vậy? Đời sống sân khấu chỉ phản ánh xã
hội mà thôi, xã hội ra sao thì sân khấu như vậy. Mày lộn
xộn quá!
Tuy
nhiên nhà soạn kịch, ông chồng của bà bầu, hiểu được
thắc mắc của tôi nên đã khuyên:
-
Mỗi vở kịch đều có ý nghĩa riêng của nó. Nội dung vở
kịch có thể mang lại cho người xem một vài thích thú hay
giúp họ có cơ hội nhìn lại chính mình qua các vai trò trên
sân khấu. Một vở kịch phải có hậu, nghĩa là đề cao các
giá trị căn bản của đời sống, trung thắng nịnh, kẻ hiền
lương luôn luôn được che chở, và kẻ gian ác phải gặt
hái những hậu quả xấu xa. Tóm lại, kịch nghệ chính là
một cách cải tạo xã hội, giúp cho người xem có cơ hội
nhận định các giá trị của đời sống. Nếu chúng ta, những
diễn viên, có một lý tưởng thanh cao thì việc hành nghề
chính là một cơ hội để khán giả cảm nhận được những
điều ta muốn trình bày.
-
Nhưng với những người không đi xem kịch thì sao? Làm sao
ta có thể cảm hóa được họ?
Nhà
soạn kịch nổi giận:
-
Thì mặc kệ họ, chúng ta đâu có thể cứu vớt tất cả
được!
-
Nhưng tôi muốn giúp đỡ tất cả mọi người…
-
Sao mày ngu quá, lo lấy thân còn chưa xong mà cứ đòi làm những
việc lớn! Hãy lo trau dồi khả năng diễn xuất cho thật hay,
theo thời gian mày sẽ nổi tiếng, có tiền bạc và danh vọng
rồi thì muốn gì chẳng được.
-
Nhưng đó là ích kỷ cá nhân.
Bà
bầu bĩu môi xen vào:
-
Khi nào có danh vọng và tiến bạc rồi mày sẽ thấy, lúc
đó phỏng xem mày có còn đòi cải tạo xã hội hay giúp đỡ
cho ai nữa không!
Tôi
im lặng không trả lời. Bà bầu tiếp tục:
-
Đứa nào chẳng thế! Khi chưa nổi tiếng, chưa được khán
giả vỗ tay khen ngợi thì toàn đòi những chuyện vá biển
lấp trời, nhưng khi đã có danh vọng rồi thì ý nghĩ duy nhất
là làm sao giữ vững được cái danh vọng đó, làm sao để
hàng đêm vẫn được khán giả tiếp tục vỗ tay khen ngợi,
làm sao để nhan sắc không phai tàn, làm sao để giọng hát
vẫn quyến rũ… Rồi mày sẽ bắt đầu sợ, bắt đầu lo…
Tôi
im lặng, nước mắt ràn rụa. Cho đến lúc đó tôi mới ý
thức rõ rệt về cái nghiệp dĩ mà những người thuộc giới
diễn viên, tài tử phải gánh chịu. Tôi cố nuốt nước mắt
xuống mà không xong, cuối cùng tôi lắp bắp:
-
Nếu vậy thì đây không phải là con đường của tôi. Tôi
thà cứu một người chết đuối còn hơn là kéo dài cuộc
sống đầy lo âu, phiền muộn như vậy.