Phần
Ba
VAI
TRÒ CỦA CẦU NGUYỆN TRONG Y KHOA
Trên
đây ta có nói rằng trong khi cầu nguyện, ta có thể cầu với
những người còn sống. Chúng ta cũng đã đi xa hơn bằng cách
nói rằng mình cũng có thể cầu nguyện với trăng sao, và
với cây tùng trước ngõ! Lý do là vì qua trăng sao, qua cây
tùng trước ngõ, và qua những người còn sống, chúng ta có
thể tiếp xúc được với năng lượng của bản môn.
Hồi
Bụt còn tại thế, người ta đã bắt đầu thực tập như
vậy rồi. Các thầy đã niệm: “Con về nương tựa Bụt,
Buddham Saranam Gacchami”. Không đợi Bụt niết bàn rồi ta mới
thực tập quay về nương tựa Bụt. Ngoài ra, hồi đó người
ta cũng đã cầu tăng. Thầy Mục Kiền Liên đã khẩn cầu
tăng thân chú nguyện cho mẹ của thầy. Nghĩa là các thầy
cũng đã thực tập Con về nương tựa Tăng, Sangham Saranam Gacchami.
Tại vì khi các vị xuất gia và tại gia ngồi lại với nhau,
đem năng lượng chánh niệm của mình mà chú nguyện, thì các
vị đó có thể tiếp xúc và đánh động tới cái năng lượng
của các vị Bụt, các vị Bồ tát, cái năng lượng của bản
môn, để đem đến một sự thay đổi.
Năng
lượng chánh niệm là một năng lượng có thật, mà hễ là
năng lượng thì nó có thể thay đổi. Ví dụ năng lượng
mặt trời có thể thay đổi sự sống trên trái đất. Gió
cũng là năng lượng, nước cũng là năng lượng. Chánh niệm
của ta cũng là một loại năng lượng. Năng lượng này có
thể thay đổi được tình trạng của thế giới, của con
người. Cho nên tạo được năng lượng chánh niệm, là chúng
ta có thể cầu nguyện.
Trong
một bài pháp thoại trước đây, tôi có nói rằng trong tăng
thân chúng ta có những vị Bồ tát sống. Những vị Bồ tát
có khả năng nghe chúng ta, hiểu chúng ta, và có thể đem sức
của mình, đem trái tim của mình tới để giúp người khác
được. Điều này có thật. Những vị Bồ tát đó đôi khi
còn rất trẻ. Chúng ta đừng đi tìm các vị Bồ tát ở trên
mây. Ngay trong tăng thân này cũng có rất nhiều vị Bồ tát,
và có khi ngủ chung phòng với một vị Bồ tát mà quý vị
không hay! Quý vị có chuyện gì, có lo buồn nào, có sự khó
khăn nào, thì vị Bồ tát đang ngủ chung phòng với quý vị
cũng có thể giúp quý vị mà quý vị không biết. Vị Bồ
tát bằng xương bằng thịt kia là chị của mình, là anh của
mình, hay là em của mình, mà mình không biết. Mình ưa đi tìm
một vị Bồ tát trong tranh! Có thể tôi đang ở trong một
ngôi nhà, trong đó có đến ba bốn vị Bồ tát mà tôi dửng
dưng, và coi thường.
Bồ
tát là gì? Bồ tát là một con người có năng lượng của
hiểu, có năng lượng của thương, và có năng lượng của
hành động. Khi mình lâm nguy, khi mình gặp khó khăn thì vị
Bồ tát có thể đến để cứu độ mình. Hiểu nghĩa của
Bồ tát như vậy thì quả thật chúng ta có những vị Bồ
tát sống, đang sống ngay trong tăng thân của chúng ta. Họ
đang tu, đang chứng mỗi ngày.
Tu
và chứng là chuyện đang xảy ra hàng ngày trong tăng thân.
Bước mười bước trong chánh niệm là tu. Có sự an lạc thảnh
thơi trong mười bước đó là chứng. Tu chứng không phải
là vấn đề xa vời. Có những cái tu chứng nhỏ đưa tới
cái tu chứng lớn. Chúng ta thực sự đều là những người
có tu và có chứng. Chúng ta phải thấy như vậy để đừng
có mặc cảm trên bước đường tu học.
