Nhớ
Nước Làm Sao Nở Nụ Cười, Cư Sĩ Nguyên Giác
Nhớ
Chùa Một Chữ "Thiện" Vô Bờ, Ngọc Thiên Hoa
Mgười
Đi Mây Trông Theo, Diệu Trân
Mái
Chùa Che Chở Hồn Dân Tộc, Trần Kiêm Đoàn
NHỚ NƯỚC
LÀM SAO NỞ NỤ CƯỜI
Cư
Sĩ Nguyên Giác
Thầy
Mãn Giác đã viên tịch. Khi những dòng chữ này được in
ra, tang lễ Thầy đã hòan tất. Nhưng các kỷ niệm về Thiền
Sư Thi Sĩ Huyền Không vẫn còn lưu lại trong lòng những người
từng có cơ duyên phùng ngộ với Thầy, và dấu ấn của các
công trình văn hóa do Nhà Sư Học Giả Thích Mãn Giác để
lại sẽ còn in sâu vào nền học thuật Phật Giáo nhiều thế
hệ sau.
Tôi
may mắn có một số kỷ niệm với thầy Mãn Giác. Bên này,
khi ở California, từ thời 1990 trở đi, tôi mới có cơ duyên
tiếp cận với Thầy. Còn như thời ở quê nhà trứơc 1975
thì cách nhau vời vợi, lúc đó Thầy đã là một cây cổ
thụ trong chốn tùng lâm Phật Học, còn tôi chỉ là một sinh
viên Đại Học Văn Khoa ngơ ngác, khù khờ, cứ nhìn Thầy
nào cũng hệt như các nhân vật huyền thoại bước ra từ
trang sách. Cầm sách Thầy học, ngẩng lên nghe Thầy giảng…
là vui rồi, dù thực sự không hiểu bao nhiêu. Và thực sự,
nhiều thập niên sau, tôi mới biết rằng lúc đó mình không
hiểu gì hết về Phật Học dù là phải học thuộc lòng biết
là bao nhiêu trang giấy.
Lúc
đó, Thầy Mãn Giác dạy ở Văn Khoa và đã là Phó Viện Trưởng
Đại Học Vạn Hạnh. Một đôi khi, tôi và mấy tên bạn rủ
nhau sang Vạn Hạnh chơi. Thường thì mấy tên đi vòng vòng
các tầng lầu Vạn Hạnh, rồi lại kéo nhau vào Thư Viện,
rồi lại rủ nhau vào quán cà phê kế sát bên hông trường,
nơi chúng tôi phì phèo thúôc lá…
Và
rồi kháo nhau, rằng kia là nhà thơ Bùi Giáng, hay rằng kia
là Thầy Tuệ Sỹ, hay nhắc rằng hỗi nãy, trên Thư Viện
nơi một góc là Sư Cô Thích Nữ Trí Hải. Rồi lại thắc
mắc, sao đi mấy vòng, suốt cả buổi trưa mà không thấy
Thầy Minh Châu đâu cả, hay là không rõ nhà thơ Phạm Công
Thiện còn trụ nơi đây không hay là đang ở bên trời Âu…
Rồi chúng tôi lại chúi đầu vào các trang dầy đặc chữ
của Tập San Tư Tưởng hầu hết là thứ ngôn ngữ bí hiểm,
thỉnh thỏang lại ngó ra con đừơng Trương Minh Giảng trứơc
mặt với khu chợ ồn ào bên kia đường, phía đối diện
Vạn Hạnh. Rồi lại nhíu mày, thắc mắc với nhau rằng tại
sao đại học Phật Giáo này phải xây đối diện với ngôi
chợ ồn ào kia, mà lại nằm ngay bên một dòng sông nứơc
đen. Có vẻ như chẳng phong thủy tí nào cả. Giữa những
khói mù thơ mộng của chữ nghĩa đó, hình ảnh Thầy Mãn
Giác chỉ đơn giản là bình dị, hiền lành, uyên bác, và
tất nhiên là cao vời vợi đối với bọn sinh viên mới lớn.
Chỉ
ra tới hải ngọai, tôi mới có dịp gần Thầy Mãn Giác. Lần
đầu lên Chùa Việt Nam Los Angeles thăm Thầy là năm 1990. Điều
nhận xét lớn nhất: Thầy Mãn Giác lúc nào cũng quan tâm về
quê nhà. Những quan tâm đó lúc nào cũng hiển hiện qua các
câu hỏi của Thầy về tình hình, về Phật Giáo, và qua cả
các trang tạp chí Phật Giáo Việt Nam mà anh Châu Thọ giúp
Thầy gánh vác.
Đêm
Thứ Ba 17-10-2006 vừa qua, lên Chùa Việt Nam Los Angeles để
viếng tang Thầy, tôi lại được một cơ duyên lớn, khi nghe
Thầy Thích Nguyên Hạnh kể lại một số kỷ niệm về Thầy
Mãn Giác.
Giữa
tiếng tụng kinh và chuông mõ của một số Thầy và hàng chục
Phật Tử vọng lên từ sân chùa, Thầy Nguyên Hạnh kể cho
tôi và chị An Nguyễn Kiều Mỹ Duyên trong căn phòng khách
của chùa ở lầu hai với giọng trầm ấm và từ tốn rằng
Thầy Mãn Giác trứơc khi viên tịch đã dặn dò Thầy Nguyên
Hạnh rằng "hãy tùy duyên hành Phật sự."
Thầy
Nguyên Hạnh có cơ duyên thân cận với Thầy Mãn Giác từ
hơn 50 năm, khoảng đâu từ năm 1955. Những năm sau này, Thầy
Nguyên Hạnh sang Texas và thành lập Trung Tâm Phật Giáo - Chùa
Việt Nam ở thành phố Sugar Land. Tuy xa thật xa, nhưng chuyện
gì quan trọng thì Thầy Mãn Giác cũng kể, và hội ý với
vị sư thế hệ sau này. Thầy Nguyên Hạnh gọi Thầy Mãn Giác
bằng danh xưng “Ngài,” nhưng nơi đây ghi lại bằng chữ
“Thầy” cho thân mật, như trong những ngày tôi lên thăm
Thầy.
Giữa
hương trầm thơm xông ngát khắp chùa, Thầy Nguyên Hạnh kể
Thầy nhìn thấy Thầy Mãn Giác có hai điều nổi bật:
Thứ
nhất, Thầy Mãn Giác nặng lòng với quê hương; cứ hễ nói
về quê hương là Thầy Mãn Giác lại xúc động.
Thầy
Nguyên Hạnh hỏi tôi rằng có biết Thầy thích nhất hai câu
thơ nào của Thầy Mãn Giác không. Tôi nghĩ ngay tới hai câu,
"Mái
chùa che chở hồn dân tộc,
nếp
sống muôn đời của tổ tông…"
Tôi
vừa nói lên chữ "Mái chùa…" thì Thầy Nguyên Hạnh cười
từ bi, lắc đầu, "Không phải."
Hóa
ra, Thầy Nguyên Hạnh thích nhất là hai câu:
"…Thương
xuân tuyết trắng trên đầu núi,
Nhớ
nứơc làm sao nở nụ cười…"
Thứ
nhì, Thầy Nguyên Hạnh nói tiếp, rằng Thầy Mãn Giác lúc
nào cũng ôm ấp hòai bão làm đẹp cho đạo, và chuyện nào
làm đẹp cho đạo là Thầy Mãn Giác không bao giờ từ chối…
Thầy
Nguyên Hạnh kể rằng, vào ngày 20-4-1975, Thầy Nguyên Hạnh
đã theo dòng người từ Huế chạy vào Sài Gòn. Lúc đó, cả
nứơc hỗn lọan, xáo trộn, hoang mang. Lúc đó, đã nghe là
có nhiều người đã bỏ chạy khỏi Sài Gòn. Lúc đó, Bắc
Quân đã tràn ngập nhiều tỉnh Miền Trung và miền Đông Nam
Bộ.
Sài
Gòn khi đó, đầy những nỗi lo, với tin đồn dồn dập hàng
ngày đi kèm với dòng ngừơi từ các tỉnh ven biển Miền
Trung chạy tới, đổ vào. Thầy Mãn Giác nói với Thầy Nguyên
Hạnh rằng vị Phó Đại Sứ Nhật Bản tại Việt Nam, nguyên
là bạn thân thời Thầy Mãn Giác du học Nhật Bản, tới nói
rằng Tòa Đại Sứ Nhật sẵn sàng lo giấy tờ đưa Thầy
sang Nhật, và xa gần nói rằng Miền Nam VN sắp mất.
Thầy
Mãn Giác hỏi ý Thầy Nguyên Hạnh, và được Thầy Nguyên
Hạnh phân tích ra các diễn biến có thể là xấu nhất và
tốt nhất. Thầy Nguyên Hạnh nói rằng Thầy nghĩ rằng Thầy
Mãn Giác nên đi Nhật, để sau này mới giúp nhiều cho Phật
Giáo và đồng bào.
