|
c
Thâm
ý qua hình tượng Phật, Bồ Tát
Hòa thượng Thích
Thanh Từ
Phần I
TƯỢNG
PHẬT THÍCH CA MÂU NI
(Buddha Sàkyamuni)
DANH HIỆU.
Thích Ca, Trung Hoa dịch là Năng nhân.
Mâu Ni dịch là Tịch Mặc. Nghĩa là người hay phát khởi lòng
nhân mà tâm hồn luôn luôn yên tĩnh.
LƯỢC SỬ.
Trước đây trên 25 thế kỷ, ở
Ấn Độ có vị Thánh xuất thế, đó là đức Phật Thích
Ca Mâu Ni. Khi ấy, xã hội Ấn Độ chia làm bốn đẳng cấp:
Bà-la- môn (Brahmanes), Sát-đế-lỵ (Kastryas), Phệ-xá (Vaisyas)
và Thủ-đà (Soudas) đức Phật Thích Ca sanh trong dòng quý tộc
thuộc đẳng cấp thứ hai. Thân sinh Ngài là vua Tịnh Phạn
(Suddodhana) và thân mẫu là hoàng hậu Ma-gia (Maya), ở thành
Ca- tỳ-la (Kapilavatsu). Ngài giáng sanh vào ngày trăng tròn, tháng
hai Ấn Độ, nhằm ngày rằm tháng tư âm lịch Trung Hoa. Tên
Ngài là Sĩ-đạt-ta (Sidhartha).
Ra đời chưa đầy một tháng, Ngài
đã mồ côi mẹ, nhờ Di mẫu nuôi dưỡng cho đến trưởng
thành. Năm 19 tuổi, Ngài trốn vua cha vượt thành xuất gia
tầm thầy học đạo. Tương truyền trước khi xuất gia, Ngài
đã dạo chơi bốn cửa thành thấy cảnh sanh, già, bệnh, chết.
Từ đó, Ngài ôm lòng thương cảm vô hạn, quyết tìm con đường
giải thoát cho mình và tất cả chúng sanh. Vì thế, Ngài cương
quyết ruồng bỏ ngai vàng và mọi lạc thú ở đời, xuất
gia tầm đạo, mặc dầu có lắm người hết lời khuyên nhủ
ngăn can.
Sau khi xuất gia, Ngài lê bước khắp
nơi tìm thầy học đạo. Ngài đã từng tham học với hai vị
sư trứ danh đương thời là A-la-lã-ca-lan (Aralah-Kalama) và
Uất-đà-già-la- ma (Udraka-Kamapu-tar). Nhưng xét đến kết quả
đạo lý của họ đều không làm cho Ngài thỏa mãn.
Sau đó, Ngài từ giã họ vào rừng
sâu tu khổ hạnh sáu năm, mỗi ngày chỉ ăn uống chút ít
đủ duy trì mạng sống, nhưng rốt cuộc cũng chẳng đem lại
kết quả gì. Cuối cùng nhận thấy phương pháp khổ hạnh
không phải là con đường chân chánh, Ngài liền từ bỏ nó,
trở lại lối sống bình thường, vận dụng tâm trí quán
sát tướng chân thật của vũ trụ. Một hôm ngày thứ 49 ở
dưới cội Bồ-đề, Ngài bừng ngộ thấy rõ chân lý của
cuộc đời, biết được mọi người đều có đủ khả năng
giác ngộ và giải thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi.
Sau khi đã chứng đạo, Ngài không
ấp ủ tư lợi riêng mình, liền nhập thế phổ độ chúng
sanh. Từ đó, Ngài du hành thuyết pháp suốt 49 năm, chu du đến
một phần ba xứ Ấn Độ. Những môn đồ được Ngài giáo
hóa đông vô kể. Nơi Ngài thường đến và thường lưu trú
là thành Vương Xá (Rajagrha) nước Ma-kiệt-đà (Magadha), thành
Phệ-xá-ly (Vésali), thành Xá-vệ (Shavasti) nước Câu-tát-la
(Kosala).
Năm 80 tuổi, nơi rừng Ta-la song
thọ (Sala) ngoài thành Câu-thi (Kusin-agara), sau buổi thuyết
pháp cuối cùng, Ngài vào Niết-bàn (Nibbana).
BIỂU TƯỚNG.
Vào trong các chùa Phật giáo Bắc
tông, ngay giữa chánh điện hoặc thờ một tượng Phật Thích
Ca, hoặc thờ ba tượng ngồi ngang, đức Thích Ca ngự giữa,
bên phải đức Phật Thích Ca là Phật A Di Đà, bên trái là
Phật Di Lặc (Phật tương lai). Lối thờ này tượng trưng
tam thế Phật, Phật Thích Ca là Phật hiện tại, Phật Di Đà
là Phật quá khứ, Phật Di Lặc là Phật tương lai. Bất cứ
lối thờ nào, đức Thích Ca đều ngự ở giữa, nên cũng
gọi Ngài là đức Trung Tôn. Tượng Phật Thích Ca không giống
người Ấn Độ, mà tùy ở nước nào tạo tượng Ngài giống
người nước ấy. Ngài ngự trên đài sen, hai tay để ấn
tam muội, đôi mắt khép lại ba phần tư.
THÂM Ý.
Nhìn sơ qua hình tượng đức Phật
Thích Ca, chúng ta đã thấy những điểm cách xa thực tế.
Tại sao người ta không tạo tượng Ngài thật giống người
Ấn Độ, ngồi trên toà cỏ dưới cội cây Bồ-đề?
Bởi vì Bắc tông Phật giáo quan
niệm đức Phật không phải căn cứ vào con người xác thịt
tầm thường, mà thấy Phật là Pháp thân thường trụ. Hiện
thân Thái tử Sĩ-đạt-ta tu hành thành Phật, chỉ là một
giai đoạn, một hóa thân tùy cơ cảm của chúng sanh thị hiện
đấy thôi. Đã là hóa thân tùy cơ cảm thì ở đâu có cảm
đức Phật đều ứng hiện như nguyện để độ họ. Vì thế,
ở Việt Nam cảm mộ Phật, Phật sẽ thị hiện người Việt
Nam, ở Trung Hoa cảm mộ Phật, Phật sẽ hiện người Trung
Hoa để hóa độ...
