HIỆU
LỰC CẦU NGUYỆN
(Giảng
chung cho Phật tử và tín hữu Cơ Đốc)
Phần
Một
ĐỐI
TƯỢNG SIÊU HÌNH
Trong
khóa tu mùa đông vừa qua[1] chúng ta có nhắc tới Thiền như
một truyền thống, trong đó hành giả nương vào tự lực
nhiều hơn tha lực. Điều này có nghĩa là mình phải nắm
lấy vận mệnh của mình ở trong tay, chứ không nên chỉ trông
cậy vào một kẻ khác, dù người đó là Bụt.
Nhưng
nếu như vậy thì vai trò của sự cầu nguyện là như thế
nào? Chúng ta có nên cầu nguyện không, và chúng ta có thể
cầu được gì?
Tôi
còn nhớ hôm các sư cô Định Nghiêm và Giải Nghiêm đi thăm
và chia xẻ ở một nữ tu viện Công giáo ở Saint Étienne về,
các sư cô có tâm sự rằng: Thấy mấy bà xơ ở trong tu viện,
cái gì họ cũng khoán trắng cho Chúa, cũng hoàn toàn trông
cậy vào Chúa, phó thác cho Chúa, và như vậy các bà khỏi
phải làm gì hết! Mình thấy mà ham! Còn bên đạo Bụt thì
mình phải lo đủ mọi thứ: Phải thực tập thiền hành, thiền
tọa, phải nắm lấy hơi thở và vận mạng của mình trong
tay, nhiều khi cũng cảm thấy mệt!
Câu
nói đó còn nằm ở trong tim của tôi, và vì vậy trong bài
giảng hôm nay tôi sẽ tìm cách giải đáp cho hai vị đó, cũng
như cho những ai thường thắc mắc về vấn đề linh ứng
của sự cầu nguyện.
NHỮNG
NGHI VẤN KHI CẦU NGUYỆN
Khi
đối diện với việc cầu nguyện, chúng ta thường có nhiều
nghi vấn. Nghi vấn đầu tiên là cầu nguyện có kết quả
không?
Câu
hỏi đó đã được rất nhiều người đặt ra, trong Cơ-Đốc
giáo cũng như trong các truyền thống tôn giáo khác. Tại sao
vậy? Tại vì nếu có linh ứng thì mình mới cầu, còn nếu
không thì tại sao mình lại cầu? Vì vậy mà mình phải trả
lời câu hỏi này trước, rồi sau đó mới đi tìm câu trả
lời cho các nghi vấn khác.
Sự
thật là mình thấy sự cầu nguyện nhiều khi có hiệu lực,
nhiều khi lại chẳng có hiệu lực gì cả! Cho nên nói có
là sai mà nói không cũng không đúng.
Có
một em bé người Mỹ hồi còn sáu tuổi, một hôm ra sân chơi
với con chuột trắng của mình, con chuột mà em thích nhất.
Không biết em chơi với con chuột ra sao mà con chuột chui vào
một cái lỗ, rồi đi thẳng xuống đất mà không trở lên
nữa! Buồn quá trời đất, em bé quỳ xuống, khẩn cầu Chúa
để Chúa đem con chuột lên cho em. Ngoài má em ra thì con chuột
đó là kẻ thân với em nhất, là người bạn số một trong
thiên đường tuổi thơ của em. Không có con chuột đó thì
em buồn khổ vô cùng, em không muốn sống nữa. Vì vậy nên
em đã quỳ xuống, hai tay chắp lại với tất cả trái tim
để cầu nguyện Chúa xin Chúa đem con chuột trở lên cho mình.
Bắt chước mẹ, em lẩm nhẩm khấn cầu: Con tin tưởng hoàn
toàn nơi Chúa, nếu Chúa muốn thì Chúa có thể đem con chuột
trở lên cho con!
Em
bé quỳ suốt một tiếng, rồi hai tiếng đồng hồ, với tất
cả sự chí thành của mình mà con chuột vẫn không chịu trở
lên! Rốt cuộc thì em phải vào nhà ăn cơm. Không có
con chuột, em buồn khổ vô cùng!