Trên
đây, chúng ta đã có dịp tìm hiểu bài cầu nguyện của các
tín hữu Ki-tô: Bài Lạy Cha. Chúng ta hãy đọc câu cuối của
bài này: Xin chớ để chúng con sa trước cám dỗ, nhưng cứu
chúng con ra khỏi sự dữ, Amen. (Do not lead us into trial, but save
us from Evil – Ne nous soumets pas à la pentation, mais délivre nous
du Mal).
Xin
chớ để chúng con sa trước cám dỗ, những cám dỗ này là
những cám dỗ của tham, của giận, của chua cay, của nghi
ngờ. Cám dỗ của Sa-tăng, cám dỗ của ba nghiệp chướng[1],
của ngũ dục[2].
Theo
kinh ngiệm thực tập của chúng ta thì khi ở một mình, chúng
ta rất dễ bị cám dỗ, rất dễ bị sa vào sự cám dỗ. Nhưng
khi ở chung trong một tăng thân, ở với sư anh, sư em, hay với
sư chị, sư em, thì chúng ta được bảo bọc bởi cái năng
lượng của tăng thân, và chúng ta sẽ không dễ dàng sa vào
sự cám dỗ. Sự cám dỗ đó có thể là sự sợ hãi. Sợ
hãi cũng là một sự cám dỗ.
Vì
vậy cho nên cầu nguyện cũng có thể thực hiện bằng hành
động, chứ không phải chỉ bằng lời nói. Khi chúng ta có
chánh niệm, khi chúng ta có tăng thân thì chúng ta ở vào một
vị trí vững chãi hơn nhiều. Chúng ta không bị cám dỗ, chúng
ta không bị sa vào những con đường gọi là ác đạo, rơi
vào ba con đường dữ; con đường của ngạ quỉ (tức là
loài quỉ đói, đói hiểu biết, đói tình thương v.v...), của
địa ngục, và của súc sanh. Súc sanh là những sinh vật (trong
đó có con người) không biết từ là gì, bi là gì, không có
trái tim thương yêu và hiểu biết.
Chúng
ta biết rằng trong xã hội ngày nay có biết bao nhiêu thanh
niên, bao nhiêu thiếu nữ đang ở trong địa ngục. Địa ngục
của ma túy, của sự cô đơn, của sự tuyệt vọng, nhiều
lắm, nhiều nhiều lắm! Có những người sống không phải
như những con người, mà như những loài thú vật ở trong
thế giới riêng của họ. Có những người tạo ra địa ngục
chung quanh họ, có những người giết chóc, những người cướp
giật, những người hiếp dâm. Có biết bao nhiêu là quỉ đói
đang đi lang thang. Đói tình thương, đói hiểu biết, đói
gia đình, đói lý tưởng!
Chúng
ta cầu nguyện để không bị sa vào ba con đường dữ đó.
Sự cầu nguyện của mình có thể rất là cụ thể khi mình
chấp nhận một hướng đi, khi mình quay về nương tựa tăng,
khi mình thực tập con đường do Chúa Ki-tô vạch ra, do Bụt
Thích Ca chỉ dạy. Nhờ đó mà mình không bao giờ sa ngã trước
sự cám dỗ, không bao giờ sa vào ba ác đạo là địa ngục,
ngạ quỉ, và súc sanh.
Như
vậy thì người Phật tử cũng không thấy có khó khăn nào
khi cầu nguyện theo chiều hướng của bài Lạy Cha của Ki-tô
giáo. Chỉ có điều là người Phật tử hiểu rằng danh từ
Cha ở đây là để chỉ cho cái Bản môn, cái Nhất tâm, cái
Phật tánh.
TIẾN
TRÌNH CỦA Y KHOA
Ba
mục đích thông thường của sự cầu nguyện mà chúng ta đã
nói đến trên đây, trước hết là sức khỏe; thứ hai là
sự thành công, sự hanh thông hoặc sự phồn thịnh; và thứ
ba là cái liên hệ giữa người với người.