Đó là tư tưởng siêu thực, không
còn thấy Phật ở trong một hình thức cố định nào. Đức
Phật đã đồng hóa theo từng dân tộc, từng chủng loại.
Do tư tưởng này, Bắc tông Phật giáo đối với đức Phật
không thấy xa lạ, mà rất gần gủi thân mật và phát sanh
tín ngưỡng "Phật tùy tâm hiện". Ta hãy nghe vị Quốc Sư
núi Yên Tử nói với vua Trần Thái Tông, khi ông này lên núi
cầu đạo:
"Núi vốn không có Phật,
chỉ có ở tâm. Lắng tâm mà thấy, đấy gọi là chân Phật.
Nay bệ hạ muốn giác ngộ tâm ấy thì đứng ở trần gian
mà thành Phật, không phải khốn khổ cầu Phật ở ngoài".
(Khóa Hư Lục)
Đã tin Phật tùy tâm hiện, nếu tâm
mình tưởng Phật tức là có Phật hiện đến. Do đó phát
sanh tín ngưỡng “Phật hiện cứu khổ mọi người”. Cho
nên, những khi lâm tai, mắc họa, người ta hay thành kính,
lễ mễ cầu Phật hiện mách bảo cho phương cách thoát khỏi
tai họa.
Phật ngự trên đài sen cũng là
một ý nghĩa tượng trưng siêu thực. Bởi vì hoa sen được
biểu thị cho đức tánh thanh tịnh và giải thoát. Hoa sen phát
xuất trong vũng bùn nhơ nhớp, mà vẫn tỏa ra mùi hương thanh
khiết. Đó là đặc tính không thể tìm được trong các loài
hoa khác. Nằm giữa vũng bùn nhơ nhớp, mà không bị lây nhiễm
mùi hôi hám, trái lại còn đầy đủ hương vị thơm tho, đó
mới thật là thanh tịnh. Vì cái thanh tịnh ngay giữa chỗ
ô uế, mới chân thật thanh tịnh. Nếu hoa sen mọc giữa bãi
cát trắng phau, hay trên gò đất khô sạch sẽ, dầu có hương
sắc gấp mấy lần hơn vẫn không được quý trọng. Bởi
nó chui từ vũng bùn hôi hám mà lên, lại giữ được tánh
cách thanh khiết, nên mới được mọi người hâm mộ. Đức
Phật cũng thế, trước kia Ngài cũng là một con người như
chúng ta, cũng có gia đình, cũng hưởng giàu sang sung sướng,
nhưng con người ấy không bị dục lạc làm ô nhiễm, không
bị sợi dây gia đình trói buộc. Ở trong cảnh nhiễm ô dục
lạc mà tâm hồn Ngài trinh bạch, ngồi trong tù ngục gia đình
mà chí Ngài đã vượt ra ngoài vũ trụ mênh mông. Đức tánh
trinh bạch và siêu việt ấy, chỉ có hoa sen mới đủ sức
tượng trưng.
Bắc tông Phật giáo đặt trọng
ý nghĩa “thanh tịnh trong ô nhiễm" nên chủ trương "phiền
não tức Bồ-đề”, “sanh tử tức Niết-bàn". Không thể
tìm Bồ-đề ngoài phiền não, không thể có Niết-bàn ngoài
sanh tử. Cứ ngay trong phiền não chúng ta khéo chuyển sẽ thành
Bồ-đề, trong sanh tử khéo chuyển sẽ thành Niết-bàn. Không
chán sợ trốn tránh, không mơ ước mong cầu nơi nào khác.
Vì thế, đi đến chủ trương “tích cực nhập thế”. Bởi
vì không thể có đức Phật ngoài chúng sanh, không thể có
cõi Cực-lạc thanh tịnh ngoài cõi Ta-bà uế trược.
Đôi mắt đức Phât đâm chiêu nhìn
xuống là biểu thị quán sát nội tâm. Giáo lý Phật dạy
là giáo lý nội quan luôn luôn phản chiếu nội tâm để tự
giác tự ngộ. Tâm mình là chủ nhân ông của mọi hành động,
mọi nghiệp quả. Ngộ được tự tâm là thấy được nguồn
gốc vũ trụ và nhân sanh. Vì thế, Phật giáo chủ trương
con người làm chủ mọi quả báo an lạc hay đau khổ của
mình. Muốn tránh quả khổ đau, cầu quả an lạc, con người
phải tự sửa đổi hành vi trong tâm niệm mà hành động nơi
tự thân mình. Một tâm niệm lành, một hành động tốt sẽ
đến cho ta kết quả an vui hạnh phúc. Ngược lại, một tâm
niệm ác, một hành động xấu sẽ chuốc lấy kết quả khổ
đau về nơi mình. Chỉ có ta mới đủ thẩm quyền ban phúc
giáng họa cho ta. Sự cầu cạnh, sự van xin nơi tha nhân hay
thần linh, nếu có chỉ là phần phụ thuộc không đáng kể.
Cho nên, ta phải quán sát lại ta, để luyện lọc tâm tánh
và sửa đổi hành động của mình. Ách yếu của sự tu hành
là phản quán tự tâm. Vua Trần Nhân Tông hỏi về bổn phận,
tông chỉ Thiền, Tuệ Trung Thượng Sĩ đáp:
"Phản quan tự kỷ bổn phận
sự, bất tùng tha đắc". (Tam Tổ Thực Lục) (soi lại nơi
mình là việc bổn phận, không từ nơi người mà được).
Những phút sống lại nội tâm đương
nhiên đôi mắt đâm chiêu nhìn xuống như khi chúng ta muốn
kiểm soát lại tâm tư hay hành động của mình, dù đi, đứng,
ngồi đôi mắt chúng ta nhất định phải nhìn xuống. Khi chúng
ta muốn van xin điều gì với những người đáng kính bên
ngoài dĩ nhiên đôi mắt phải trông lên vị ấy. Vì thế,
khi nhìn lên đôi mắt đức Phật, đôi mắt các vị Thánh
của tôn giáo khác, chúng ta có thể nhận biết tôn giáo nào
chủ trương nội quan, tôn giáo nào chủ trương ngoại quan.