Một
vài câu chuyện như vậy đã xảy ra trong đời cậu bé, cho
nên cậu không còn tin vào sự cầu nguyện nữa.
Lớn
lên vào trung học, cậu chọn ngành âm nhạc. Hôm đầu tiên
vào lớp, chàng thấy giáo sư nhạc của chàng là một ông
già lớn tuổi, bệnh hoạn, giọng nói hơi run run. Đặc biệt
là sáng nào vào lớp ông cũng cầu nguyện, cầu nguyện tới
15 phút, làm học trò trong lớp rầu lắm. Tại vì cái cách
thức cầu nguyện của ông không hay ho và hấp dẫn gì cả!
Trước khi bắt đầu, ông thường hỏi: Anh có điều gì cầu
nguyện không? Chị có điều gì cầu nguyện không? Ông ghi
lại hết tất cả những điều mà các học trò của ông muốn
cầu rồi bắt cả lớp cúi đầu xuống, và ông bắt đầu
cầu nguyện cho tất cả mọi người.
Những
điều cầu xin có lúc rất buồn cười, ví dụ: Ngày mai là
ngày chúng con đi picnic, xin trời nắng ráo, đừng mưa! Vì
vậy mà đối với anh chàng học sinh đi học nhạc kia thì
15 phút cầu nguyện trước giờ học là 15 phút chán ngấy,
anh chẳng tin gì hết! Vậy mà ông thầy vẫn tiếp tục làm
một cách rất chí thành, rất tinh chuyên!
Một
hôm có một nữ sinh vào lớp, khóc nức nở. Cô nói rằng
bác sĩ vừa khám phá ra một cái bướu trong óc của má cô,
và bác sĩ còn nói là sợ bà ta không sống nổi qua tuần này!
Cô khóc sướt mướt rất là tội nghiệp, làm tất cả mọi
người trong lớp xúc động! Lúc ấy ông giáo bèn đứng dậy,
giương mắt nhìn cả lớp bằng một cái nhìn rất là mãnh
liệt, rồi tuyên bố: Trong lớp này có ai không tin vào khả
năng cứu chữa của Thượng đế thì đi ra hành lang đứng,
tại vì chúng tôi sẽ cầu nguyện cho má của cô nữ sinh này.
Sau khi cầu nguyện xong thì tôi sẽ cho người ra đón các vị
vào lại! Anh chàng của chúng ta định đứng dậy đi ra, tại
vì anh không tin gì vào sự cầu nguyện cả. Nhưng không biết
tại sao anh lại không đủ can đảm để đi ra, nên anh ngồi
nán lại.
Ông
giáo yêu cầu mọi người cúi đầu xuống, và ông bắt đầu
cầu nguyện. Lời cầu nguyện tuy ngắn gọn nhưng giọng ông
lại rất hùng tráng. Trong tư thế cúi đầu, chắp tay, và
khép mắt, ông nói rằng: Chúng con xin cám ơn Thượng đế
chữa lành cho má cô Nancy ngay trong giờ phút này. Nhân danh
Chúa Ki-tô, Amen! (Lord! We thank you for healing Nancy’s mother right
now. In the name of Jesus Christ, Amen!)
Ông
chỉ nói có chừng đó!
Hai
tuần sau người ta báo tin rằng bà má của Nancy đã lành bệnh.
Bác sĩ rọi kiếng, làm scanner và thấy không còn một dấu
tích tối thiểu nào của cái bướu ngày xưa nữa. Đúng là
một phép lạ! Bà lành lập tức chứ không trải qua một thời
gian trị liệu nào hết!