Chúng
ta thường cầu cho cái liên hệ giữa ta và người ta thương
được tốt đẹp hơn, để ta có thể nói chuyện với người
đó, để ta có thể có hạnh phúc với người đó, và quan
trọng hơn hết là để cả ta lẫn người đó không vì phiền
não mà sinh bệnh hoạn.
Y
Khoa Cơ Giới
Đứng
về phương diện sức khỏe, Y khoa đã đi qua nhiều giai đoạn
khác nhau. Trước hết, chúng ta đã từng có một quan niệm
hơi máy móc về y học. Chúng ta nói rằng khi có bệnh thì
đó là vì âm dương ở trong cơ thể của ta không dược điều
hòa. Vì vậy cho nên nếu thiết lập được âm dương điều
hòa trong cơ thể, thì đương nhiên chúng ta có sức khỏe.
Cái ý niệm đó không sai, nhưng chưa hoàn toàn đúng. Tại
vì trong cái ý niệm đó chúng ta chưa thấy sự liên hệ của
tâm đối với thân. Quan niệm đó gọi là quan niệm Y khoa
Cơ giới. La médicine mécanique – Mechanical medicine.
Chúng
ta cứ nghĩ rằng chỉ cần sửa chữa những gì trong phạm
vi của thân thể là chúng ta có thể đem lại sức khỏe. Chúng
ta không chú trọng nhiều tới cái khía cạnh tâm lý. Y khoa
Cơ giới chỉ nhìn bệnh ở nơi thân mà thôi.
Danh
từ của đạo Bụt gọi thân là sắc, sắc thân, tiếng Phạn
là Rūpa, tiếng Anh là Form. Tuy vậy trong bốn năm mươi năm
qua, Y khoa đã tiến bộ rất nhiều. Y khoa đã thấy rằng sức
khỏe của thân thể rất tùy thuộc vào sức khỏe tâm thần
của chúng ta. Có nhiều triệu chứng đau nhức và khó chịu
trong thân đã phát hiện từ cái tâm của chúng. Nếu chúng
ta biết thực tập, biết giải quyết những vấn đề khó
khăn, biết khai thông những bế tắc của tâm thì những cái
đau nhức đó của thân tự nhiên biến mất. Đôi khi chúng
ta có bệnh ngoài da rất nặng, chữa thế nào cũng không bớt,
và chúng ta không biết rằng đó là do sự lo lắng, do sự
buồn khổ mà ra. Đôi khi bao tử của chúng ta thường rất
đau đớn, chúng ta đã uống thử đủ thứ thuốc nhưng không
bớt. Chúng ta không biết rằng đó cũng là do sự lo lắng
mà ra. Chúng ta có những ung thư, có những ung nhọt, sức khỏe
của chúng ta đang xuống dốc, chúng ta cứ tưởng là tại
chúng ta thiếu sinh tố, thiếu cái này, thiếu cái khác. Kỳ
thực những triệu chứng đó có thể phát hiện từ những
cái bế tắc, những điều lo lắng, những nỗi khổ đau ở
trong tâm của ta.
Y
khoa Thân tâm
Ngày
nay chúng ta đã có một quan niệm về y khoa rộng rãi hơn,
gọi là Y khoa Thân tâm, thân và tâm là một hay thân tâm nhất
như. Tiếng Pháp có thể dịch là La médicine Psychosomatique.
Psycho là danh, Somatique là sắc. Chữ danh ở trong đạo Bụt
(Nāma), có nghĩa là tâm. Danh sắc có nghĩa là tâm thân. Hai
cái đi đôi với nhau, không tách rời nhau được. Con người
là một hợp thể của thân tâm, mà danh từ chuyên môn gọi
là một hợp thể danh sắc (Nāma-Rūpa).