Trên đảnh đức Thích Ca có cục
thịt nổi cao gọi là nhục kế (cục thịt đỏ), để biểu
thị cho trí tuệ tuyệt vời. Theo các kinh Pháp Hoa, Hoa Nghiêm...
Trên đảnh đức Phật có tướng không thể thấy, tướng
ấy bậc Bồ-tát từ sơ địa trở lên chỉ thấy được đôi
phần, trừ Phật với Phật mới thấy trọn vẹn. Tướng ấy
biểu thị cho Pháp thân vì chúng sanh không thể thấy nên gọi
là "vô kiến đảnh tướng".
Chung quanh tượng Phật có những
tia hào quang sáng chiếu để tiêu biểu ánh sáng trí tuệ của
Phật lúc nào cũng soi sáng thế gian. Theo trong kinh nói chung
quanh đức Phật luôn luôn có hào quang soi sáng một tầm. Bởi
vì con người luôn luôn có một lớp nghiệp bao quanh, nếu
nghiệp ác thì hiện lên vầng hắc ám, chúng sanh trông thấy
kinh sợ, nếu nghiệp thiện thì hiện ra ánh sáng trong lành,
chúng sanh trông thấy sanh tâm kính mến. Vì mắt thịt chúng
ta quá thô thiển nên không thể trông thấy rõ ràng, song nếu
tinh tế nhận xét cũng có thể nhận biết phần nào. Như người
hiền lành đến trước chúng ta nhìn thoáng gương mặt là
ta có cảm tình ngay. Nếu người dữ đến trước chúng ta,
nhìn sơ qua ta tự nhiên nảy sanh ác cảm liền. Cái linh cảm
ấy không phải căn cứ vào hình thức, mà nó siêu hình thức.
Thiết thực nhất là các anh đồ tể khi vào xóm làng bị
chó theo đuổi sủa không thôi, dù họ chỉ đi tay không cũng
thế. Cho nên ngày xưa các vị tu hành đắc đạo, có ai đến
tham học, một phen nhìn qua là các Ngài biết phước duyên
kẻ ấy mỏng hay dày, rồi tùy căn cơ giáo hóa. Đức Phật
là con người thuần thiện tâm thanh tịnh, trí sáng suốt thì
ánh hào quang bao bọc chung quanh là lẽ đương nhiên.
Phật giáo Bắc tông thường thờ
tượng Phật Thích Ca sơ sanh. Tượng này hình một hài nhi
đứng trên hoa sen, tay mặt chỉ lên, tay trái chỉ xuống. Đó
là biểu thị một bậc Thánh nhân xuất thế, vừa lọt lòng
mẹ đã có những hành động siêu phàm. Và câu Ngài thốt
ra lúc ấy là:
Trên trời dưới trời,
Chỉ ta hơn hết,
Tất cả thế gian
Sanh, già, bệnh, chết.
Nghĩa là từ nhân gian đến các cõi
trời, đối với vấn đề sanh, già, bệnh, chết chỉ có Ngài
là người vượt ra và cứu thoát tất cả. Song Bắc tông Phật
giáo thường thường dẫn hai câu đầu thôi, để nhấn mạnh
vào chữ "ta" ám chỉ Pháp thân tuyệt đối, trên trời dưới
đất không gì bì kịp.
Đây chỉ lược giải thích vài
đặc điểm trong hình tượng đức Phật Thích Ca. Mong rằng
những khi đến lễ dưới chân tượng Ngài, mỗi người đều
ý thức được mình phải làm gì đối với hình ảnh biểu
thị ấy. Sự hữu ích của việc lễ Phật gốc ở chỗ nhận
được thâm ý rồi thể theo đó sống một cuộc đời cao
đẹp như Ngài.
TƯỢNG
PHẬT A DI ĐÀ
(Buddha Amita)
DANH HIỆU.
Đức Phật A Di Đà là vị giáo
chủ ở cõi Cực-lạc phương tây A Di Đà có nghĩa vô lượng
quang, vô lượng thọ. Nghĩa là hào quang và tuổi thọ của
Ngài không thể lường được.
TIỀN THÂN.
Thời đức Phật Thế Tự Tại Vương,
có vị quốc vương tên Kiều Thi Ca nghe Phật thuyết pháp liền
bỏ ngôi vua xuất gia làm Tỳ-kheo hiệu là Pháp Tạng. Một
hôm, Ngài đảnh lễ Phật cầu xin chứng minh cho Ngài phát
48 lời nguyện. Do nguyện lực ấy, sau này Ngài thành Phật
hiệu A Di Đà ở cõi Cực-lạc. (Kinh Đại A Di Đà) Lại, một
thuở xa xưa ở cõi San Đề Lam có ông vua tên Vô Tránh Niệm.
Do đại thần Bảo Hải khuyến tiến, nhà vua gặp đức Phật
Bảo Tạng, thành tâm cúng dường, quy y thọ giáo. Nhà vua phát
nguyện sau này thành Phật sẽ làm giáo chủ một cõi cực
kỳ trang nghiêm thanh tịnh để giáo hóa chúng sanh. Đức Phật
Bảo Tạng thọ ký cho Ngài sau này sẽ thành Phật hiệu A Di
Đà, cõi nước tên Cực-lạc ở phương Tây. Hiện giờ Ngài
đã thành Phật và đang thuyết pháp tại đó. (Kinh Bi Hoa)
HẠNH NGUYỆN.
Đức Phật A Di Đà xưa phát 48 lời
nguyện lớn, trong đó có lời nguyện sẵn sàng tiếp dẫn
chúng sanh nào niệm danh hiệu của Ngài. Dù người ấy chỉ
niệm mười câu danh hiệu Ngài, Ngài cũng tiếp dẫn vãng sanh
về cõi Cực-lạc.
BIỂU TƯỚNG.
Đức Phật A Di Đà thường thờ
có hai tượng: Tượng ngồi kiết già trên tòa sen, tay kiết
định ấn, tương tự tượng Thích Ca. Tượng đứng trên hoa
sen lơ lửng trong hư không, bên dưới là bể cả sóng dậy
chập chồng, mắt Ngài nhìn xuống, tay mặt đưa lên ngang vai,
tay trái duỗi xuống như sẵn sàng chờ đợi tiếp cứu những
người đang trầm mịch. Tượng ấy gọi là tượng Di Đà
phóng quang.