Lúc
đó anh chàng sinh viên của chúng ta mới bắt đầu tin vào
khả năng cứu chữa của Thượng đế. Anh tin vào sự linh
ứng của việc cầu nguyện, và anh bắt đầu cầu nguyện
cho ông thầy dạy nhạc của mình. Anh đã cầu nguyện với
tất cả tâm thành, tại vì chuyện chữa lành cho bà mẹ của
Nancy là một phép lạ mà anh đã chứng kiến. Anh cầu nguyện
với tất cả trái tim anh cho sức khỏe của ông thầy dạy
nhạc. Nhưng một năm sau thì ông giáo qua đời!
Như
vậy có nghĩa là, để trả lời cho nghi vấn thứ nhất, ta
có thể nói rằng cầu nguyện có khi thành công, có khi không
thành công.
Vì
vậy câu hỏi thứ hai được đặt ra là tại sao cầu nguyện
có khi thành công, có khi không thành công? Có một phương thức
cầu nguyện nào bảo đảm đem lại kết quả không? Nếu người
nào có phương thức đó thì mình sẽ bằng lòng mua với giá
rất cao, vì nếu làm đúng theo phương thức đó thì thế nào
cầu nguyện cũng có kết quả. Nhưng ai là người đang nắm
cái phương thức cầu nguyện có kết quả đó?
Như
đã nói ở trên, khi đối diện với việc cầu nguyện, ta
thường gặp rất nhiều nghi vấn. Vì vậy mà khi đang tìm
câu trả lời cho câu hỏi thứ hai, thì một thắc mắc khác
lại hiện đến. Đó là câu hỏi thứ ba: Nếu Trời đã quyết
định như vậy, nếu Thượng đế đã an bài như vậy rồi,
thì cầu nguyện làm gì nữa? Các nhà thần học nói rằng
nếu Thượng đế đã muốn như vậy thì cái ý nguyện của
Thượng đế sẽ thành tựu (Que ta volonté soit faite) vậy thì
ta cầu làm gì nữa? Nếu tất cả đều đã được Thượng
đế sắp đặt rồi, ví dụ như người đó đến tuổi đó
thì sẽ phải bị bệnh ung thư, thì tại sao ta lại còn cầu
nguyện cho mất công? Ngài đã quyết định rồi mà!
Cũng
như đứng về phương diện nhân quả và nghiệp báo, vì người
kia đã làm những điều ác, cho nên tới giờ phút đó thì
phải bị bệnh này, thì làm sao cầu nguyện mà có thể thay
đổi được?
Một
bên là cái ý chí của Thượng đế, một bên là cái nghiệp
báo của chúng sanh. Nghiệp đã như vậy rồi thì làm sao có
thể thay đổi được quả?
Cái
gọi là ý chí (volonté) của Thượng đế ở trong đạo Ki-tô
cũng tương đương với cái nghiệp báo ở trong đạo Bụt.
Chưa
hết, nghi vấn thứ tư từ từ lộ diện: Nếu cầu nguyện
không có kết quả, có phải là tại đức tin của mình đang
yếu kém hay không? Thánh kinh có nói rằng “Nếu đức tin
của anh vững chãi thì anh có thể dời một ngọn núi từ
chỗ này sang chỗ kia”!
Vậy
thì đức tin của mình lúc nào mới thực sự gọi là đầy
đủ, là vững chãi? Đối với câu chuyện chuột chui vào hố
sâu của cậu bé trên đây, thì một cậu bé sáu tuổi, quỳ
xuống cầu nguyện như vậy, là cậu có một đức tin rất
lớn. Cậu vững tin rằng nếu Thượng đế muốn thì chắc
chắn được! Lúc đó nếu có ai hỏi về niềm tin của cậu,
thì cậu sẽ nói rằng đức tin của cậu rất lớn, tại vì
nó đã được un đúc trong biết bao nhiêu năm tháng! Mỗi đêm
cậu đều có cầu nguyện theo lời chỉ dẫn của má, vậy
mà tại sao lần này cậu lại không thành công trong việc cầu
nguyện?