Khi
Y khoa tiến tới chỗ thân tâm nhất như, là Y khoa đã công
nhận rằng yếu tố danh có ảnh hưởng tới yếu tố sắc,
và yếu tố sắc có ảnh hưởng đến yếu tố danh. Nếu mình
lo lắng quá thì mình có thể đau bao tử. Nếu mình đau bao
tử thì mình trở nên bi quan, hai cái có ảnh hưởng lẫn nhau.Cho
nên một bác sĩ thông minh là một bác sĩ biết nhìn cả hai
mặt của con người để chữa trị. Anh chàng bị bệnh ngoài
da mà chữa hoài không lành đó, nếu mình bày cho anh ta cách
đi thiền hành, bày cho phương pháp buông thư, thì có thể
anh sẽ hết bệnh mà khỏi phải uống thuốc hay bôi thuốc
gì cả.
Ngành
Y khoa gọi là Mechanical medicine đã được thay thế bằng Psychosomatique
medicine trong vòng 40 năm nay. Một bước tiến rất lớn của
nền y học.
Y
khoa Cộng nghiệp
Ngày
nay, chúng ta đang ở ngưỡng cửa giai đoạn thứ ba của Y
khoa. Chúng ta đã tìm thấy rằng có những yếu tố chữa trị
ngoài sắc, và ngoài danh, tức là ngoài cả thân lẫn tâm!
Bệnh tật của chúng ta có thể tới từ một nguyên do không
phải từ tâm hay từ thân của chúng ta. Ảnh hưởng đó có
thể đến từ một đối tượng rất xa ta, trong không gian
cũng như trong thời gian.
Tới
từ trong không gian, ví dụ người thương của chúng ta ở
quê nhà không có hạnh phúc, thì ở đây chúng ta bệnh! Hoặc
là người ta thử bom nguyên tử ở Đại Dương Châu, thì bên
này chúng ta cũng có thể vì ảnh hưởng của việc thử bom
đó mà bị bệnh.
Ảnh
hưởng đó cũng có thể tới từ trong thời gian. Ví dụ hôm
nay chúng ta bệnh, thì có thể là 20 đời về trước, tổ
tiên của chúng ta đã làm một điều không lành! Hoàn cảnh
thời gian và không gian có ảnh hưởng tới ta như vậy đó,
rất lạ lùng, rất dễ sợ!
Giai
đoạn y khoa thứ ba này, mình tạm đặt tên là Y khoa Cộng
biểu, Collective manifestation, hay Cộng nghiệp, Collective Karma,
hoặc là Cộng thức, tức là Tâm thức cộng đồng, Collectie
conciousness.
Vì
tâm thức cộng đồng bệnh cho nên chúng ta bệnh theo. Mà tâm
thức cộng đồng của xã hội ngày hôm nay đang bệnh lắm!
Vì vậy mà chúng ta phải biết bảo vệ chúng ta, phải biết
phòng hộ và chuyển hóa cho mình. Muốn vậy, chúng ta phải
tạo ra một tăng thân, tạo ra một tâm thức cộng đồng để
bảo vệ cho chúng ta. Ở trong thành phố, chỉ cần nhìn, chỉ
cần nghe, chỉ cần tiếp xúc với một số người là chúng
ta bệnh. Nhưng về tu viện, chúng ta đóng cánh cửa đó lại,
chúng ta mở ra những cánh cửa tâm linh của tăng thân, thì
chúng ta hết bệnh. Những nguyên do của bệnh hoạn nằm ở
trong tâm, trong thân, và chúng còn nằm ở trong một môi trường
lớn lao hơn, đó là môi trường của Tâm thức Cộng đồng.
Ví
dụ ở ngoài đời có nhiều người nghĩ rằng khi mình không
có khả năng đậu được một bằng cấp gọi là Tiến sĩ,
hay tốt nghiệp một chương trình gọi là kỹ sư; hoặc khi
mình không có một công ăn việc làm đàng hoàng; hay khi mình
không có một chiếc xe hơi, thì mình không phải là một con
người bình thường có giá! Mình được mô tả như là một
con người không có khả năng. Cái giá trị của con người
được đánh giá ở chỗ mình có một cái bằng cấp, mình
có một công ăn việc làm, và mình có một chiếc xe hơi! Những
suy nghĩ đó tạo thành một tâm thức cộng đồng.
Khi
mình không có những thứ đó thì chính mình cũng đánh giá
mình rất thấp, mình cho mình không phải là người bình thường.