Thầy
Mãn Giác lúc đó trầm ngâm, chỉ nói là để nghĩ lại. Hôm
sau, khi Thầy Nguyên Hạnh tới thăm, Thầy Mãn Giác mới nói,
"Thôi, ta nghĩ rồi. Bây giờ ra xứ người chỉ là dân vong
quốc thôi. Bây giờ, vui hay buồn, vinh hay nhục thì cùng chia
sẻ với quý Thầy, với dân mình thôi…" Và như thế,
Thầy Mãn Giác đã ở lại.
Cho
tới năm 1977, Thầy Mãn Giác mới vượt biên.
Tiếng
tụng kinh nơi sân chùa đã ngưng. Đêm đã khuya. Giọng Thầy
Nguyên Hạnh vẫn từ bi, trầm ấm, vang giữa đêm thanh vắng,
"Với tôi, chuyện gì cũng qua đi, nhưng tôi muốn giữ tấm
lòng của Ngài với quê hương, với Phật Giáo. Ngài Mãn Giác
lúc nào cũng nói với tôi về ước mơ về thăm Việt Nam,
thăm các chùa xưa, thăm Đại Học Vạn Hạnh cũ…"
Khi
bước tới cổng chùa, tôi quay về hứơng căn phòng nơi để
kim quan của Thầy Mãn Giác, chắp tay, cúi đầu chào, và trên
đường lái xe về Quận Cam, vẫn nghe âm vang hai câu thơ Thầy
Nguyên Hạnh vừa đọc:
Thương
xuân tuyết trắng trên đầu núi,
Nhớ
nứơc làm sao nở nụ cười…
''NHỚ
CHÙA'': MỘT CHỮ ''THIỆN'' VÔ BỜ!
Ngọc
Thiên Hoa
* NHỚ
CHÙA
(Một
trong những bài thơ bất hủ
của
cố HT Mãn Giác)
Từ
thuở ra đi vắng bóng chùa
Đường
đời đã nhọc chuyện hơn thua
Trong
tôi bừng dậy niềm chua xót
Xao
xuyến mơ về lại cảnh xưa .
Thấp
thoáng đâu đây cảnh tượng làng
Có
con đường đỏ chạy lang thang
Có
hàng tre gợi hồn sông núi
Im
lặng chùa tôi ngập nắng vàng .
Có
những cây mai sống trọn đời
Bên
hàng tùng bách mãi xanh tươi
Nhìn
lên phảng phất hương trầm tỏa
Đức
Phật từ bi miệng mỉm cười .
Tôi
nhớ làm sao những buổi chiều
Lời
kinh giải thoát vọng cao siêu
Đây
ngôi chùa cổ ngày hai buổi
Cầu
nguyện dân làng sống mến yêu .
Vì
vậy làng tôi sống thái bình
Sớm
khuya gần gũi tiếng chuông linh
Sắn
khoai gạo bắp nuôi thôn xóm
Xây
dựng tương lai xứ sở mình .
Tối
đến dân quê đón gió lành
Khắp
chùa dào dạt ánh trăng thanh
Tiếng
chuông thức tỉnh lan xa mãi
An
ủi dân hiền mọi mái tranh .
Trầm
đốt hương thơm bay ngạt ngào
Thôn
trên xóm dưới dạ nao nao
Dân
làng tắm gội lên chùa lễ
Mười
bốn, ba mươi mỗi tối nào .
Biết
đến bao giờ trở lại quê
Phân
vân lòng gởi nhớ nhung về
Tang
thương dù có bao nhiêu nữa
Cũng
nguyện cho chùa khỏi tái tê.
Chuông
vẳng nơi nao nhớ lạ lùng
Ra
đi ai chẳng nhớ chùa chung
Mái
chùa che chở hồn dân tộc
Nếp
sống muôn đời của tổ tông .
(
Thơ của HT Mãn Giác, sáng tác 1949)
I.
Khổ thơ đầu: Nỗi lòng người xuất gia
Từ
thuở ra đi vắng bóng chùa
Đường
đời đã nhọc chuyện hơn thua
Trong
tôi bừng dậy niềm chua xót
Xao
xuyến mơ về lại cảnh xưa .
Phật
pháp vô biên.
Lời
thơ hướng Phật với người hữu duyên thì ''tương đắc,
tương tri''. Thi nhân hướng về ''Bát nhã ba la mật'' thì thi
nhân thành ''Nhân- Thi'' -Người làm thơ mang sắc diện nhân
bản! Không lãng mạn. Không tràn giang. Không tô sắc. Không
vẽ vời!
Bãn
ngã nhân sinh bộc phát từ lúc tóc còn xanh. Duyên nhà Phật
căn nguyên đã có từ thuở còn xanh tóc! Sóng không có gió
làm sao thành cơn bão tố. Tâm không có thiện làm sao lòng
phát tâm lành!
''Nhớ
chùa'' của HT Thích Mãn Giác chỉ có thể được nhìn từ
góc độ: Sắc sắc, không không với chữ ''Thiện'' vô bờ
đó!
''Người
đi, ta nhớ con đò. Người về ta nhớ câu hò quê hương''.
Quê
hương của thi ca lãng mạn thiên về trữ tình qua ẩn dụ
tu từ. Quê hương của thi ca của sân Phật, cửa Chùa chỉ
có chùa chiền và tiếng chuông chùa với lời kinh kệ ngày
hai buổi! Không lãng mạn. Kinh Phật dạy chúng sinh nên hướng
tâm về với điều lành. Thi ca Phật đưa người về với
quê hương bằng tâm lành của Phật!
Tuổi
xanh của Võ Viết Tín đã gắn liền với ngôi chùa quê hương.
Chất thơ bộc lộ cũng thắm đầy tình yêu quê hương với
ngôi chùa đầy kỷ niệm ở đoạn thơ đầu của bài ''Nhớ
chùa'':
Từ
thuở ra đi vắng bóng chùa
Đường
đời đã nhọc chuyện hơn thua
Hai
câu đầu là một khái niệm về cuộc đời: ''Chuyện hơn
thua''. Ở đời, con người sinh ra đã có sẵn những ''Tham.
Sân. Si''. Đó là cội nguồn của tội lỗi! Hơn thua về tài
sắc. Hơn thua về tiếng tăm. Hơn thua về lời lẽ. Hơn thua
về thế thời! Người buôn bán hơn thua mà sinh lời. Kẻ cuồng
tâm hơn thua mà có chức. Lòng từ bi chẳng hề có chữ ''hơn
thua''. Vậy là lòng bình lặng. Thế là tâm không sóng quấy!
Nhưng người hiểu chữ ''Nhịn'' thì ít mà kẻ mù chữ ''Nhường''
thì nhiều. ''Đa tri thức bất đoan tâm'' ắt thành Tâm ác!
Trần
Huyền Trang tiền kiếp là đứa bé mồ côi Trần Vỹ (Trần
Huy) thả con cá ra sông vì lòng có chữ ''xót'': Là xót vật,
xót người! Vật- Người cũng là một sinh mạng. Người cần
không khí. Cá cần nước. Người biết xót. Cá há chẳng biết
đau! Quyền sống của cây cỏ thực vật, động vật cũng
là ngang nhau. Tại sao người ta mang chữ ''sát'' mà giết tận,
giết tiệt? Phạm vào ''Duy thức'' của đời mất rồi!
Hiểu
thấu cội nguồn của chữ ''Duy Thức'', Viết Tín chẳng còn
là cậu bé họ Võ mà trở thành Tỳ Kheo Mãn Giác. Trần Vỹ
xuất gia lúc tuổi mười ba. Viết Tín vào cửa Phật năm mười
sáu. Trần Vỹ thụ giới năm hai mươi mốt tuổi, Viết Tín
thành Tỳ Kheo Mãn Giác năm hai mươi! Trước sau gì họ cũng
gặp nhau ở chữ ''Phật'' với tâm lành.
Nhưng
con người làm sao thoát được những cạm bẫy cuộc đời
phủ vây cùng sinh và cùng diệt thì người xuất gia cũng nào
có thoát khỏi những sợi dây ràng buộc cần phải có mới
tồn tại: Là quê hương! Người đi tu vất bỏ ''Thất tình
lục dục''. Thái tử Tất Đạt Đa đã từ bỏ hoàng cung,
từ bỏ vợ con để tu thành chánh quả. Cái chánh quả của
Thích Ca còn nhiều chuyện cần bàn nhưng rõ ràng, Tỳ Kheo
Mãn Giác đã không từ bỏ quê hương. Không có quê hương
thì làm sao có mái chùa cho người tu hành để qua cái ải
''Luân hồi'', ''Giải thoát'' trước khi nhập cõi ''Niết bàn''?
Và
như vậy, niềm ''xao xuyến'' của Tỳ Kheo chính là cái xao
xuyến ''động'' mà ''tĩnh''. Người không biết xao xuyến thì
sao gọi là Người. Phật chẳng chút biết xót xa thì sao gọi
là Phật!
Đoạn
đầu đã nhá lên hào quang của trí tuệ ''Tam thế Phật''
chính là trí tuệ của quá khứ, hiện tại và tương lai!.
Mối quan hệ dắt dây này chính là một chữ ''Yêu''. Yêu quê
hương vì nơi đó là nơi ta đã được sinh ra, đã nuôi ta
lớn khôn và đưa ta vào chốn thanh tịnh để đại độ chúng
sinh!
