Hoằng
pháp ở thế kỷ XXI là đề tài mà hiện nay tất cả
các nước theo Phật giáo đều rất quan tâm. Như mọi người
đều biết quả địa cầu mà chúng ta đang sống luôn xoay
chuyển, cũng như xã hội luôn thay đổi; nếu Phật pháp không
thích nghi với thực tế cuộc sống, chắc chắn Phật giáo
sẽ không thể tồn tại trong sinh hoạt của con người.
Lịch
sử cho thấy Đức Phật hành đạo vào thời kỳ mà xã hội
Ấn Độ phân chia bốn giai cấp một cách triệt để. Nhưng
Đức Phật đã chủ trương bình đẳng tuyệt đối, với lời
tuyên ngôn bất hủ rằng không có giai cấp trong dòng máu cùng
đỏ, nước mắt cùng mặn. Và Ngài cũng đã thực hiện tinh
thần bình đẳng ấy trong chính cuộc sống giáo hóa độ sinh,
nghĩa là lời nói và việc làm của Ngài đi đôi với nhau,
nên Đức Phật được tôn kính là bậc Minh Hạnh Túc.
Thật
vậy, Đức Phật từ bỏ ngôi vị đế vương để sống cuộc
đời của một người khất sĩ thuộc giai cấp thấp nhất
trong xã hội Ấn thời bấy giờ. Và Đức Phật đã chuyển
hóa được thành phần nghèo khổ nhất trong xã hội như Sunita
hốt phân, hay sát nhân Vô Não, hoặc Bàn Đặc nổi tiếng
kém thông minh, giúp họ trở thành bậc Hiền Thánh trong xã
hội đương thời.
Đức
Phật dạy rằng không có giai cấp và bản thân Ngài đã thể
hiện nếp sống bình đẳng, cũng như Ngài đã phát huy khả
năng của những người tu theo Ngài tiến lên quả vị Hiền
Thánh. Tinh thần bình đẳng, không phân biệt giai cấp của
Phật giáo đến nay vẫn còn giá trị tuyệt đối. Nói đến
đạo Phật là phải nói đến tinh thần bình đẳng mà hầu
như nhiều quốc gia ngày nay cũng chưa thực hiện được và
sự bình đẳng vẫn còn là mục tiêu mà nhân loại mong muốn
đạt được.
Xưa
kia, khi Ba Tư xâm chiếm Ấn Độ, văn hóa Ấn đã được kết
hợp với văn minh Hy Lạp, khiến những người tiếp thu cái
mới có tầm nhìn thay đổi. Đương nhiên tư tưởng đổi
mới phải gặp sự phản kháng của tư tưởng bảo thủ. Và
khi hai cực của tư tưởng phát triển và bảo thủ càng xa
thì sự chống đối nhau càng nhiều hơn.
Trong
bối cảnh xã hội Ấn như vậy, nhìn ở mặt nào đó, thấy
Phật giáo hưng thịnh nhờ tiếp thu cái mới; nhưng ở mặt
khác, Phật giáo bị suy yếu vì tự chống đối nhau. Rõ nét
là Phật giáo bảo thủ thời đó e ngại tư tưởng văn minh
Hy Lạp xâm nhập làm hư hoại đạo pháp, nên đã cố gắng
giữ gìn nguyên vẹn hình thức Phật giáo. Nhưng Phật giáo
bảo thủ càng cố gắng duy trì hình thái Phật giáo thì càng
rơi vào tình trạng bị cô lập, vì không thích hợp với cuộc
sống mới, cũng như không được sự đồng thuận của những
người chủ trương canh tân Phật giáo.