Trong khi đó, thật sự ai là người bình thường? Ai là người
có hạnh phúc? Đó mới chính là câu hỏi.
Biết
bao nhiêu người có bằng cấp, biết bao nhiêu người có công
việc làm ăn, biết bao nhiêu người có xe hơi nhưng họ vẫn
đau khổ. Lắm lúc họ nghĩ là họ đang sống một cuộc đời
không đáng sống! Trong khi đó thì có rất nhiều người không
cần bằng cấp đó, không cần công việc kia, không cần chiếc
xe hơi nọ, mà vẫn sống rất hạnh phúc, và họ gây được
hạnh phúc cho rất nhiều người.
Nếu
mình cứ để cho cái tâm và cái thân của mình bị ảnh hưởng
bởi cái tư duy của cộng đồng kia, bởi những niềm tin kia,
bởi cái quan niệm kia thì mình sẽ trách mình, mình nói mình
là người bất lực, không có khả năng! Sự sầu khổ, sự
thất vọng đó sẽ làm cho mình bị bệnh.
Trong
khi đó thì người tu biết đường đi của họ. Họ biết
rằng hạnh phúc của họ không tùy thuộc vào bằng cấp ấy,
vào công ăn việc làm ấy, vào chiếc xe hơi ấy, như vậy
mà họ có sức khỏe, họ rất thảnh thơi.
Cho
nên chúng ta có thể dịch Y Khoa cộng nghiệp hay Y khoa cộng
đồng là La médicine de la manifestation collective, và tiếng Anh
là Collective manifestation medicine. Mình sẽ tìm một danh từ
khác hay hơn, nhưng ở đây mình tạm dùng các danh từ này.
Mình cũng có thể dùng danh từ Y khoa Nhất tâm, The medicine
of one mind. Nhất tâm là tâm thức cộng đồng, trong đó có
tâm thức của các vị Bồ tát, của chư Bụt, và của chúng
ta.
Trong
nhất tâm có phần chân tâm và phần vọng tâm. Một điều
gì xảy ra trong không gian và trong thời gian đều có ảnh hưởng
tới cái nhất tâm này cả. Phải thấy như vậy thì chúng
ta mới hiểu được giai đoạn thứ ba này của y khoa.
Những
cái xảy ra có thể rất xa trong không gian, cũng như trong thời
gian. Ngày xưa khi nhà khoa học Kepler[3] khám phá ra rằng trái
đất bị ảnh hưởng của mặt trăng, ông tìm thấy rằng
thủy triều ở trên mặt đất là do sức hút và sự vận
chuyển của mặt trăng tạo ra. Lúc đó không ai chịu nghe ông,
tại vì hai tinh cầu ở xa nhau quá, và có dính líu gì nhau
đâu mà nói trái đất bị ảnh hưởng của mặt trăng? Cho
nên khi Galileo[4] nghe Kepler nói vậy thì cho rằng anh chàng này
còn trẻ quá, chỉ biết nói chơi! Ngày nay thì ai cũng biết
rằng thủy triều trên trái đất là hoàn toàn do sức hút
và sự vận chuyển của mặt trăng tạo ra.
Sức
khỏe của chúng ta cũng vậy. Đừng nói những người ở gần
ta, có những người ở xa ta ngàn dặm, mà cũng góp sức làm
ra sức khỏe của chúng ta! Những gì đã xảy ra, những gì
người đó làm, người đó suy nghĩ, đều có ảnh hưởng
đến sức khỏe của chúng ta. Vì vậy cho nên trong giai đoạn
Y khoa Cộng nghiệp này, bác sĩ phải biết cầu nguyện cho
bệnh nhân. Tại vì cái năng lượng của bác sĩ, cái chánh
niệm của bác sĩ và cái tình thương của bác sĩ, có liên
hệ trực tiếp đến sức khỏe của bệnh nhân.