Đáng
phục thay cho một trái tim hiền diu đập cùng với nhân loài!
Hài hòa như một lời kinh cầu và ước mơ chân thiện mỹ:
Trong
tôi bừng dậy niềm chua xót
Xao
xuyến mơ về lại cảnh xưa
''Cảnh
xưa'' của vị Tỳ Kheo hai mươi tuổi đang ''xao xuyến mơ''
là những gì?
II.
Sáu đoạn tiếp theo: Giải đáp về hồi ức của người mang
tâm Phật
1.
Hai khổ thơ thứ ba và bốn:
Miêu
tả cảnh chùa qua hồi ức ''cảnh xưa'':
Thấp
thoáng đâu đây cảnh tượng làng
Có
con đường đỏ chạy lang thang
Có
hàng tre gợi hồn sông núi
Im
lặng chùa tôi ngập nắng vàng
Có
những cây mai sống trọn đời
Bên
hàng tùng bách mãi xanh tươi
Nhìn
lên phảng phất hương trầm tỏa
Đức
Phật từ bi miệng mỉm cười
Tỳ
Kheo Mãn Giác đã vẽ nên bức tranh làng quê qua hồi ức. Làng
quê của thi nhân trẻ tuổi này cũng như làng quê của những
tâm hồn lai láng văn chương mà Quảng Thông trong ''Tiếng chuông
chùa''- Tập san nghiên cứu Phật học đã xuống bút:
''Dù
trăm năm ai quên lũy tre làng
Dù
ngàn năm ai quên tiếng mẹ ru.
Lũy
tre làng, lời mẹ ru, dù người ta có thể quên, quên vì sự
lãng quên, quên trong những cuộc rong ruỗi kiếm tìm trong cuộc
đời. Nhưng âm hưởng của lời ru, hình ảnh lũy tre làng
sẽ còn mãi đó trong lòng người. Đó là những hình ảnh
êm đềm, nhẹ nhàng sau những tháng năm miệt mài lao đao''.
Âm
hưởng ''Lũy tre làng, lời mẹ ru... êm đềm, nhẹ nhàng''
đó đã theo chân Huyền Không khoắc khoải nhịp bước quay
về nơi cố hương với ngôi chùa ''ngập nắng vàng''. Màu
nắng của trí tuệ Phật học và màu sắc nhiệm màu thiên
biến vạn hóa của thế giới tâm linh.
Quá
khứ làng quê của Huyền Không trước năm 1949 cũng dần dần
hiện lên hiền hòa, giản dị trong thơ với ''con đường đỏ'',
''hàng tre'', ''cây mai'' . Những cảnh vật này chẳng vô
hồn mà chúng như có cảm xúc. Thứ cảm xúc được truyền
từ người hồi ức hiền lành: ''Có con đường đỏ chạy
lang thang...''. Đường được nhân cách hóa qua con người.
Con đường đến chính Đạo cũng thế: Lang thang...lang
thang mãi...mới tìm được bến bờ.
Ta
bắt gặp ''hàng tre''- biểu tượng mềm mại mà mạnh mẽ
của đất nước ''gợi hồn sông núi''. Và bỗng nhiên, thi
nhân trẻ này cũng hòa nhập vào vườn thơ ca nhân loại yêu
quê hương không phải chỉ qua ''từng trang sách vở'' như Giang
Nam mà còn phải mở đôi mắt, lấy trái tim của trí tuệ
''tâm tâm thức'' mà nhìn...
Quê
hương của Tế Hanh trong ''Nhớ con sông quê hương'' xanh
mướt ''nước gương trong soi tóc những hàng tre''. Tre của
Tế Hanh là tre của tuổi xanh mềm mại như từng tiếng hát
ngọt thầm. Còn ''Làng tôi'' của Chung Quân thì dạt dào
thơ mộng:
Làng
tôi có cây đa cao ngất từng xanh ,
Có
sông sâu lờ lững vờn quanh êm xuôi về Nam.
Làng
tôi bao mái tranh san sát kề nhau.
Bóng
tre ru bên mấy hàng cau.
Đồng
quê mơ màng!
Khúc
ca đồng quê với lũy tre xanh còn có Nguyễn Duy trong ''Tre Việt
Nam'':
Tre
xanh
Xanh
tự bao giờ?
Chuyện
ngày xưa... đã có bờ tre xanh...
Và
''Cây tre Việt Nam'' của Thép Mới hiên ngang trên trận tuyến
chống thù! Mượn tre nhớ quê hương. Nhờ tre nhớ thôn làng.
Tre là chất liệu không bao giờ cạn kiệt trong thi ca và văn
học cũng như là chứng nhân lịch sử Thánh Gióng nhổ tre
đánh giặc hay hóa thân vào cổ tích răng đời với ''cây
tre trăm đốt''. Tre cũng là chất nhạc êm đềm trong lòng
người nhạc sĩ: ''Làng tôi'' của Văn Cao là làng quê xanh
bóng tre nhưng nhiều đau thương vì giặc giã:
Làng
tôi xanh bóng tre, từng tiếng chuông ban chiều, tiếng chuông
nhà thờ rung
Đời
đang vui đồng quê yêu dấu bóng cau với con thuyền, một giòng
sông.
Nhưng
thôi rồi còn đâu quê nhà, ngày giặc Pháp tới làng triệt
thôn.
Đường
ngập bao xương máu tơi bời, đồng không nhà trống tan hoang...
Nhưng
tiếng chuông của Văn Cao là tiếng chuông nhà thờ ngân lên
thành những nốt nhạc. Tiếng chuông của Mãn Giác là tiếng
chuông chùa ngân nga từ bãn ngã nhân sinh. Hai tiếng chuông
hai sắc áo Đạo đời! Khác nhau ở tôn chỉ và mục đích
thì đối nghịch nhau ngàn đời!
Người
thơ nói chuyện thơ. Người văn viết chuyện văn. Người nhạc
ca lời nhạc. Người võ thuật múa quyền võ thuật: Tre quê
hương, tre làng quê đã thành một thứ tre ''cương nhu phối
triển'' trong Võ sư Nguyễn Văn Sen (vovinamus.com):
''Nếu
vòng đạo thể trên huy hiệu là biểu tượng cho nguyên lý
cương nhu phối triển về phần siêu nhiên để giải lý vũ
trụ, thì cây tre lại là biểu tượng và thực thể chiêm
nghiệm về nhân sinh quan của môn phái VOVINAM VIỆT VÕ ÐẠO.
Nói
cách khác, nghiên cứu cây tre là nghiên cứu một yếu tính
sống, một quần thể sống để từ đó định hướng cho
một cuộc sống của người môn sinh VOVINAM VIỆT VÕ ÐẠO:
sống hiến ích, giúp ích người khác sống và sống cho người
khác.
CÂY
TRE là một hình ảnh thân quen mộc mạc trong sinh hoạt dân
gian Việt Nam. Tre tuy thanh mãnh song gai góc, cường kiện, mang
phẩm tính cương nhu và nhiều đặc tính đa năng đa dụng
trong đời sống xã hội''.
Nhưng
tre nhà Phật mới là thứ tre tổng hợp của văn, thơ, nhạc,
họa và võ thuật...bởi vì tre của Mãn Giác đã ''gợi'' được
cái ''hồn dân tộc'' mà Vũ Đình Liên xót xa: ''Những người
muôn năm cũ. Hồn ở đâu bây giờ?''. Vậy thì cái ''đắc''
của từ ''gợi hồn dân tộc'' của thi nhân Tỳ Kheo Mãn Giác
chính là chỗ tóm hết được những chấm phá, những ý tưởng
tuyệt vời về đất nước, quê hương, làng xóm.
Hồi
ức là những trang quay lại bằng tâm tưởng, là sự nhắm
mắt của cõi lòng lắng động trong Mãn Giác.
Nhắm
mắt không tìm về ''một thoáng hương xưa'' như Phạm
Đình Chương mà nhắm mắt là để mở lòng. Tâm có Tịnh
thì lòng mới Thông. Đấy chính là nhãn quang của người tu
hành. Quê hương năm 1949 sau khi Việt Minh cướp chính quyền
thắng lợi, lập nên Việt Nam dân chủ cộng hòa thì vẫn
còn lắm cái nghèo: Đói nghèo của trước đó hai triệu đồng
bào chết đói năm 1945. Đói nghèo của sự tồn sinh và đói
nghèo trí tuệ.
Nhưng,
cái nhìn của Mãn Giác thưở hai mươi đã không chìm vào những
hiện thực đọa đày. Người tâm Phật đã nhìn thấy sự
biến thiên qua từng cảnh vật thiên nhiên: Thiên nhiên vẫn
là hồn nhiên, chân chất và cái chính là sự bất tử của
chúng: Người tu hành đắc đạo không hề thấy chữ ''Tàn''.
Thiên nhiên cây cỏ, cảnh vật không có chữ ''Tử''. Sinh-Tử
chỉ là phù du. ''Dục cùng sanh tử thọ. Khuất hóa độ xuân
thu''. Phải chăng là ý niệm của người tâm Phật muốn thoát
khỏi nẻo luân hồi thì chỉ còn cách hóa thân vào thiên nhiên
với bốn mùa mưa nắng đi về?