THÂM Ý.
Chúng ta cần tìm hiểu ý nghĩa tượng
phóng quang này. Theo trong mật giáo giải thích: tay mặt Phật
đưa lên biểu thị tứ thánh (Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát,
Phật), tay trái duỗi xuống biểu thị lục phàm (Thiên, nhơn,
A-tu-la, súc sanh, ngạ quỉ, địa ngục). Nghĩa là Ngài sẵn
sàng tiếp độ lục phàm đưa lên quả vị tứ thánh. Ý nghĩa
hình tượng này, chúng ta thấy rõ hơn, qua bốn câu kệ tán
dương Ngài:
Ái hà thiên xích lãng,
Khổ hải vạn trùng ba;
Dục thoát luân hồi lộ,
Tảo cấp niệm Di Đà.
Tạm dịch:
Sông ái sóng ngàn thước,
Bể khổ dậy muôn trùng;
Kiếp luân hồi muốn thoát,
Sớm gấp niệm Di Đà.
Chúng ta là những chúng sanh đang đắm
chìm trong sông ái, nước mắt đau thương thống khổ tràn
trề như bể cả. Đức Phật Di Đà đang đứng chực trong
hư không, đã duỗi cánh tay vàng chờ đợi cứu vớt chúng
ta. Nhưng chúng ta có chịu ngoi đầu lên khỏi dòng sông ái,
đưa tay cho Ngài cứu vớt hay không? Hay cứ mãi lặn hụp trong
sông mê bể ái, để đức Phật mãi đợi chờ mà không có
một sự đáp ứng nào? Cánh tay vàng kia cứ duỗi thẳng đợi
chờ, mà đàn con dại này mãi say mê lội đuổi bắt những
hòn bọt, lặn mò bóng trăng. Để rồi bị sóng cuốn nước
trôi càng ngày càng ra khơi, khiến người mẹ hiền kia đã
lạc giọng kêu gọi.
Kinh chép:
Các đức Như Lai trong mười
phương nhớ thương chúng sanh như mẹ nhớ con. Nếu con trốn
mẹ thì cái nhớ ấy cũng không ích gì. Nếu con nhớ mẹ như
mẹ nhớ con thì mẹ và con trong đời này, trong các đời sau
quyết không xa nhau. Nếu tâm chúng sanh nhớ Phật niệm Phật
thì trong hiện tại và ở tương lai nhất định thấy Phật,
cách Phật không xa... (Kinh Lăng Nghiêm, chương Đại Thế Chí
niệm Phật).
Hai người cùng hướng mặt về nhau
mà đi, dù điểm phát xuất cách xa thế mấy, nhưng cũng được
gặp nhau. Nếu hai người trở lưng mà đi, dù khi khởi hành
họ ở bên cạnh nhau, song càng đi họ càng xa nhau. Đức Phật
luôn luôn hướng về chúng ta, nếu chúng ta cứ né trốn Ngài
thì làm sao gặp được Phật. Đáng lý chúng ta có cảm thì
Phật mới ứng song ở đây đức Phật sẵn sàng ứng, mà
chúng ta không chịu cảm, thật đúng câu Phật quở: "các ông
là người mê muội đáng thương".
Người phát tâm tu Tịnh độ tin
chắc đức Phật đang chờ đợi tiếp đón chúng ta về cõi
Cực-lạc (tín), gắng công niệm Phật (hạnh), mong mỏi được
sanh về cõi Phật (nguyện). Có đủ ba yếu tố này nhất định
sẽ vãng sanh về Cực-lạc.
Hình ảnh đức Phật A Di Đà là
hình ảnh mong chờ đón tiếp. Chúng ta phải sớm thức tỉnh
nhận chân sự khổ đau, trong khi đang đắm chìm trong bể ái,
để quay về với đức Từ bi. Phật là hiện thân cứu khổ,
chúng ta là thực thể khổ đau. Một ngày nào chúng ta không
còn đau khổ, ngày ấy đức Phật sẽ không còn duỗi tay chờ
đợi cứu vớt chúng sanh.
TƯỢNG
ĐỨC DI LẶC
(Maitreya)
LƯỢC SỬ.
Bồ-tát Di Lặc người Nam Ấn, sanh
trong nhà Bà-la-môn, sau theo Phật Thích Ca xuất gia tu hành.
Phật thọ ký: sau khi Phật Niết-bàn, Bồ-tát Di Lặc sanh về
cung trời Đâu Suất, trụ trên đó bốn ngàn năm (4 000) - tính
theo năm tháng ở thế gian là sáu mươi ức bảy ngàn muôn
năm (6 070 000 000) sau đó sanh xuống thế giới này tu hành ở
trong vườn Hoa Lâm, dưới cội cây Long Hoa thành Phật hiệu
Di Lặc.
CÔNG HẠNH.
Ngài tu pháp quán các pháp Duy thức.
Tất cả chúng sanh mê lầm chấp các pháp thế gian là thật
có (biến kế sở chấp), nên bị sanh tử luân hồi, sự thật
các pháp đều do nhân duyên sanh khởi (y tha khởi), in tuồng
như có; mà không thật có. Chung qui các pháp không ngoài tánh
chân thật viên mãn (viên thành thật), lúc nào cũng tròn đầy
sáng suốt không biến hoại. Quán như thế, phá được cái
chấp mê lầm của phàm phu, nhận thấy hiện tướng các pháp
do nhân duyên sanh khởi, thấu đạt chân tánh các pháp là chân
thật tròn đầy. Đó là giác ngộ chứng quả.
BIỂU TƯỚNG.
Tượng Ngài thờ theo lối Tam Thế
Phật cũng tương tự tượng Phật Thích Ca. Chỉ đáng chú
ý nhất bức tượng hình một vị Hòa thượng mập mạp, miệng
cười toe toét, mặc áo phơi ngực, bày cái bụng to tướng,
chung quanh có sáu đứa bé quấy nhiểu, đứa chọc tay vào
mũi, đứa móc miệng đứa chìa vào hông..., Ngài vẫn cười
tự nhiên. Tượng này cũng gọi tượng Bồ-tát Di Lặc. Đây
là y cứ vào điển tích Bố Đại Hòa thượng - Hòa thượng
mang đãi lớn mà tô tượng.