Tư
tưởng phát xuất từ thành Tỳ Da Ly là nơi tư tưởng Đại
thừa manh nha, chủ trương một số thay đổi đời sống chư
Tăng, mà phía bảo thủ gọi là mười điều phi pháp. Thí
dụ phía canh tân cho rằng chư Tăng ăn một bữa, nhưng được
ăn quá giờ ngọ một lóng tay; trong khi phái bảo thủ nhất
định không cho phép ăn quá giờ ngọ. Sự bất đồng này
dẫn đến tình trạng Phật giáo tự chống đối nhau. Riêng
về điểm này, ngày nay, chúng ta thấy có những vị đã rời
luật quá xa, ăn uống không còn giờ giấc; trong khi những
vị theo Nam truyền Phật giáo vẫn không ăn quá ngọ.
Thực
tế có những người bị đau bao tử, một ngày phải ăn nhiều
lần, nếu buộc phải theo đúng luật thì họ không thể tiến
tu được. Theo tôi, chúng ta cần cân nhắc, tùy theo trường
hợp, người nào nên ăn một lần trong ngày, người nào nên
ăn hai, ba bữa. Người bị cắt bỏ một phần bao tử thì
không thể so với người khỏe mạnh. Tùy theo sức khỏe, nghiệp
lực của từng người mà việc ăn uống có khác nhau. Ngoài
ra, tùy theo địa phương, có nơi chỉ chấp nhận người tu
ăn một ngày một bữa, có nơi không đặt nặng vấn đề
này, hoặc tùy lúc mà việc áp dụng luật thay đổi khác nhau.
Chúng
ta nên suy nghĩ và sống theo tinh thần tùy duyên, cân nhắc
xem mình hành đạo ở đâu, vào thời kỳ nào và đối tượng
là ai để có sinh hoạt tương ưng thích hợp. Nhật Liên Thánh
nhân gọi đó là giáo, cơ, thời, quốc. Căn cứ trên tinh thần
tùy duyên, Phật giáo Đại thừa đã thay đổi giới ăn chiều.
Luật Phật chế không ăn quá ngọ, nhưng trừ khi bị bệnh
có thể ăn cháo buổi chiều, nhưng phải sanh tâm hổ thẹn.
Về
vấn đề ăn uống có nhiều thay đổi tùy theo địa phương
và tùy theo pháp môn tu. Ở Nhật Bản, riêng Chân Ngôn tông
tu tập, bước đầu ăn cơm, sau đó không ăn cơm mà chỉ ăn
rau quả và tiến đến không dùng thức ăn nấu nướng, sau
cùng chỉ ăn vỏ cây thông, uống nước thạch tín. Pháp tu
của Chân Ngôn tông chủ trương thực tập nếp sống huyền
bí như là một phương tiện để cảm hóa người dân thời
bấy giờ, vì họ ưa thích pháp huyền bí và chỉ tin theo những
ai có đời sống huyền bí.
Tuy
nhiên, chỉ có Tổ Đạo Nguyên và một vài vị cao tăng chinh
phục được xã hội theo cách tu như vậy, vì các ngài đã
làm được những việc mà người đời không làm nổi. Còn
những người khác không đủ khả năng chuyển hóa chất độc
của thạch tín và vỏ cây thông thành chất dinh dưỡng nuôi
cơ thể thì đã bị ngã gục. Ở đây cần phân biệt rằng
tà giáo làm những việc khác thường để lừa dối những
người mê tín dị đoan; trong khi các vị chân tu muốn thể
nghiệm chân lý trên cuộc đời, tất nhiên hoàn toàn khác
với việc mê hoặc quần chúng. Sử dụng phương tiện tùy
duyên, tùy chỗ, tùy thời là vậy.
Từ
cái nôi canh tân ở thành Tỳ Da Ly, tinh thần đổi mới được
tiếp tục phát triển. Điển hình như việc không bỏ phí
những thức ăn dùng không hết bằng cách muối thức ăn dư
vừa tiết kiệm, để dành được thực phẩm, vừa có thêm
thì giờ thiền định, khỏi đi khất thực. Như vậy, vẫn
giữ được mục tiêu của việc khất thực theo Phật không
phải là đi xin ăn, nhưng tiếp nhận thức ăn để duy trì
mạng sống cho việc tu hành và cho việc độ đời. Vì thế,
Đức Phật đã quán nhân duyên hóa độ nơi nào thì đến
nơi đó, không đủ duyên, Ngài không đi. Nhưng việc muối
thức ăn để dành không được các Tỳ kheo bảo thủ đồng
tình, phê phán là phi pháp.