Mái
chùa của Mãn Giác thời niên thiếu cũng lặng lẽ theo thời
cuộc: ''Im lặng chùa tôi ngập nắng vàng'' . Sự ''im lặng''
của một chữ ''Thiền'' có những biểu tượng tinh khiết,
thanh cao của cây Tùng, cây Bách, cây Mai mà Nguyễn Trãi đã
ví lòng. Chúng mãi ''mãi xanh tươi', ''sống trọn đời'' với
''hồn sông núi''. Giá trị của hai từ ''Bất tử'' chính là
ở đây. Và chữ ''Từ Bi'' cũng chỉ có ở nơi không thanh
tịnh mà thanh tịnh vì lòng thanh tịnh tức tâm thanh! Câu chữ
hồi ức cũng chạy về dưới chân ''đức Phật từ bi miệng
mỉm cười''. Sự hài hòa cảnh sắc với từ tâm chính là
cái bãn ngã mà con người cần đạt tới để xua tan nỗi
đau, chạy qua khó nghèo và làm giàu tri thức. Một sự ngộ
giác đáng cho người ta ngưỡng mộ!
Vượt
lên sự ngộ giác hòa nhập với thế giới cỏ cây thì thực
tại vẫn là niềm thương nhớ vô biên, khởi nguyên của căn
duyên
nhà Phật: Nhớ chùa!
2.
Bốn đoạn thơ tiếp theo: Tấm lòng hiền lương hướng
Phật
Tôi
nhớ làm sao những buổi chiều
Lời
kinh giải thoát vọng cao siêu
Đây
ngôi chùa cổ ngày hai buổi
Cầu
nguyện dân làng sống mến yêu
Vì
vậy làng tôi sống thái bình
Sớm
khuya gần gũi tiếng chuông linh
Sắn
khoai gạo bắp nuôi thôn xóm
Xây
dựng tương lai xứ sở mình
Tối
đến dân quê đón gió lành
Khắp
chùa dào dạt ánh trăng thanh
Tiếng
chuông thức tỉnh lan xa mãi
An
ủi dân hiền mọi mái tranh
Trầm
đốt hương thơm bay ngạt ngào
Thôn
trên xóm dưới dạ nao nao
Dân
làng tắm gội lên chùa lễ
Mười
bốn, ba mươi mỗi tối nào.
Ta
nghe như trong tiếng chuông chùa có hình ảnh những con người
nhà quê lam lũ với cuộc sống ''sắn ngô gạo bắp''
và tâm thức hiền lương không có chữ ''Hơn Thua'' tranh quyền,
đoạt lợi. Khi con người có được cõi lòng thanh tịnh, liêm
khiết như thế thì đi đâu cũng có quê hương, ở đâu cũng
có chữ Phật. Ngày thì có chữ ''Nhàn''. Đêm thì được chữ
''An''. Cuộc đời không lấy chữ ''đói nghèo'' là huệ lụy!
Nhiệm màu thay! Một tiếng kinh cầu là ngàn lời giải thoát.
Một tràng tụng niệm thay thế khối ưu tư. Tâm sinh loạn
tất tâm diệt loạn. Lòng nổi giông, lòng tất diệt giông!
Giới cảnh đạt được như thế thì ngàn vàng cũng hóa hư
không, bạc tiền cũng tan theo gió thổi!
Vào
cửa Phật tức là:
Thân
hòa cùng ở,
Miệng
hòa không tranh cải,
Ý
hòa đồng vui,
Giới
luật hòa đồng giữ,
Hiểu
biết hòa cùng giải,
Lợi
hòa chia đồng.
Vào
cửa Phật chính là quy y Tam Bảo. Đó là: ''Quy y Phật, không
quy y Thiên, Thần, Quỷ, Vật" như Thích Thanh Từ (win.org)
có giảng: "Quy y Pháp, không quy y ngoại đạo tà giáo". "Quy
y Tăng, không quy y bạn dữ nhóm ác". Chúng ta đã chọn lựa
những vị hiền đức nương theo, khiến đời mình về gần
với đức hạnh. Bạn dữ nhóm ác đối với người biết
đạo cần phải tránh xa. Bởi vì "gần mực thì đen gần đèn
thì sáng" hay "gần đồ tanh hôi mình bị hôi lây, gần vật
thơm tho mình được thơm lây". Vì thế chúng ta phải can đảm
đi đúng đường của mình đã chọn, dù có bị khinh khi mạ
lỵ, ta cũng cứ thế mà đi. Bởi vì chúng ta đâu phải là
kẻ mù quáng, mà đành bỏ cái tốt gần cái xấu. Khẵng định
lập trường rõ ràng là người có ý chí cương quyết. Nếu
người tu hành mà thiếu ý chí nầy, dễ bị gió lung lay''.
Người
học Phật là người biết kinh Phật. Phật tử không thể
thiếu lời ''Kinh''. Tỳ Kheo không lặng thinh chữ ''Kệ''. Chùa
chiền không thể vắng hồi chuông. Lời cầu nguyện làm
sao quên tiếng mõ? Cho nên, chuông mõ là biểu tượng của
chốn tu hành thanh tịnh và là nơi dung chứa những kẻ bỏ
đồ đao, lập tâm thành Phật hay là nơi mở lòng cho Lan chôn
cành Lan, cho Điệp vùi xác Bướm! Thế nhưng: Tâm có oan nghiệt
thì dù có ở chùa nào thì lòng cũng tâm động cảnh trần
gian! Ở nơi đâu cũng sầu tình lục dục! Ấy mới là khổ
đau của nhân thế! Mượn hồi chuông, muợn tiếng mõ để
quên đời là ý này!
Trong
''Nghi thức chuông mõ'' (win.net), Phúc Trung có cắt nghĩa: ''Chuông
luôn luôn ở bên tay trái của tượng Phật hay Bồ Tát, mõ
bên tay phải. Nguời thỉnh chuông gọi là Duy na, người gõ
mõ gọi là Duyệt chúng. Tiếng chuông phát ra âm thanh lắng
động, đêm khuya nghe tiếng chuông lòng chúng ta sẽ lắng động,
thanh thản, phiền não dường như tiêu tan. Bài kệ đọc khi
nghe có tiếng chuông:
Văn
chung thinh phiền não khinh,
Trí
huệ trưởng Bồ đề sanh,
Ly
Ðịa ngục xuất hỏa khanh
Nguyện
thành Phật độ chúng sanh
Án
Dà Ra Ðế Da Ta Bà Ha (3 lần)
(Nghĩa
là: Nguyện cho tiếng chuông nầy vang khắp nơi, ở Ðịa ngục
u ám Thiết vi cũng được nghe, ở trần thế được thanh tịnh
chứng quả, hết thảy chúng sanh đều thành bực chánh giác
và bài kệ sau: Nghe tiếng chuông, phiền não nhẹ đi, trí tuệ
tăng trưởng thêm, sanh tâm Bồ đề, rời khỏi địa ngục,
không bị lửa địa ngục thiêu đốt, nguyện thành Phật để
độ hết chúng sanh.)...Cho nên tiếng chuông rất quan trọng,
lại nữa trong khi tụng kinh, tiếng chuông báo hiệu cho người
dự được biết sắp chuyển qua niệm danh hiệu khác, sắp
hết một bài kinh hay kệ, bắt đâu lạy xuống cũng như khi
đứng lên được nhịp nhàng. Thỉnh thoảng trong bài kinh dài
có thỉnh chuông để cho người dự tĩnh thức trong lúc tụng
kinh.''
Và
ta hiểu vì sao Nguyễn Du trong truyện Kiều đã đem tiếng chuông
chuyển thành ''tiếng chày nện sương'' buồn thê thiết:
Sớm
khuya lá bối phiến mây
Ngọn
đèn khiêu nguyệt, tiếng chày nện sương.
Nhưng
nhà thơ vĩ đại đã để cho Thúy Kiều vào chùa tu hành mà
chẳng thể nào đắc đạo chính vì Kiều tâm không yên, không
thể tĩnh như Phúc Trung:
Lắng
lòng nghe, lắng lòng nghe!
Tiếng
chuông huyền diệu đưa về nhất tâm
Với
Mãn Giác, vị thi nhân tuổi trẻ này cũng trải qua thử thách
của sự nhận thức bằng tâm. Nhưng hồi ức rồi cũng qua.
Thực tại mới nằm lại. Chúng gậm nhấm tâm hồn thi nhân.
Kỷ niệm có đong đầy thì hiện tại mới thương vay. Khổ
vậy đó. Ta hãy xem, thi nhân Huyền Không đã biến giải
nỗi lòng này như thế nào qua hai đoạn thơ cuối cùng?
III.
Hai đoạn cuối: Niềm ray rứt và mơ ước an lành
Biết
đến bao giờ trở lại quê
Phân
vân lòng gửi nhớ nhung về
Tang
thương dù có bao nhiêu nữa
Cũng
nguyện cho chùa khỏi tái tê
Chuông
vẳng nơi nao nhớ lạ lùng
Ra
đi ai chẳng nhớ chùa chung
Mái
chùa che chở hồn dân tộc
Nếp
sống muôn đời của tổ tông .