Bác
sĩ không còn có thể làm việc với tư cách của một cái
máy nữa. Ví dụ như: “Cởi áo ra; thở vào đi; thở ra đi;
há miệng ra và lè lưỡi ra cho tôi xem, nói “à” đi”. Khám
xong thì “Đây là toa thuốc, mua và về uống đi v.v...” Bác
sĩ không còn có thể chỉ làm những điều đó. Trong giai đoạn
thời nay, bác sĩ phải làm khác đi. Bác sĩ phải biết nói:
Tôi sẽ cầu nguyện cho anh, tôi sẽ cầu nguyện cho chị, chúng
ta ngồi đây, chúng ta thở đi, chúng ta dừng cái tâm của
chúng ta lại cho nó an tịnh. Thế nào sức khỏe của anh, của
chị cũng sẽ tăng tiến, bệnh tật của anh, của chị cũng
sẽ thuyên giảm.
Một
vị bác sĩ của thời đại này, trước khi đến phòng mạch,
phải ngồi thiền, phải thực tập hơi thở vào, ra. Sau khi
khám xong, đã cho toa rồi, về nhà, bác sĩ phải cầu nguyện
cho các bệnh nhân của mình.
Nếu
mình không phải là người bệnh, mà là anh của người bệnh,
chị của người bệnh, mẹ của người bệnh, thì mình cũng
phải làm như người bác sĩ kia. Mình không thể nói rằng
em của mình đau, mình đưa nó đến bác sĩ là mình đã làm
tròn nhiệm vụ. Trong cái thấy thứ ba này về y khoa, mình
chịu trách nhiệm về sức khỏe của người mình thương.
Mình sống cho thoải mái, mình sống cho chánh niệm, trong tâm
mình phải có năng lượng của thương yêu, của cầu nguyện,
thì cái sức khỏe của người mình thương mới có thể phục
hồi được.
Trước
đây tôi có nhắc đến bài viết của bác sĩ Larry Dossey. Ông
còn nói rằng trong thời đại này, chúng ta phải mở cửa
cho nền y khoa thứ ba đó. Ông nghĩ một ông bác sĩ mà không
cho phép người ta cầu nguyện cho bệnh của mình, thì bác
sĩ đó có thể bị đưa ra tòa. Tại vì cầu nguyện, tĩnh
tâm, sống an lạc, thì có thể tạo được nguồn năng lượng
để chữa trị cho người bệnh. Vì vậy nếu cấm không cho
cầu nguyện là có thể phạm vào pháp luật. Thành ra các nhà
làm luật phải đưa điều này vào bộ luật mới. Nói như
vậy có nghĩa là khi chữa bệnh, bác sĩ không chỉ chữa trị
bằng cái kiến thức về y khoa của mình, mà còn phải chữa
bằng trái tim của mình, bằng sự cầu nguyện của mình nữa.
Là
một tăng thân, chúng ta biết rằng cái chánh niệm, cái an
lạc và cái thảnh thơi của chúng ta rất có liên hệ đến
bệnh tình của người thương của chúng ta. Cho nên trong những
buổi ngồi thiền, tăng thân phải phóng từ quán và bi quán
về cho những người thân của mình. Tại vì khi mình chế
tác được năng lượng của từ và bi trong tâm mình, thì năng
lượng ấy trước hết chữa trị cho mình. Kế đến, năng
lượng đó mới chữa trị cho người mình thương.
Cái
năng lượng đó nằm ở trong tâm thức cộng đồng, cho nên
nó không cần phải đi từ điểm này đến điểm khác ở
trong không gian như chúng ta thường nghĩ. Dù sư chị Đàm Nguyện
đang ở Hà-nội, nhưng cái giây phút mà tôi ngồi thiền để
phóng từ quán về cho sư chị, thì sư chị nhận được liền
lập tức. Cũng như thiền sinh Jim Foster, mấy ngày hôm nay trong
các thời thiền, tôi đều có phóng cái năng lượng của từ
quán và bi quán cho anh ta, cũng như cho thân phụ của thầy
Sariputra, và cho thầy Thiện Trì. Tôi tin chắc ít nhiều gì
cũng có kết quả. Có thể là nó ít hơn mình mong đợi, nhưng
chắc chắn là có.
Thành
ra khi các thân hữu và đệ tử của tôi cầu nguyện cho tôi,
chắc chắn là tôi có nhận được, và khi mà tôi cầu nguyện
cho họ thì họ cũng nhận thêm được năng lượng. Tại vì
mình biết nhau, mình thương nhau cho nên rất dễ cho mình chế
tác ra năng lượng của từ bi và của thương yêu từ trái
tim của mình.