Bước
theo dấu chân Phật, vai trò của người tu sĩ là hướng dẫn
quần chúng sống sáng suốt và an lạc. Vì thế, Phật giáo
phát triển cân nhắc trước vấn đề nếu chỉ khất thực
và ngồi dưới gốc cây tu hành thì có còn sức cảm hóa được
quần chúng không, hay là phải đổi mới sinh hoạt để đáp
ứng được yêu cầu của xã hội mới tồn tại. Tất nhiên
những người có tinh thần canh tân đã sinh hoạt theo hướng
phát triển để cùng nhịp bước đi với sự đi lên của
xã hội và phục vụ quần chúng. Chúng ta còn nhớ trong mười
hai đại nguyện của Đức Phật Dược Sư, có nguyện thứ
11 và 12 là cho chúng sinh ăn ngon mặc đẹp, cũng không ngoài
mục tiêu đem lại nếp sống sung mãn cho quần chúng.
Vì
thế, sau Phật nhập diệt 200 năm, tư tưởng Đổi mới đã
xuất hiện, theo đó suy nghĩ thâm ý của Phật dạy và thể
hiện qua những điều đổi mới. Điển hình là kinh Duy Ma
diễn tả ý này rằng giáo pháp của Phật là phương tiện
ví như nắm lá trong tay, có giới hạn; cho nên không thể chấp
chặt, mà phải nhận ra được chân lý ba đời của chư Phật
chỉ dạy ví như lá trong rừng luôn thể hiện sức sống phát
triển theo bốn mùa, không phải chỉ là nắm lá trong tay.
Xây
dựng trên tinh thần phát triển, kinh Duy Ma chủ yếu đề cao
Bồ tát Văn Thù và cư sĩ Duy Ma là hai vị Bồ tát tiêu biểu
cho hàng xuất gia và tại gia ở tầng cao mới của xã hội;
nói cách khác, Phật giáo luôn đi trước một bước, mở ra
con đường sáng cho xã hội. Thể hiện tinh thần này, ở nước
ta, Phật giáo Đinh Lê Lý Trần đi đầu trong việc xây dựng
đất nước.
Kinh
Pháp Hoa dạy rằng chúng sinh nghĩ gì, cần gì, làm gì; đáp
ứng được ba điều này, chúng ta tồn tại, nếu không thì
bị mai một. Thực tế cho thấy Thiền sư Nhất Hạnh truyền
bá Phật pháp tại các nước Tây phương thành công, vì ngài
đáp ứng được truyền thống văn hóa của họ.
Việc
thứ hai lớn hơn là ở thế kỷ XXI, vấn đề tâm linh được
quan tâm rất nhiều và việc truyền bá Chính pháp cần được
thực hiện trên siêu xa lộ thông tin. Ở mảng này, Phật giáo
có mặt, nhưng còn rất khiêm tốn, chỉ có một số ít tu
sĩ trẻ tham gia; trong khi chất độc xã hội đã thâm nhập
vào đây quá nhiều. Các giảng sư trẻ có học thức cần
nghiên cứu, thực tập tinh thần Phật dạy và cân nhắc xem
thời đại chúng ta yêu cầu cái gì để đưa các bài giảng
thích hợp vào thông tin siêu xa lộ, tạo điều kiện cho Phật
tử thời hiện đại phát tâm, tu học dễ dàng. Đó là điều
rất cần thiết.