Lòng
khoắc khoải với tiếng chuông chùa vọng mãi thành nỗi ''nhớ
lạ lùng''. Hiện thực trước mắt của thi nhân vẫn là: Xa
quê, xa làng, xa chùa. Cảnh đất nước trong giai đoạn chung
của lịch sử vẫn còn ''tang thương'' trong điển tích ''Tang
điền thương hải'' (ruộng nương hóa biển xanh).
Quách
Tấn tác giả ''Xứ trầm hương'' nổi tiếng cũng có bài ''Nhớ
chùa'':
Nhớ
chùa lòng muốn lên thăm
Sườn
non đã dốc, đá dăm lại nhiều
Lắng
tai nghe tiếng chuông chiều
Mặt
hồ lắng sóng, mây điều bay qua
Nhớ
chùa của Quách Tấn là cái nhớ khó vượt qua bởi thiên nhiên
tạo: ''Sườn non đã dốc, đá dăm lại nhiều''. Lòng người
có phải do dự vì ngại núi, e sông?
Hóa
ra, ngôi chùa cũng là nguồn cảm hứng của thi ca, âm nhạc!
Là nơi mà ''hồn dân tộc'' được ''chở che'' bằng tấm
lòng từ bi của Phật. Và cửa chùa cũng nói lên được ''nếp
sống muôn đời của tổ tông''. Đó là sự khẳng định Phật
giáo đã có nguồn gốc từ Trung Hoa qua giáo phái ''Đại tông''
và Phật giáo Việt Nam đã hơn mấy nghìn năm trải qua bao
thăng trầm vẫn tiếp tục thể hiện sức sống mãnh liệt
của nó. Kinh Bắc là cái nôi của nhà Phật. Chùa Một
Cột biểu tượng của một nền Phật giáo chính thống Việt
Nam song song cùng Nho Giáo trước khi Thiên chúa giáo nhập nội!
Những
ngôi chùa nghìn năm cổ kính đã là chứng nhân cho ''nếp sống
muôn đời của tổ tông'' với những câu ca dao, tục ngữ
kêu gọi người người thương yêu nhau: ''Nhiểu điều phủ
lấy giá gương. Người trong một nước phải thương nhau cùng''
hay ''Thương người như thề thương thân'' hoặc ''Bầu ơi
thương lấy bí cùng. Tuy là khác giống nhưng chung một giàn''
cũng từ cái nền Phật giáo thấm nhuần tình nhân đạo mà
ra. Những vị vua đời trước như Lý Công Uẩn đã hết
lòng nâng niu truyền thống văn hóa mang đặc thù màu áo Phật
pháp đầy tình nhân đạo bằng cách lập nhiều chùa chiền
và xây dựng thánh miếu. Vua nhà Trần như Trần Nhân Tông
bỏ cung son, phát nguyện, thụ giới theo Phật. Đạo Phật
ngàn năm trước đó từ Ấn Độ mà đức Thích Ca đã sáng
lập nên.
''Người
Việt Nam đã kế thừa và phát huy được tinh hoa của nền
Phật Giáo Ấn độ, nhưng vẫn mang bản sắc riêng của dân
tộc. Sĩ Nhiếp là bậc hiền tài được nhân dân tôn trọng
như Vua nên được gọi là Sĩ Vương đã thừa nhận điều
nầy:
Nước
Nam sông núi dáng thần linh
Văn
hiến mở khai dạng Phật kinh
Thánh
Mẫu quả nhiên sanh Thánh tử
Mưa
lành nhuần tưới giúp dân sinh
(Trích
sách đồng)
Những
ngôi chùa cùng song song tồn tại với người tu hành. Người
xa nhà nhớ nhà. Người ly hương nhớ quê. Người tu hành không
nhớ chùa thì còn biết nhớ cái chi?. Chùa chiền phải có
sắc màu huyền diệu, tạo cho người cảm giác bình yên khiến
cho người cảm thấy thiêng liêng mà cuối đầu thành tâm
ngưỡng mộ.
Ngôi
chùa của Chu Mạnh Trinh trong ''Thú Hương sơn'' xa vời, kiểu
cách quá thể:
Thăm
thẳm một hang lồng bóng nguyệt
Gập
ghềnh mấy lối uốn thang mây.
Chùa
Trong của Nguyễn Nhược Pháp thì như sang trọng, quý phái:
Động
thẳm bóng xanh ngời
Gấm
thêu trần thạch nhủ
Ngọc
nhuốm hương trầm rơi
(Chùa
Hương, Võ Văn Tường, Huỳnh Như Phương, win.net)
Thơ
của người tu hành thường ''Không bến hạn'' lại khô khan
nhưng thơ của Huyền Không thời hai mươi như ''Mây trắng
thong dong'' vẫn có chút ướt át của nắng ngập vàng, của
con đường chạy dài theo kỷ niệm, của những hàng tre biết
nói và tiếng chuông gợi nhớ quê hương biến ''không gian
thành chiếc áo'' nhiệm màu. Tràn ngập nắng và có mùi thơm
của trầm hương, thơ Huyền Không với bài ''Nhớ chùa'' coi
như cho ta nếm chút ''Hương trần gian'' khi làm ''Kẻ lữ hành
đơn độc''.
Ngôi
chùa của Huyền Không là ngôi chùa nào hay chỉ là một ngôi
chùa trong tâm tưởng?. Mười tuổi, Viết Tín đã được anh
chị chú bác cho đi học ở chùa Thiên Minh, Huế. Nhưng ngôi
chùa này giờ đây không biết có còn không? Không mà có. Có
mà không. Cái không nằm trong cái có và cái có lại chẳng
hiện thân. Miễn là trong Huyền Không, ngôi chùa là đỉnh
cao của lòng từ bi, là phát quang của trí tuệ cứu nhân,
độ thế. Còn hay mất? Tồn tại hay không tồn tại chẳng
có gì phân vân...
Lòng
có chùa thì chùa ở trong lòng. Tâm có Phật thì Phật chứng
trong tâm. Tiếng chuông chùa Mãn Giác gợi cho ta một ''Phong
Kiều dạ bạc'' của Trương Kế bất hủ:
Nguyệt
lạc ô đề sương mãn thiên,
Giang
phong ngư hỏa đối sầu miên.
Cô
Tô thành ngoại Hàn San tự,
Dạ
bán chung thanh đáo khách thuyền.
Bản
dịch hay nhất là bản dịch của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu:
Trăng
tà, tiếng quạ kêu sương,
Lửa
chài, cây bến, sầu vương giấc hồ .
Thuyền
ai đậu bến Cô Tô,
Nửa
đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.
Tiếng
chuông Thiên Mụ hay chuông
chùa Hàn San hoặc chuông Thiên Minh vẫn là những tiếng
chuông báo cho người thức tỉnh trước thời gian vang trong
không gian buồn man mác...
So
sánh về giá trị thẩm mỹ trau chuốt của thi ca, thơ Huyền
Không chỉ mới ở vòng thực tập nhưng vượt lên trên tất
cả để tồn tại, để bất hủ, Huyền Không đã không uổng
một kiếp hiến thân cho nhà Phật khi tìm ra chân lý sống
cho đời: Hãy sống bẳng tấm lòng. Tấm lòng tự nhiên không
cần trâu chuốc vẫn sáng trong như ngọc, như hoa Ưu Đàm nghìn
năm chỉ nở một lần. Tìm trong cái Không để cho Có và hoán
chuyển cái Có thành Không mới chính là sự nhiệm màu của
Phập pháp vô biên! Đó là sự thông minh mà một tôn giáo
chính thống, hiện đại cần phải có như Mahathera Dhammananda
có viết trong ''What is this religion?'': ''Every man must have a religion
and that religion must be one which will appeal to the intellectual mind''.
Năm
mươi tám năm sau, Huyền Không đã chứng minh cho ta thấy sự
biến hóa diệu kỳ của Phật pháp. Ngài đắc đạo với hơn
ba mươi lăm tác phẩm để đời mà bài thơ từ thời hai mươi
này là một trong những điều kỳ diệu bất tử của Huyền
Không.
Chuông
vẳng nơi nao nhớ lạ lùng
Ra
đi ai chẳng nhớ chùa chung
Mái
chùa che chở hồn dân tộc
Nếp
sống muôn đời của tổ tông
Mãn
Giác đã...mãn nguyện khi về với đời. Ra đi hay trở về
cũng chỉ là sự luân hồi của một kiếp con người! Dù sao
đi nữa, Mãn Giác cũng vẫn là con người. Xác người thì
phải trả về cát bụi và tâm linh mới là tồn tại
như ''mây trắng thong dong...''
Tiếng
chuông chùa ngân lên. Nỗi nhớ chùa trở về. Mùa thu kết
thúc ở trên cây không còn bóng lá nhưng mái chùa ngày xưa
và bây giờ ở nơi đâu của Huyền Không vẫn ngập tràn nắng
vàng trí tuệ và chỗ che chở cho ''hồn dân tộc'' thoát khỏi
kiếp nạn thiên tai, nhân tai. Lời kinh cầu nguyện của Người
chắc chắn là như thế!