Bố Đại Hòa thượng xuất hiện
vào đời nhà Lương ở Trung Hoa, Ngài ăn mặc xốc xếch, đi
đâu thường mang cái bị lớn, gặp ai có món gì xin món ấy
dồn vào bị, gặp những bọn trẻ con đem ra phân phát cho
chúng. Bọn trẻ con thích Ngài lắm. Hôm sắp tịch, Ngài ngồi
trên tảng đá bên chùa Nhạc Lâm, nói bài kệ:
Di Lặc chơn Di Lặc,
Phân thân thiên bách ức;
Thời thời thị thời nhân,
Thời nhân tự bất thức.
Dịch:
Di Lặc thật Di Lặc,
Phân thân trăm, ngàn, ức;
Luôn luôn chỉ người đời,
Người đời tự chẳng biết.
THÂM Ý.
Pho tượng này vừa căn cứ vào
hóa thân Bồ-tát, vừa hàm chứa ý nghĩa sâu xa. Di Lặc Bồ-tát
là hiện thân của đức tánh hỷ xả. Bởi vì, Ngài đã thấy
các pháp do nhân duyên sanh khởi, không thật chỉ có giả danh,
nên không chấp các pháp. Các pháp ấy không rời chân tánh
viên mãn, nên dù sanh diệt biến hoại vẫn không thấy mất
còn tăng giảm. Một hôm Hòa thượng Bảo Phước gặp Hòa
thượng Bố Đại liền hỏi: - Đại ý Phật pháp là thế
nào?
Bố Đại buông bị lớn xuống đất,
đứng thẳng khoanh tay.
Hỏi tiếp: - Chỉ là như vậy, hay
lại có việc hướng thượng?
Bố Đại mang bị lên vai, đi.
Qua hành động trên, chúng ta thấy
hạnh chánh yếu của Ngài là Xả. Đại ý Phật pháp là buông
bỏ tất cả. Còn đeo đẳng, còn chấp chặt thì không thể
nào thấu đạt được Phật pháp. Nhưng, xả bằng cách gắng
gượng, xả mà vẫn còn luyến tiếc thì cái xả ấy cũng
chưa thật là xả. Phải xả bằng cách vui vẻ thích thú, thì
cái xả ấy mới thật là hỷ xả. Khi xả tất cả, người
ta tưởng như không còn gì nữa, nhưng không. Sẽ còn đại
Bồ-đề, là pháp hướng thượng. Cho nên, đến câu hỏi thứ
hai, Ngài mang bị lên vai đi. Lấy đức hỷ xả làm chánh yếu,
nên pho tượng Ngài lúc nào nơi miệng cũng nở nụ cười
hỷ hả. Do vui vẻ mà xả, cũng do xả nên được vui. Vì thế,
Ngài vui cười mãi mãi, dù bất cứ ở hoàn cảnh nào. Đến
như sáu đứa bé chơi nghịch ngợm, đứa móc miệng, đứa
chỉ tay vào mắt, đứa ngoáy lỗ tai, đứa chọt vào mũi,
đứa đâm vô ngực, đứa lói vào hông, mà Ngài vẫn nở nụ
cười tự tại. Sáu đứa bé ấy được mệnh danh là Lục
tặc. Nghĩa là sáu đứa giặc hằng theo quấy nhiễu những
kẻ tu hành. Chúng nó tượng trưng cho mắt, tai, mũi, lưỡi,
thân và ý của con người.
Tại sao mắt, tai, mũi, lưỡi, thân
ý của chúng ta mà gọi là sáu đứa giặc? Nếu muốn giết
hết giặc tức là phải tiêu diệt chúng hết sao? -Vì sáu
cơ quan này tiếp xúc với ngoại cảnh, sanh nhiễm ái, gây
ra tội lỗi đau khổ, nên gọi chúng là giặc. Như mắt thấy
sắc sanh đắm trước, dục vọng dấy khởi, rồi muôn ngàn
tội lỗi theo đó mà hình thành. Khi tai nghe tiếng hay, sanh
say mê, tâm hồn xao xuyến, chạy đuổi theo tiếng hay mà quên
hết những gì cao thượng thanh bai. Lúc mũi ngửi mùi hương
sanh lòng ưa thích, càng ưa thích càng kiếm tìm, để thỏa
mãn lòng ưa thích, người ta không ngại gì tội lỗi, do đó
tội lỗi chập chồng. Lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, ý nghĩ
pháp cũng như thế. Đó là nói về chiều thuận của nó. Nếu
về chiều nghịch, mắt thấy sắc xấu sanh chán ghét, mũi
ngửi mùi hôi sanh gớm nhờm, tai nghe tiếng dở sanh bực bội...
là gốc khiến sân hận nổi lên. Tóm lại, tiếp xúc cái thích
với nó thì sanh tham, cái không thích thì sanh sân cả hai điều
là cội nguồn tội lỗi, nên gọi nó là sáu đứa giặc.
Tuy nhiên, không phải phá hoại sáu
cơ quan ấy gọi là giết hết giặc. Phá hoại nó, chúng ta
sẽ thành kẻ tật quyền, không lợi gì cho sự tu tập. Chúng
ta phải học theo gương đức Di Lặc, xả tất cả chấp ngã,
chấp pháp. Ngã pháp đã xả hết, chúng ta sẽ tự tại trước
mọi cảnh, chừng ấy dù bọn lục tặc phá phách đến đâu
cũng không làm não loạn tâm ta. Ta đã thắng được chúng
và hàng phục chúng trở thành tay sai đắc lực của ta. Lúc
chúng ta còn là phàm phu sáu cơ quan ấy là sáu đứa giặc
hằng phá hoại ta, khi chúng ta chứng được quả thánh sáu
cơ quan ấy trở thành sáu thứ thần thông (thiên nhãn thông,
thiên nhĩ thông, thần túc thông, tha tâm thông, túc mạng thông,
lậu tận thông). Thế là, sáu cơ quan ấy thành giặc thù hay
thắng dụng đều do tâm chấp ngã pháp hay xả ngã pháp của
chúng ta mà ra. Nó không phải tội lỗi, không phải công ơn,
tội lỗi hay công ơn gốc ở tâm chấp hay xả của chúng ta
mà thôi.