Cái
mà bác sĩ Larry Dossey gọi là vệ tinh viễn thông hay Thượng
đế, là cái Nhất tâm. Trong cái Nhất tâm đó, có những khối
năng lượng rất lớn. Nếu chúng ta dùng cái năng lượng của
từ quán và bi quán của chúng ta mà xúc chạm cái năng lượng
của Nhất tâm đó, thì chúng ta có thể chuyển hóa, có thể
thay đổi được tình trạng của chúng ta.
Như
vậy trong lịch sử Y học, giai đoạn đầu của y khoa là Y
khoa Cơ giới. Giai đoạn thứ hai là Y khoa Thân tâm Nhất như,
và giai đoạn hiện tại mà y khoa đang vươn tới là Y khoa
Nhất tâm. Y khoa Thân tâm Nhất như, danh từ đạo Bụt còn
gọi là Y khoa Danh Sắc.
Chúng
ta biết rằng trong giáo lý 12 nhân duyên, ta học rằng từ
thức mà phát hiện danh sắc; danh sắc là một giai đoạn của
sự phát hiện của cộng biểu, của sự phát hiện cộng đồng.
Thức đây là Tàng Thức, là A-lại-gia. Danh là tâm của ta,
và sắc là thân của ta. Từ danh sắc sẽ phát hiện ra lục
nhập. Lục nhập tức là sáu căn tiếp xúc với sáu trần.
Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần thì danh sắc có thể bị
xao xuyến, bị rung động, bị vướng mắc, bị bệnh. Cho nên
phải tu học để cho lục nhập đừng là cái nguồn gốc của
bệnh tật. Sự thực tập của chúng ta ở Làng Mai là khi sáu
căn tiếp xúc với sáu trần, thì chúng ta đem ý thức tinh
chuyên để phòng hộ, tức là ta phải phòng hộ sáu căn để
đừng lâm bệnh.
Nhưng
danh sắc từ đâu mà có? Danh sắc từ thức. Thức đây là
tâm thức cộng đồng, còn danh đây là tâm thức cá nhân,
tuy nó vẫn chuyên chở trong nó tâm thức cộng đồng. Thức
là từ A-lại-gia thức (ālayavijñāna – Store consciousness) phát
hiện ra. Con người chúng ta gồm có tâm và thân. Cái sức
khỏe của thân-tâm này, một phần do lục nhập tạo ra, một
phần do thức tạo ra.
Vì
vậy mà y khoa ngày nay phải đi tìm nguồn gốc của bệnh tật
ở trong A-lại-gia thức, tức là ở trong cái tâm thức cộng
đồng. Bác sĩ học sáu năm ở trường Y khoa không đủ, tại
vì tại trường Đại học Y khoa người ta không dạy phép
chẩn bệnh bằng cách đi thám hiểm trong vùng tàng thức. Tuy
rằng các bác sĩ tâm lý có được dạy về phương pháp chẩn
bệnh trong vùng vô thức, nhưng vùng vô thức chỉ là một
phần nhỏ của A-lại-gia thức mà thôi.
Sống
trong một môi trường bệnh hoạn, bị ảnh hưởng cách suy
tư, nói năng, và hành động tiêu cực của môi trường ấy,
sớm muộn gì ta cũng ngã bệnh. Trong môi trường này, thiên
hạ đi tìm thỏa mãn những dục vọng, gây ra khổ đau, tuyệt
vọng và chán chường, tàn hại thân tâm, bít lấp tương lai.
Muốn hết bệnh, ta phải cương quyết ly khai môi trường ấy,
tìm tới một môi trường lành mạnh, thực tập sống một
cuộc sống lành mạnh, nương theo ba quy và năm giới, có sự
bảo hộ ngày đêm của Bụt, các vị Bồ tát, và một tăng
thân đang đi trên đường hướng thiện thì ta mới được
bảo hộ, và mới có cơ hội trị liệu. Vị y sĩ của nền
Y khoa Nhất Tâm phải biết hướng dẫn bệnh nhân của mình
đi trên con đường này.