''Nhớ
chùa'' bài thơ thất ngôn, chín khổ, không kiểu cách, mộc
mạc như chân lý hiển nhiên không dấu chấm phẩy như ''con
đường đỏ chạy lang thang...'' và người đến đích thì
hiếm hoi mà kẻ còn nặng nợ ''ngũ giới'' thì còn nhiều.
Sự giác ngộ bằng tâm linh để thương cha, hiếu mẹ không
biết đến bao giờ mới hạnh thông!
Mỗi
chúng ta có sẵn một mái chùa. Và song thân ta đấy chính là
Phật trong chùa. Tìm ở đâu cho xa xôi vời vợi! Đó là một
chữ ''THIỆN'' vô bờ mà Huyền Không để lại cho ta!
Nam
mô Mãn Giác siêu linh về miền cực lạc!
Tháng
10/15/06
Ngọc
Thiên Hoa
(thành
tâm tế bái)
Tư
liệu tham khảo có sử dụng:
1.
''Nhớ chùa''. Thơ HT Mãn Giác (quangduc.com).
2.
''Đường Huyền Tông'' (vi.vikipedia.org)
3.
''Bước đầu học Phật'' (Thích Thanh Từ, cusi.free.fr).
4.
''Nhớ chùa', Thơ Quách Tấn
5.
''Chùa Hương'' (Võ Văn Tường, Huỳnh Như Phương, win.net).
6.
''Nghi thức chuông mõ'' (Phúc Trung, win.net).
7.
''Tiếng chuông chùa'' (Quảng Thông, Tập san nghiên cứu Phật
học)
thuvienhoasen.org
8.
''Làng tôi'' (Văn Cao, vietnammusic.com).
9.
''Làng tôi'' ( Chung Quân, vietnammusic.com).
10.
''Cương nhu phối triển...'' (Nguyễn Văn Sen, vovinam.com).
và
một số trang web site có liên quan datviet.com, asiafanatic.net...
Xin
trân trọng cám ơn.
NGƯỜI
ĐI, MÂY TRÔNG THEO
Diệu
Trân
Sáng
nay bầu trời nặng trĩu mây.
Sáng
ngày thứ sáu 13 tháng 10 năm 2006, trời u ám mây giăng. Không
mưa, nhưng mây lãng đãng, quẩn quanh, như bùi ngùi, như lưu
luyến, như quấn quít dấu chân vị cao tăng vừa giong buồm
Bát Nhã, rời bến Ta Bà, xuôi về Biển Tuệ:
Dấu
chân in mặt cát
Người
đi, mây trông theo
Cuộc
đời là sa mạc
Biển
đời, thuyền nhổ neo (*)
Tác
giả bốn câu thơ trên là Hòa Thượng Thích Mãn Giác, pháp
danh Nguyên Cao, đạo hiệu Huyền Không. Ngài may mắn được
sanh ra trong một đại gia đình thấm nhuần Đạo Phật nên
hội đủ thuận duyên để năm mười ba tuổi đã xuất gia.
Kể từ khi chính thức hiến dâng thân tâm và trí tuệ cho
Đạo Pháp, không phút giây nào Ngài lơ là việc tu học và
lập nguyện xiển dương hoằng pháp. Sau khi cùng tốt nghiệp
Đại Học Phật Giáo tại Huế với Hòa Thượng Thiên Ân,
Ngài được cử đi du học Nhật Bản. Chính tại xứ Anh Đào
này, Ngài đã cảm nhận được sâu sa Thiền-vị để từ
đó cánh hạc thi ca mênh mang bay lượn trong vô tận sắc không,
khi hồn thơ đã tiềm ẩn cùng chú điệu Nguyên-Cao năm nào.
Bài thơ “Nhớ Chùa” Ngài viết năm hai mươi tuổi, có những
câu mà có lẽ không một Phật tử nào không từng nghe qua:
Chuông
vẳng nơi nao nhớ lạ lùng
Ra
đi ai chẳng nhớ chùa chung
Mái
chùa che chở hồn dân tộc
Nếp
sống muôn đời của tổ tông (*)
Tấm
lòng gắn bó với Quê Hương, Dân Tộc bàng bạc trên thi ca
của Ngài:
Ta
là hạt cát biển đông
Đêm
ngày thao thức mãi trông lối về
Nhìn
trăng, thấy rõ đường quê
Mây
bay một nẻo, gió về một phương (*)
Niềm
hoài hương của Ngài lúc nào cũng đầy ắp, lúc nào cũng
sẵn sàng tuôn trào dù chỉ một ngọn gió, một áng mây gợi
nhớ. Qua dáng vẻ điềm đạm, nghiêm túc của một vị thiền-sư,
mấy ai thấy được giọt lệ khô trong tâm người viễn xứ:
Mưa
gió chiều nay thấy nhớ nhung
Trời
ơi, sao lạnh thấm vô cùng!
Chuông
xưa ngân lại trong chùa mới
Người
Việt muôn đời vẫn thủy chung (*)
Chính
từ sự thủy chung đó, trái tim Ngài đã mở ra bằng Từ-Nhãn-Quan-Âm
để giang rộng ngàn tay, cưu mang bao đồng đạo, bao đệ tử,
bao tăng sinh, bao đồng bào trên suốt chặng đường gian khổ
tìm Tự Do trong ba thập niên 70-80-90. Ngày nay, trên khắp năm
châu, có lẽ không nơi nào không có những người đã từng
được Ngài giúp đỡ.
Vì
hạnh nguyện, Ngài đã không từ nan đi tới mọi chân trời
góc bể, nhưng khi Phật sự viên thành thì Ngài lại trở về
ngôi chùa khiêm tốn tại thành phố Thiên Thần (Los Angeles)
vì đây là ngôi chùa Việt Nam đầu tiên được thành lập
để những người Việt xa quê có nơi nương tựa tinh thần
sau cơn hồng thủy. Cũng chính ngôi chùa này là mái ấm cho
bao cánh chim tan tác tụ về, cùng gíong đại hồng chung, thể
hiện tinh thần Bát Nhã bất sanh bất diệt.
Sự
thủy chung của Ngài cũng rõ nét trong từng câu thơ chân thiết,
đọc lên trong ngày kỷ niệm Đại Tường cố Hòa Thượng
Thích Thiên Ân, người khai sáng chùa Việt Nam Los Angeles mà
Ngài từng sát cánh phụng sự:
Trầm
hương thoáng lại từ đâu
Lòng
nghe tất cả tiếng cầu nguyện xưa
Chuông
ngân vọng đến bao giờ
Lá
vàng rụng xuống thành thơ nhớ người (*)
Cũng
tấm lòng trĩu nặng ân tình đó, Ngài đã khóc bằng nước
mắt của đại dương bốn bể, trong ngày giỗ đầu cố Hòa
Thượng Thích Thiện Minh, vị Bồ Tát đã chịu chết trong
ngục A Tỳ cho chúng sinh được sống khi thể hiện Bi Trí
Dũng trước bạo quyền Cộng Sản Việt Nam:
Lòng
nghẹn chưa từng nói được đâu
Làm
sao hết được nỗi u sầu
Mai
này lá rụng xin về cội
Đốt
nén tâm hương Lễ Giỗ Đầu (*)
Chứng
kiến bao đau thương quằn quại, nhưng lòng không oán thù vì
hạt Từ Bi đã thành đại thụ Bồ Đề:
Trong
lòng ta vẫn sáng ngời
Ngoài
ta đêm vẫn một trời trăng sao
Núi
sông còn đóa hoa nào
Mây
bay còn chở chiêm bao kiếp người (*)
Với
Tâm Phật đó, Ngài thấy rõ muôn kiếp nhân sinh nổi trôi
sinh tử nên bằng mọi phương tiện, Ngài cố chỉ cho thấy
đời thường này là Huyễn, Mộng, Bào, Ảnh thôi:
Hôm
qua mộng thấy tụng kinh
Tỉnh
ra mới biết chính mình là trăng
Bao
nhiêu cát của sông Hằng
Là
bấy nhiêu kiếp đã tằng tử sinh (*)
Nhưng
mấy ai thức tỉnh giữa cơn đại mộng đã triền miên cuốn
hút nhân sinh trôi lăn trong vòng luân hồi cuồng xoáy nên đôi
lúc hình ảnh Ngài thấp thoáng nỗi cô đơn của người lữ
hành trên đường thiên lý:
Đêm
khuya mình tỉnh thức
Mọi
người còn ngủ yên
Trên
trời, trăng thiền tọa
Ngoài
sân sáng dịu hiền (*)
Sự
cô đơn thầm lặng chuyên chở đầy Từ Bi, trắc ẩn đó,
man mác trong bài lục bát ẩn dấu tâm tư của người “Bất
động ngồi sắt son. Ta trở thành núi non”:
Qua
thiền môn, thấy trời xanh
Kim
Cang Kinh tụng chân thành từng trang
Khói
hương quyện cảnh mơ màng
Không
gian là chiếc y vàng quấn thân
Thiền
môn xưa sạch phong trần
Kim
Cang Kinh chép trầm luân thoát rồi
Ta
từ sanh tử về chơi
Ngồi
trên chót đỉnh mỉm cười với trăng
Thân
ta là giải đất bằng
Tâm
ta là nước sông Hằng mênh mông
Tình
ta là đóa hoa hồng
Ý
ta là cả cánh đồng tâm linh
Còn
đâu nữa, Kim Cang Kinh
Thiền
môn biến mất mà mình vô ngôn
Bình
minh về ngập hoàng hôn
Kêu
lên một tiếng, tỉnh hồn ngàn xưa (*)
Đôi
nét chấm phá qua chính thi ca của Ngài cũng không thể đủ
- dù chỉ là phác họa – vẽ nên chân dung của một
Trưởng Tử Như Lai mang hạnh nguyện vào đời “Thượng cầu
Phật Đạo. Hạ hóa chúng sanh” và ra đi như làn hương thoảng,
làn hương của Giới, Định, Tuệ bay ngược gió, còn mãi
xông ướp cho Đời Thường nhận biết Vô Thường để:
Có,
không, đùa bỡn tháng ngày
Bao
nhiêu phiền não rũ bay hồi nào
Đá
kia ngồi đếm chiêm bao
Nước
bao nhiêu nữa cũng vào biển trong (*)
Hòa
Thượng Thích Mãn Giác, pháp danh Nguyên Cao, đạo hiệu Huyền
Không vừa ra đi, nhưng chỉ là sự ra đi của thân tứ đại.