Biết như vậy, chúng ta gắng tập
đức hỷ xả của ngài Di Lặc buông bỏ tất cả hận thù,
buông bỏ mọi cố chấp, buông bỏ lòng tham trước... Tất
cả đều buông bỏ thì lòng chúng ta nhẹ nhàng như quả bóng
đứt dây, thênh thang như hư không bao hàm vạn tượng, vui
vẻ hồn nhiên như đứa trẻ thơ nhìn vào ống kính vạn hoa.
Được thế, còn gì làm ta đau khổ, còn gì khiến ta phải
bực bội đắm mê. Đến đây, tâm như bể rộng mênh mông,
trời cao thăm thẳm, mặc tình thuyền bè qua lại mà không
lưu lại một vết tích gì trong bể, tùy duyên trăm ngàn mây
nổi mà không ngại nhau trong hư không.
Thờ tượng đức Di Lặc hay lễ
bái Ngài, chúng ta phải nhớ hạnh hỷ xả là pháp tu chánh
yếu để giải thoát mọi khổ đau. Có hạnh hỷ xả là có
giải thoát, có an vui. Hỷ xả là thần dược trị lành mọi
bệnh chấp trước của chúng sanh. Nụ cười của đức Di
Lặc là nụ cười muôn thuở, không bao giờ biến đổi.
BỔ
TÁT QUÁN THẾ ÂM
(Bodhisatva Avalokitesvara)
DANH HIỆU.
Quán Thế Âm, nghĩa là quán sát
tiếng kêu than của chúng sanh trong thế gian để độ cho họ
thoát khổ.
TIỀN THÂN.
Thuở đức Phật Bảo Tạng, Ngài
là thái tử con vua Vô Tránh Niệm. Ngài theo vua cha đến nghe
Phật thuyết pháp và thỉnh Phật cùng Tăng chúng về cung cúng
dường. Do công đức ấy, được Phật thọ ký sau này làm
Bồ- tát hiệu là Quán Thế Âm, phụ tá đức Phật A Di Đà
giáo hóa chúng sanh và sau nữa sẽ thành Phật hiệu là Phổ
Quang Công Đức Sơn Vương (kinh Bi Hoa quyển ba, phẩm Chư Bồ-tát
bổn thọ ký).
HẠNH NGUYỆN.
Bồ-tát Quán Thế Âm không có trong
lịch sử thế giới này. Ngài là vị Bồ-tát hầu cạnh đức
Phật A Di Đà ở thế giới Cực-lạc phương tây. Có chỗ
nói Ngài không cố định ở thế giới nào, tùy chúng sanh
ở đâu đau khổ thì Ngài thị hiện đến cứu độ. Quán
Thế Âm là xem xét tiếng kêu đau khổ của chúng sanh ở đời.
Vì thế, Ngài là hiện thân của từ bi. Chỗ nào có chúng
sanh khổ đau là có Ngài hiện thân đến đấy. Ngài hằng
tùy loại chúng sanh hóa thân độ họ. Có nhiều lần Ngài
hóa thân người nữ độ đời, nên người ta thường gọi
Ngài là Phật Bà.
BIỂU TƯỚNG.
Nghiên cứu về hình tượng Ngài,
chúng ta thấy có lắm tượng. Những tượng y cứ theo giả
sử, như: Quán Âm Hài Nhi (thể theo cốt truyện Quán Âm Thị
Kính), Quán Âm Nam Hải, Quán Âm Tử Trúc... Những tượng y
cứ theo các kinh phái Mật tông, như: Quán Âm Mã Đầu, Quán
Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn, Quán Âm Cữu Diện...
Có một pho tượng phổ thông nhất
là Quán Âm thanh tịnh bình thùy dương liễu. Tượng này Ngài
Trí Khải hằng tán dương, chúng ta cố gắng tìm hiểu. Tượng
Ngài hình người nữ đứng trên hoa sen, tay mặt cầm cành
dương, tay trái cầm bình thanh tịnh, trong bình đựng nước
cam lồ. Chúng ta hằng lạy mười hai câu nguyện sau khi tụng
phẩm Phổ Môn, có câu "Nam mô thanh tịnh bình thùy dương liễu,
Quán Âm Như Lai cam lồ sái tâm nguyện". Câu nguyện này đã
diễn tả đúng hình tượng Ngài. Giờ đây, chúng ta tìm hiểu
chi tiết qua hình tượng đó.
THÂM Ý.
Tại sao Bồ-tát Quán Thế Âm lại
là người nữ? Theo kinh Di Đà nói: người sanh về cõi Cực-lạc
tuy chưa chứng quả Thánh vẫn không có tướng nam, tướng
nữ. Kinh A-hàm nói: người nữ có năm chướng không thể thành
Phật... Thế mà, Bồ-tát Quán Thế Âm lại hiện thân người
nữ?
- Bồ-tát Quán Thế Âm hiện thân
của đức Từ Bi. Muốn nói lên tình thương chân thành tha
thiết nhất trong con người, không tình thương nào qua tình
mẹ thương con. Mẹ đối với con là tình thương chân thành
thâm thúy bao la, khó lấy cái gì có thể hình dung được.
Cho nên, đức Quán Thế Âm hiện thân là một người mẹ hiền
của nhân loại, hay của tất cả chúng sanh. Người mẹ dầu
bận công ăn việc làm gì, một khi nghe tiếng con kêu khóc,
mẹ buông bỏ tất cả vội vàng chạy lại vỗ về con. Đức
Quán Thế Âm cũng thế, dù bận việc giáo hóa ở đâu, một
khi nghe tiếng kêu thương của chúng sanh, Ngài liền hiện thân
đến an ủi. Vì thế, gọi Ngài là Bồ-tát Quán Thế Âm. Người
mẹ hiền của tất cả chúng sanh, người mẹ lúc nào cũng
lắng nghe tiếng nấc nở từ cõi lòng của đàn con dại đang
đắm chìm trong bể khổ mênh mông, để đến xoa diệu, cứu
thoát khiến mọi khổ não đều được tiêu tan.