Ngoài
ra, tuy hiện nay có thuyết pháp trên mạng, nhưng chưa tạo
được món ăn tinh thần cho nhiều người ưa thích; vì không
thích hợp với cuộc sống thiết thực của con người. Đưa
Phật giáo vào sinh hoạt con người đòi hỏi chúng ta phải
thiết thực, đừng rơi vào không tưởng. Chẳng hạn giảng
dạy Thiền, bản thân mình phải thực tập được cốt lõi
của Thiền là tinh thần ổn định, sáng suốt và sức khỏe
tốt, ăn ít, ngủ ít, nhưng loại trừ được bệnh tật. Được
như vậy, thì không nói cũng có đủ tư cách của thiền sư;
còn đau khớp, suy tim không phải là thiền sư. Trên bước
đường tu, cần thuyết pháp trên quả môn là nói bằng thành
quả tu tập của chính mình.
Người
tu phải có cái gì vượt lên trên người đời, đầu tiên
là vượt trên cái nghiệp, khắc phục nghiệp, giải quyết
nghiệp cho tốt. Người tu lúc nào cũng hoan hỷ, sức khỏe
tốt, được nhiều người quý mến, cuối đời ra đi nhẹ
nhàng. Các vị Thiền sư hay Thánh Tăng đều thể hiện cuộc
sống như vậy. Còn mang thân bệnh, tâm buồn phiền, mà đi
truyền bá, khó thành công. Hoằng pháp ở thế kỷ XXI phải
sống phù hợp với khoa học, nghĩa là chứng thực giáo pháp
trong đời sống của chúng ta, làm được những gì ta nói.
Tuy nhiên, có những điều mình tâm đắc, nhưng người xung
quanh chưa thực hành được thì thôi, chờ đủ duyên mới
nói.
Vì
thế, Đức Phật dạy rõ thực tập quá trình văn, tư, tu rồi
mới thuyết pháp độ sinh. Chính Đức Phật trước khi chuyển
pháp luân, Ngài đã chứng chuyển, tức diệt được phiền
não trần lao, Ngài mới khuyến chuyển, là khuyên dạy người
khác làm theo. Thiết nghĩ ngày nay, nếu có nhiều giảng sư
thành tựu pháp Phật trong cuộc sống, chắc chắn sẽ làm
cho Phật tử phát tâm tu theo và Phật giáo hưng thịnh.
Một
điều nữa là thời hiện đại, Phật tử không có nhiều
thì giờ dành cho việc tu tập. Nếu họ phải tu suốt một
ngày và tụng kinh quá nhiều, mà không hiểu và không thực
tập được gì, họ sẽ dễ chán, dễ bỏ cuộc, thậm chí
than rằng tụng kinh nhiều khô cổ. Tụng kinh đúng theo Tổ
dạy trong kinh Pháp Hoa là “Hầu trung cam lộ quyên quyên nhuận”,
chẳng những không khát nước, không khô cổ, mà còn cảm
thấy vị ngọt theo từng câu kinh.
Tóm
lại, quý Tăng Ni suy nghĩ xem những việc gì chúng ta cống
hiến được cho cuộc đời, làm an lạc cho nhiều người,
thì người hoằng pháp sử dụng vô số phương tiện để
tùy duyên hành đạo mới thành công, giúp cho Phật giáo trường
tồn. Ý này được Tổ sư dạy rằng: “Đại dụng tại tiền,
quyền tại thủ”. “Đại dụng” là chân lý mà ba đời
chư Phật chứng đắc, “Quyền” là tất cả những phương
tiện có trong tay được sử dụng thiên biến vạn hóa, vì
tùy chỗ, tùy lúc, tùy người mà chúng ta thể hiện vô số
việc làm khác nhau, nhưng đều có cùng một mục tiêu dẫn
đến cuộc sống an lạc, giải thoát cho mọi người.
Tiến
bước trên lộ trình này, Phật giáo mãi mãi là ngọn đuốc
soi đường cho nhân loại thoát khỏi thù hận, chiến tranh,
khổ đau, tạo thành thế giới hiểu biết, thương yêu, cảm
thông, chia sẻ, an vui và phát triển.
HT.
Thích Trí Quảng
(Tạp
chí Giác Ngộ)
07-15-2007
12:23:34