Quà tặng vô giá Ngài còn để lại là bao công trình trước
tác, biên soạn, dịch thuật kinh điển, là bầu trời mênh
mông thi ca mà Ngài đã dùng như phương tiện để trưyền
đạt đạo pháp, là tấm lòng từ ái thể hiện bằng chính
cuộc đời Ngài, là ở ngay phút ra đi vẫn tràn ngập tình
thương nhân thế:
Còn
đây, giọt lệ cuối rơi
Trần
gian xin hứng, cuộc đời xin mang (*)
Ngưỡng
nguyện Giác Linh Hòa Thượng cao đăng Phật Quốc
Nam
Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.
Nam
Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.
Nam
Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.
Diệu
Trân
(Như-Thị-Am
13 tháng 10 năm 2006)
(*)
Thơ Huyền Không
MÁI CHÙA CHE
CHỞ HỒN DÂN TỘC…
Đêm
qua sân trước một cành mai
Trần
Kiêm Đoàn
Sáng
nay, thứ Sáu 13-10-2006, chị Thái Kim Lan từ Đức báo tin thầy
Thích Mãn Giác vừa viên tịch tại Los Angeles, tiểu bang California,
Mỹ.
Tôi
ở cách Thầy – Chùa Việt Nam – có một giờ bay hay 6 giờ
lái xe mà biết tin còn chậm hơn người ở bên kia bờ Đại
Tây Dương. Cũng thế, trong trận bão Xiangsane vừa qua, tôi
ở Mỹ mà đóng vai người thông tin diễn tiến trận thiên
tai cho thân nhân và bạn bè ở Sài Gòn. Có lẽ khoảng cách
thế giới trong thời đại mới này phải đo bằng chiều sâu
của tấm lòng hơn là chiều rộng của không gian và chiều
dài của thời gian mới chính xác chăng?
Không
gian và thời gian tâm lý không phải là một phép lạ biến
đổi hoàn cảnh, nhưng nó giúp cho những con người “có duyên”
gặp lại nhau trong từng khoảng cách dài bằng nửa đời người
mà tưởng chừng như mới hôm qua. Sự gặp gỡ của những
tâm hồn đồng điệu, mang dấu ấn tâm linh có khi cách nhau
hàng chục thế kỷ mà vẫn gần nhau trong gang tấc hay có khi
gặp nhau một cách tình cờ giữa cuộc đời vắng lặng.
Có hai thiền sư Mãn Giác. Một thiền sư Mãn Giác đời
Lý (1052-1096) và một thiền sư Mãn Giác đời nay (1927-2006)
đã gặp nhau trong thi ca: “Mái chùa che chở hồn dân tộc…”
hay “Đêm qua sân trước một cành mai…” cách nhau đến
cả nghìn năm mà vẫn cùng nhìn thấy cái thường hằng rỗng
lặng và hư ảo của cành mai sân trước hiên chùa. Một cách
vô hình chung, tôi vẫn thường nghĩ đến những vần thơ Huyền
Không (thi bút hiệu của thầy Thích Mãn Giác đời nay) một
cách nhẹ nhàng và sương khói như thế.
Năm
1967, lần đầu tôi được gặp thầy Mãn Giác trong lớp triết
học Đông phương ở Mô-Ranh, trường đại học Văn khoa Huế
thời ấy. Ngày đó, Thầy là một giáo sư thỉnh giảng còn
quá trẻ, mới tốt nghiệp ở Nhật Bản về. Trong chiếc áo
tu sĩ màu nâu, Thầy có một dáng dấp rất tươi mát và thanh
thoát. Nhất là nụ cười lúc nào cũng mở rộng. Thầy cười
không chỉ bằng miệng mà bằng cả đôi mắt và dáng vẻ
nhẹ nhàng, phóng khoáng. Thầy giảng về triết học Ấn Độ,
Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam và nhấn mạnh về sự tương
quan của các nguồn triết học Đông phương trong bối cảnh
triết học Phật giáo. Với kiến thức phong phú của một
nhà nghiên cứu, một nhà Phật học và khả năng đa dạng
về ngoại ngữ như Hán, Phạn, Pháp, Anh, Nhật… Thầy Mãn
Giác thường biến những buổi học thành những buổi thuyết
trình chuyên đề của một học giả có thẩm quyền chuyên
biệt làm cho sinh viên thích thú và kính trọng.
Năm
1976, tôi gặp lại Thầy tại chùa Xá Lợi ở Sài Gòn trong
ngày Phật Đản khi Thầy đang tiếp phái đoàn Phật tử Huế
do Mặt trận Tổ quốc Bình Trị Thiên gởi vào. Thầy có vẻ
nghiêm nghị và đăm chiêu hơn qua giọng nói và thái độ dè
dặt cẩn trọng hiện lên rất rõ trong hàng chư tăng ni hiện
diện trước tiền đình chùa Xá Lợi.
Và
một buổi tối ngày 27 tháng 12 năm 2003, tôi gặp Thầy lần
cuối cùng tại chùa Kim Quang, Sacramento. Về mặt thể lực,
Thầy có vẻ yếu, đi phải có người theo bên cạnh. Thế
nhưng Thầy cững đã bay từ miến Nam California lên miền Bắc
để tham dự nhân dịp chùa làm lễ đặt đá xây dựng lại
ngôi chùa mới trên khu đất của ngôi chùa cũ đang đổ nát
vì thời gian. Đêm hội ngộ, vẫn với nụ cười thanh thoát
của một nhà thơ, Thầy đọc và ngâm thơ. Tôi không còn nhớ
rõ nguyên văn bài thơ, nhưng nhớ đó là một bài thơ về
quê hương. Bài thơ do Thầy sáng tác nói đến nỗi xúc động
giữa quê nghèo với mái tranh, với liếp cửa mỏng manh không
chắn nổi ngọn gió lạnh mùa Đông. Thầy vừa đọc vừa
kéo dài cuối câu thơ ra như ngâm. Giọng nói trầm ấm của
Thầy thuở đứng trên bục giảng 40 năm trước không còn
nữa. Nhưng sự xúc động lại dâng trào. Miệng Thầy
vẫn cười nhưng thỉnh thoảng vẫn đưa chiếc khăn nhỏ lên
chùi mắt…
Mỗi
lần gặp lại Thầy, cách nhau cả 10 năm, 30 năm nhưng sao tôi
vẫn thấy gần nhau quá, như mới hôm qua.
Khi
sắp từ biệt Thầy, tôi nhắc lại những kỷ niệm cũ của
thời còn học với Thầy ở đại học Văn khoa Huế làm Thầy
cười sảng khoái. Tôi kể lại và hỏi Thầy còn nhớ không,
Thầy gật đầu. Đó là buổi sáng khi linh mục Nguyễn Ngọc
Lan (giáo sư thỉnh giảng dạy về lịch sử triết học Tây
phương) chở Thầy từ cư xá giáo sư Viện Đại học Huế
gần Ga Huế xuống đại học Văn khoa. Bọn con nít thấy một
hình ảnh “đoàn kết tôn giáo” rất ngộ đã chạy theo
reo hò:
“Ê,
tụi bây ơi! Coi tề. Cha chở Thầy! Cha chở Thầy!”
Trong
câu chuyện, thầy cũng nhắc lại lịch sử “thăng trầm”
của hai câu thơ:
Mái
chùa che chở hồn dân tộc,
Giềng
mối muôn đời của tổ tông.
Tôi
đã nói đùa với Thầy:
“Trong
hai câu đó, con chỉ thích câu đầu vì mỗi Mãn Giác thiền
sư chỉ có một câu thơ tuyệt tác.”
Ý
tôi muốn nói đến bài “Xuân đi, Xuân đến” của Mãn Giác
Thiền sư đời Lý.