Tay mặt Ngài cầm cành dương liễu
là tượng trưng cho đức nhẫn nhục. Tay trái cầm bình thanh
tịnh đựng nước cam lồ là tượng trưng cho tâm từ bi. Chỉ
có cành dương liễu mới có khả năng mang nước cam lồ rưới
mát chúng sanh. Dương liễu là loại cây vừa dẻo vừa mềm,
gặp gió mạnh thì uốn mình theo chiều gió, gió dừng là trở
về vị trí cũ. Nếu cứng như cành cây lim, cây gõ thì gió
không thể lay, một khi bị gió lay là phải gãy. Nếu yếu
như cành liễu thì chỉ buông rũ theo chiều gió. Cứng quá,
mếm quá đều không có sức chịu đựng lâu dài. Cành dương
nhờ sức mềm dẻo nên khéo tùy duyên mà không mất vị trí.
Tức là tuy chìu theo cảnh mà không bị cảnh chi phối. Vì
thế, cành dương được tượng trưng cho đức nhẫn nhục.
Nhẫn nhục không có nghĩa ai làm sao cũng được, ai bảo gì
cũng nghe. Chính bản chất của nó là khéo tùy thuận người,
để hướng dẫn họ, theo đường lối hay lập trường của
mình. Tùy thuận mà không bị họ chi phối, ngược lại chi
phối được h?. Người nhẫn nhục mới trông qua như rất
yếu hèn, kỳ thật họ có sức mạnh phi thường, đã tự
chiến thắng được tình cảm, được phản ứng của bản
năng. Họ đã vượt ra ngoài phạm trù con người phàm tục,
nếu lấy con mắt phàm tục nhìn họ thì không thể nào hiểu
nổi. Người chửi ta giận, người đánh ta đở, đó là bản
năng tự vệ của tất cả mọi người. Bị chửi mà không
giận, bị đánh mà không đở, ấy mới là việc khó làm,
phi bậc thánh giả khó thể làm được. Hằng ngày chúng ta
sống theo tình cảm, theo bản năng, thấy những phản ứng
như vậy cho là phải lẽ, hợp lý. Nếu thấy người bị chửi
mà không giận..., chúng ta liền đâm ra bực tức, khi dể họ,
cho là kẻ hèn yếu nhát nhúa. Đâu ngờ, những kẻ ấy đã
đứng trên đỉnh chúng ta, mà ở dưới này chúng ta vẫn tự
cao tự đại.
Nước cam lồ là thứ nước rất
trong, mát và thơm ngọt, do hứng ngoài sương mà được. Chữ
cam là ngọt. Chữ lồ đọc trại chữ lộ, tức là sương
hay móc. Khi người ta bị nóng bức khô khan, nếu được một
giọt nước cam lồ thấm vào cổ sẽ nghe ngọt ngào mát rượi.
Nước cam lồ tượng trưng cho lòng từ bi của Bồ-tát. Khi
chúng sanh bị lửa phiền não thiêu đốt, thiết tha cầu cứu
nơi Bồ-tát, Ngài sẽ mang nước từ bi đến dập tắt và
đem lại cho người sự mát mẻ an lành. Chúng ta đang sống
trong nhà lửa tam giới, ngọn lửa phiền não của chúng ta
nổi cháy rần rần, nếu không có giọt nước từ bi của
Bồ-tát, chắc hẳn tất cả chúng ta đều phải chết thiêu
trong lò phiền não. Từ bi là lòng thương không vụ lợi, không
phân biệt thân sơ, không thấy có quý tiện, lòng thương chân
thật bình đẳng. Sự quý báu cao cả của nó, chỉ có nước
cam lồ mới đủ tính cách tượng trưng. Nước cam lồ chẳng
những cứu người qua cơn khát cháy cổ, mà còn đem lại cho
người mùi thơm ngon ngọt dịu. Từ bi chẳng những cứu người
trong cơn nguy khốn, mà còn đem lại cho người nguồn an lạc
vô biên.
Bởi tính chất quý báu vô thượng
của nước cam lồ như vậy, nên phải đựng nó trong một
cái bình thanh tịnh. Vì của quý bao giờ cũng đựng trong món
đồ quý. Bình thanh tịnh là tượng trưng ba nghiệp trong sạch.
Chúng ta ôm ấp lòng từ bi muốn ra cứu độ chúng sanh, nếu
thân, miệng, ý chưa trong sạch thì khó mong thực hiện lòng
từ bi. Nếu cố gắng thực hiện, một thời gian cũng lạc
về danh hay vì lợi. Ví như người có khoa y dược, sẵn sàng
chữa trị bệnh khổ cho người, khi những con bệnh được
lành, đương nhiên phải có sự đền đáp hay khen ngợi trên
báo chí, nếu người ấy ý chưa trong sạch dễ nóng lòng danh
lợi. Do đó, dần dần làm hoen ố lòng từ bi. Cho nên, muốn
thực hiện lòng từ bi, điều kiện tiên quyết là ba nghiệp
phải thanh tịnh.
Muốn mang nước cam lồ ra rưới
mát chúng sanh, phải dùng cành dương làm phương tiện. Bởi
vì chúng sanh trong đời này nghiệp chướng quá sâu dày, ít
khi thấy lẽ phải. Họ chỉ sống theo bản ngã, sống vì dục
vọng của họ, khó ai làm cho họ hài lòng. Dù người ấy
sẵn sàng tiếp giúp họ trong khi khốn đ?n, mà họ vẫn không
biết ơn, đôi khi còn phản bội. Người sẵn lòng từ bi ra
tế độ chúng sanh, nếu thiếu đức tánh nhẫn nhục thì sự
tế độ khó được viên mãn. Không phải ai ai cũng sẵn sàng
đưa tay cho ta dìu ra khỏi con đường nguy hiểm hết đâu,
dù họ là những kẻ mù. Có kẻ tin đưa tay cho ta dìu đi,
song giữa đường vấp phải những hòn đá nhỏ, hay chạm
những gốc cây, là họ sừng sộ với ta. Có kẻ dìu đi được
một đoạn, họ cho là nhọc nhằn khổ sở, không muốn đi
nữa, rồi kiếm chuyện làm khó dễ ta. Có kẻ không ưng đưa
tay cho ta dìu, lại còn mắng nhiếc ta thậm tệ. Ở những
trường hợp đó, dù ta có thiện chí muốn cứu giúp họ thế
mấy, nếu thiếu đức nhẫn nhục, thử hỏi ta có thể làm
được việc gì? Bởi thế, người học đạo từ bi trước
phải tập đức nhẫn nhục khi nhẫn nhục được thuần rồi
mới ra thực hiện từ bi. Chưa tập được đức nhẫn nhục
đã vội ra thực hành từ bi, chẳng những không làm được
hạnh từ bi, mà lại phát sanh sân hận là khác. Cho nên, phải
có cành dương rồi, sau mới nhúng nước cam lồ rưới mát
chúng sanh.