A-lại-gia
thức là tâm thức cộng đồng. A-lại-gia thức phát hiện
ra sông, ra núi, ra hồ, ra ao, ra không khí, ra nước, ra con chim,
con cá. A-lại-gia làm phát hiện ra y báo. Y báo tốt đẹp hay
xấu xa cũng do ta biết ly khai con đường xấu ác để hội
nhập vào một môi trường lành mạnh. Quí vị đã học Duy
biểu thì biết điều này.
Rất
nhiều bệnh tật của thân và của tâm chúng ta, phát sinh từ
cái tâm thức cộng đồng. Sự trị liệu cho thân tâm chúng
ta tùy thuộc một phần lớn ở tình trạng của tâm thức
cộng đồng đó, cho nên nếu người thương của chúng ta,
nếu bác sĩ của chúng ta, nếu tăng thân của chúng ta biết
cách tạo dựng, chế tác năng lượng của tình thương yêu,
của cầu nguyện để chiếu về ta, bao bọc lấy ta, thì ta
sẽ lành bệnh. Những viên thuốc, những chai thuốc mua ở
nhà thuốc không đủ sức trị liệu chứng bệnh của chúng
ta. Những phương pháp luyện tập mà bác sĩ dạy cho chúng
ta, cũng vẫn còn không đủ thiếu gì trong việc trị liệu.
Bác sĩ phải tìm tới tâm thức cộng đồng và giúp ta đi
vào một tâm thức cộng đồng lành mạnh thì sự chữa trị
mới thêm phần hiệu lực.
Sự
cầu nguyện, sự hộ niệm cho người bệnh như trong đạo
Bụt thường làm, là rất quan trọng cho sự chữa trị bệnh
tật.
Trong
đạo Bụt, chúng ta rất tin ở năng lượng cầu nguyện mà
chúng ta gọi là hộ niệm. Tin nhưng chúng ta không mê tín,
vì chúng ta biết rằng sự cầu nguyện này, sự hộ niệm
này nó căn cứ trên những sự thật rất khoa học, đó là:
Khi tăng thân ngồi lại với nhau và chế tác ra cái năng lượng
của sự hộ niệm, thì chắc chắn năng lượng ấy sẽ có
ảnh hưởng rất lớn, có thể chuyển đổi được tình trạng
người thương của chúng ta.
Chúng
ta còn biết thêm rằng thức này cũng có thể được nuôi
dưỡng, được tạo tác bởi cái vô minh, tiếng Anh gọi là
Ignorance. Cái ignorance càng nhiều chừng nào thì chúng ta càng
có nhiều nguyên do của bệnh chừng đó. Sự tu tập mỗi ngày
của ta, của bạn ta, và của xã hội ta tạo ra cái minh, nhờ
đó mà cái vô minh được chuyển hóa và vắng mặt dần dần.
Khi cái minh được tạo ra thì ta có từ, có bi. Minh đây có
nghĩa là hiểu biết, từ và bi đây là có nghĩa là thương
yêu. Mà có nhiều hiểu biết hơn, có nhiều thương yêu trong
tâm thức cộng đồng, thì tình trạng sức khỏe của cá nhân
sẽ khá hơn. Ta sẽ ít cần đi bác sĩ hơn!
[1]
Nghiệp có nghĩa là hành động. Ba chướng nghiệp là ba hành
động bất thiện và cố ý của thân, khẩu, và ý. Chính chúng
sẽ tác động sự tái sinh, tạo nên sự luân hồi của người
gây nghiệp.
[2]
Là sự tham ái đối tượng thuộc về năm giác quan (mắt,
tai, mũi, lưỡi, và thân) và sự thỏa mãn nơi các đối tượng
đó: Sắc, thanh, hương, vị, và xúc.
[3]
Johann Kepler, Thiên văn và Toán học gia người Đức (1571-1630)
[4]
Galileo Galilei, nhà Vật lý, Toán học và Thiên văn học người
Ý (1564-1642), phát minh ra Viễn vọng kính Thiên văn đầu tiên
(1609) để quan sát vũ trụ.