Thầy
hỏi:
“Mãn
Giác kia câu chi?”
Tôi
thưa:
“Bạch
Thầy: Đêm qua sân trước một cành mai…”
Thầy
lại cười rộng lượng:
“Mái
chùa che chở hồn dân tộc… Hôm qua sân trước một cành
mai. Ngộ hỉ.”
Tôi
đợi chờ lời Thầy phê về sự liên tưởng và so sánh (rất
có thể) khập khiểng của tôi, nhưng Thầy chỉ nở nụ cười
ấm áp và nói: “Ngộ hỉ”.
Có
thể nói không riêng tôi mà tất cả mọi người biết và
gần thầy Thích Mãn Giác từ khi thầy còn trẻ cho đến bây
giờ đều hưởng được bầu không khí tươi mát của một
phong thái bao dung và một tinh thần không bao giờ chấp nhặt
những chuyện bé nhỏ. Nhờ đức độ của Thầy như thế
nên chùa Việt Nam nổi tiếng là nơi bảo lãnh, hỗ trợ và
cũng là trạm dừng chân đầu tiên đông đảo nhất cho quý
tăng ni từ xa mới đến Mỹ.
Tin
hoà thượng Thích Mãn Giác vừa viên tịch không làm ai ngạc
nhiên vì tuổi tác đã cao và tình trạng thể lực ngày một
yếu của Thầy. Nhưng tất cả mọi người, Phật tử cũng
như thân hữu, đều cảm thấy có một sự mất mát rất lớn
vì sự vắng bóng của Thầy. Thầy đã sống một cuộc đời
thật trọn vẹn. Một đời tu sĩ cho Đạo; một nghệ sĩ thi
ca văn bút cho Đạo, cho Đời; một sự dấn thân cụ thể
để bảo tồn và phát huy những giá trị tri thức và tâm
linh cao quý giữa chốn bụi trần. Một đời Thầy tu hành
trong tinh thần “tự giác, giác tha, giác hạnh, viên mãn”
với phong thái khoan hòa đĩnh đạc của một thiện tri thức
và sự hành xử công minh, vô úy vì đạo vì đời của một
danh tăng qua những năm tháng thăng trầm nhất trong lịch sử
dân tộc và đạo pháp.
Hướng
về hoà thượng Thích Mãn Giác, phần đông Phật tử và thân
hữu cũng giống như tôi. Chúng tôi tìm thấy ở Thầy
một sự kết hợp hài hòa giữa tinh thần tu sĩ, nghệ sĩ
và kẻ sĩ. Tinh thần tu sĩ để hành đạo giải
thoát; tinh thần nghệ sĩ để cảm thông với cuộc đời;
và tinh thần kẻ sĩ để dấn thân vào đời mà hóa đạo
giúp đời.
Văn
phẩm mới nhất của Thầy mà tôi được đọc là bài tham
luận gửi đến cuộc Hội thảo Phật giáo năm 2006, nhan đề:“Thư
ngỏ của Sa môn Thích Mãn Giác gửi chư vị tham dự khóa hội
thảo Cơ duyên và Thử thách của Phật giáo thế giới và
Phật giáo Việt Nam”. Trong thư Thầy đã viết về tinh thần
nhập thế cần thiết của người Phật tử:
“Kiên
trì và tinh tấn bám sát con đường Đấng Từ Phụ đã đi.
Qua những thời kinh nhật tụng, chúng ta thường chỉ thấy
Phật ngồi Phật nằm mà quên rằng, gần nửa thế kỷ trụ
thế, Phật là một kẻ lữ hành, luôn luôn lên đường. Phật
đích thân đến với quần chúng chứ không ngồi đợi quần
chúng tìm đến Phật. Phật tìm đến quần chúng để được
quần chúng bố thí thức ăn quần áo thuốc thang, và để
tạo cơ duyên cho Phật và thánh chúng bố thí giáo pháp lại
cho quần chúng. Nhờ tinh thần có qua có lại tiên khởi đó
mà đạo tràng chùa chiền tự viện mới không trở thành những
hải đảo xa lánh hồng trần và các Trưởng Tử Như Lai không
hành xử như những chủ quán, ngồi một chỗ chờ khách hàng
tới để thù tiếp mà kiếm lợi, hay như những người lính
đứng trong pháo đài lâu lâu lại kêu lên Pháp Nạn! Pháp
Nạn! Đó là bài học đầu tiên chúng ta cần suy gẫm để
rút tỉa hệ luận cho Phật sự.”
Phải
chăng đây là một lời nhắn nhủ thiết tha của Thầy đối
với những người còn ở lại trước ngày từ biệt?
Dấu
ấn của một nghệ sĩ là tác phẩm. Dấu ấn của một
vị chân tu là tấm gương soi cho thế hệ kế thừa.
Hoà
thượng Thích Mãn Giác đã viên tịch nhưng những dấu ấn
từ bi, trí tuệ và dũng mãnh của Thầy vẫn còn thắp sáng
niềm tin cho thế hệ hôm nay và mai sau.
Là
một người học trò cũ, con xin lắng lòng tưởng niệm Thầy.
Là
một Phật tử, con xin cung bái Giác Linh Thầy một tâm thức
hoàn toàn tự do và giải thoát, xả bỏ báo thân, an nhiên
trở về miền an lạc.
Kính
bái biệt Thầy!
Sacramento
14-10-2006
Tóm
tắt Tiểu sử Hoà thượng Thích Mãn Giác
Hòa
thượng Thích Mãn Giác sinh năm Kỷ Tỵ (1927) tại cố đô
Huế. Nguyên gốc làng Phương Lang, quận Hải Lăng, tỉnh Quảng
Trị. Xuất gia học Phật từ thuở nhỏ. Đã đảm nhận nhiều
trọng trách trong giáo hội Phật giáo:
Nguyên
Tổng vụ trưởng Tổng vụ thanh niên. Tổng vụ Văn hóa và
Hội viên Hội đồng Giáo phẩm Trung ương của Giáo hội Phật
giáo Việt Nam Thống nhất.
Sau
khi tốt nghiệp Đại học Phật giáo Bảo quốc, được Tổng
hội Phật giáo Việt Nam Trung phần cử làm giảng sư, Hội
trưởng Hội Phật giáo Đà Lạt từ năm 1953 và sau đó, vào
năm 1957 đại diện Tổng hội ở 5 tỉnh cao nguyên Trung phần.
Năm
1960, được học bổng đi du học tại Tokyo, Nhật Bản.
Cuối
năm 1965, tốt nghiệp tiến sĩ triết học, được Bộ Giáo
dục Việt Nam Cộng hoà mời về làm Giáo sư Đại học Văn
khoa Sài Gòn, chuyên phụ trách giảng dạy triết học Ấn Độ
và triết học Đông phương. Trong khi đó, Viện Hóa đạo công
cử trách vụ Khoa trưởng Phân khoa Phật học, Phó viện trưởng
đặc trách điều hành Viện Đại học Vạn Hạnh.
Ngoài
ra, hoà thượng cũng đảm trách giảng dạy Đại học Văn
khoa Huế về triết học Đông phương và văn học đại cương.
Hòa
thượng Thích Mãn Giác là một nhà biên khảo với 25 tác phẩm
về các lĩnh vực triết học, lịch sử, giáo dục, xã hội
và thi ca; trong đó có 5 tác phẩm viết bằng Anh và 2 tác phẩm
dịch thuật. Hoà thượng cũng là một nhà thơ được mến
mộ qua bút hiệu Huyền Không. Thi phẩm đã xuất bản: Không
bến hạn (1952), Hương trần gian (1953), Không gian thành chiếc
áo (1972), Kẻ lữ hành cô độc (1972), Thơ Huyền Không (2004).
Cuối
tháng 6 năm 1977, hòa thượng đến Mã Lai tỵ nạn bằng thuyền
đánh cá. Sau thời gian 3 tháng tạm trú trong trại tỵ nạn,
vào 12 tháng 10 năm 1977, hòa thượng đã từ giã trại tỵ
nạn lên đường đi Paris, Pháp quốc.
Sau
3 tháng đi khắp châu Âu, hoà thượng đã tiếp xúc với báo
chí, Hội Ân xá Quốc tế, Đài BBC Luân Đôn… và đến tháng
Giêng năm 1978 thì đến Hoa kỳ.
Cuối
năm 1978, hòa thượng mời Hội Phật giáo Việt Nam tại Hoa
Kỳ về Los Angeles dự đại hội để thành lập Tổng hội
Phật giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ.
Từ
1978 tới 1998, Tổng hội Phật giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ đã
đóng góp nhiều vào công cuộc hoằng dương chánh pháp nơi
hải ngoại.
Hòa
thượng viên tịch lúc 7 giờ ngày 13 tháng 10 năm 2006 tại
Los Angeles, tiểu bang California, Mỹ.
*****
Các
Bài Văn Viết Tưởng Niệm
Nhớ
Chùa. Thơ: HT Mãn Giác, nhạc Võ Tá Hân. Ca Sĩ Bích Phượng
hát (Powerpoint)
Nhớ
Chùa, Thơ: Huyền Không | Nhạc: Mộng Lan