Để thấy rõ công hạnh từ bi,
chúng ta hãy nghe đoạn văn tán dương năng lực nhành dương
của ngài Thiên Thai:
"Thùy dương liễu biến sái
cam lồ, trừ nhiệt não dĩ giai đắc thanh lương, tầm thinh
cứu khổ ư tứ sanh, thuyết pháp độ thoát ư lục đạo,
bẩm từ bi kiên cố chi tâm, cụ tự tại đoan nghiêm chi tướng,
hữu cầu giai ứng, vô nguyện bất tùng, cố ngã tri lưu, đoan
thừa tịnh quán, thành tụng mật ngôn, gia trì pháp thủy.
Thị thủy giả, phương viên tùy khí, dinh hư nhậm thời, xuân
dương đông ngưng, khẩm lưu lương chỉ, hạo hạo hồ, diệu
nguyên mạc trắc, thao thao hồ, linh phái nan cùng, bích giáng
tàng long, hàn đàm tẩm nguyệt, hoặc tại quân vương long
bút hạ, tán tác ân ba, hoặc cư Bồ- tát liễu chi đầu sái
vi cam lồ, nhất đích tài triêm, thập phương câu tịnh".
Dịch:
"Cầm nhành dương (Ngài)
rưới nước cam lồ lên khắp cả, trừ nhiệt não (Ngài) làm
cho mọi người đều được tắm trong dòng suối thanh lương.
Nghe tiếng kêu mà cứu khổ cho tứ sanh, Ngài thuyết pháp để
độ thoát cho lục đạo. Sẵn tâm niệm từ bi kiên cố, đủ
dáng vẻ tự tại trang nghiêm, không ai cầu mà chẳng ứng,
không nguyện nào mà chẳng thành. Cho nên, chúng con là kẻ
xuất gia, an trụ trong tịnh quán, chí thành đọc lại mật
ngôn và gia trì pháp thủy. Tịnh thủy này vuông tròn tùy theo
bình chứa đựng, có hay không cũng tùy tiết tùy thời. Mùa
xuân là loãng, mùa đông thì đặc, khi chảy khi đọng thật
là mênh mông; nguồn sâu khó lường, chảy mãi thao thao, thật
là dòng linh khôn tuyệt. Ở trong khe đá, nước ngâm bóng loài
rồng, ở dưới ao thu, nước tẩm lấy bóng nguyệt. Tịnh
thủy này hoặc đọng duới ngòi bút của đấng quân vương
để rồi làm tràn ngập sóng ân, hoặc nằm trên đầu nhành
dương liễu của vị giác hữu tình để rưới thành cam lồ
linh diệu. Chỉ cần một giọt nước rưới lên là mười
phương đều được sạch trong". -- (N. H.)
Muốn diễn tả lòng từ bi cao cả
của Bồ-tát Quán Thế Âm, tác giả dùng giọt nước nhành
dương, thật là linh động biến ảo. Nước không cố định
ở một hình thức nào, tùy duyên biến chuyển, có khi là thể
lỏng, có khi là thể cứng, có lúc lại biến thành hơi. Nếu
chúng ta chấp nước chỉ có ở thể lỏng, tức không hiểu
được nước. Không phải chỉ ở một hình thức cố định,
mà linh động tùy duyên. Đủ duyên cơ cảm thì Bồ-tát ứng
hiện.
Nước khi đọng dưới hồ thu trong
xanh in hiện bóng trăng, khi lóng trong khe đá làm nhà cửa loài
rồng, lúc chảy ầm ầm thành suối gào thác đổ, thật không
thể lường được diệu dụng của nước. Lòng từ bi của
Bồ-tát cũng thế, mênh mông như bể cả bao hàm tất cả chúng
sanh, tràn trề như ngọn triều lên mang hạnh phúc cho mọi
loài thọ hưởng. Bất cứ nơi nào, chốn nào có cảm thì
Bồ-tát đều ứng hiện. Sự ứng hiện tùy theo căn tánh chúng
sanh, kẻ thấy Bồ-tát ở hình thức này, người cảm Bồ-tát
nơi tướng trạng khác. Tựu trong có cảm thông nhất định
có linh ứng.
Chỉ một giọt nước (nhỏ mực)
đọng dưới ngòi bút của hàng vua chúa cũng đủ làm cho muôn
dân thấm nhuần ơn vũ lộ. Hoặc một giọt nước (giọt cam
lồ) nằm trên đầu nhành dương liễu của bậc Bồ-tát cũng
đủ giải thoát mọi loài chúng sanh. Lòng từ bi không phải
chỉ có ở trong tâm Bồ-tát, trong tâm những kẻ tu hành, mà
còn có ở trong lòng bậc đế vưong, trong lòng kẻ có quyền
thế. Cho nên, ai cũng có thể là bậc cứu khổ chúng sanh,
miễn họ phát tâm từ bi. Từ bi không phải là gia bảo dành
riêng cho các bậc tu hành, mà nó là của chung tất cả nhân
loại. Dù ở hoàn cảnh nào, trường hợp nào, cũng có thể
thực hiện từ bi được, nếu trong lòng chứa sẵn từ bi.
Qua những lời tán dương trên, chúng
ta thấy lòng từ bi cao cả khôn lường. Chúng ta lễ tượng
đức Quán Thế Âm luôn luôn phải ghi nhớ hai đức tánh căn
bản của Ngài: nhẫn nhục và từ bi, để đem áp dụng vào
bản thân chúng ta. Có thế, sự lễ bái mới thật là hữu
ích và cần thiết vô cùng.
-ooOoo-
Ðầu
trang | Mục lục | Phần I | Phần
II
|