Hay
là tại trong khi cầu nguyện cậu chỉ có ý muốn được thoả
mãn cái ham muốn của mình, cái ưa thích có con chuột để
làm bạn với mình, mà cậu không thật sự thương con chuột
đó đang bị hoạn nạn ở trong hố sâu? Vì vậy nếu cầu
nguyện mà không có kết quả, thì có phải là do mình không
có tình thương hay không?
Nhiều
khi mình tin rằng mình đã cầu nguyện hết lòng, cầu nguyện
với tất cả mọi tế bào trong cơ thể của mình, với tất
cả mọi giọt máu trong con người của mình, vậy mà cầu
nguyện cũng không thành công! Mình thương người đó quá chừng,
người đó đang hấp hối, vậy mà nói là mình không có tình
thương sao được? Mình thật sự có thương mà!
Tuy
vậy, nếu nhìn sâu vào thì ta sẽ thấy tình thương này đôi
khi không hẳn là tình thương mình hướng về cho người đó,
mà chỉ là vì mình sợ bị bơ vơ, mình lo bị thiếu vắng!
Nếu mình lầm lẫn tình thương với sự sợ hãi về cái bơ
vơ của mình, thì đó có phải là tình thương, hay đó chỉ
là một cái ước muốn, ước muốn người đó được sống
để cho mình khỏi bơ vơ? Cho nên đó không phải thật sự
là tình thương mình dành cho người đó, mà chỉ là tình thương
hướng về cho chính mình.
Đó
là những câu hỏi được đặt ra trong khi mình thực tập
nhìn sâu vào vấn đề. Tất cả những câu hỏi này cũng cần
phải được trả lời.
Ngoài
ra, trong vấn đề cầu nguyện ta còn một câu hỏi cuối, câu
hỏi thứ năm: Người mình cầu nguyện là ai? Thượng đế
là ai? Bụt là ai? Bồ tát Quan Thế Âm là ai? Đức mẹ Maria
là ai?
Nói
rõ ra, câu hỏi cuối cùng trong vấn đề cầu nguyện: Khi cầu,
ta cầu ai?
Tự
lực và Tha lực trong Cầu nguyện
Chúng
ta biết rằng khi ta có một đường dây điện thoại, muốn
cho điện thoại của chúng ta có thể sử dụng được, thì
trong đường dây đó phải có điện. Cũng giống như khi mình
sử dụng máy quạt, tủ lạnh, hay bóng đèn, thì trong dây
điện phải có dòng điện chạy qua. Sự cầu nguyện cũng
vậy. Trong lúc cầu nguyện phải có một năng lượng. Năng
lượng đó là đức tin, là tình thương yêu. Nếu cầu nguyện
mà không có năng lượng của đức tin và của tình thương
thì cũng giống như một đường dây không có điện, hành
động cầu nguyện sẽ không đưa tới một kết quả nào hết.
Trong
đạo Bụt, chúng ta có danh từ tụng kinh. Tụng kinh có nghĩa
là ôn lại, đọc lại những lời Bụt dạy. Có khi chúng ta
tụng một mình, có khi chúng ta tụng với tăng thân. Có khi
chúng ta tụng thầm, có khi chúng ta tụng thành tiếng. Có lúc
trong khi tụng, ta có năng lượng của chánh niệm, của đức
tin, của tình thương. Có lúc chúng ta tụng như những con vẹt,
chỉ để ý đến âm điệu ngân nga của câu kinh tiếng kệ,
mà không để ý gì đến nghĩa lý của lời kinh.
Ta
nên tự hỏi tụng kinh để làm gì?
Trước
hết, tụng kinh là để chúng ta có cơ hội tiếp xúc với
lời Bụt dạy, tiếp xúc với tuệ giác của Bụt. Đồng thời
ta có dịp tưới tẩm những hạt giống đẹp, lành, và tươi
tốt ở trong ta.
Tụng
kinh như thế có thể gọi là cầu nguyện hay không? Nếu chúng
ta hiểu chữ cầu nguyện theo nghĩa sâu của nó thì chúng ta
có thể nói rằng tụng kinh cũng là cầu nguyện. Đúng vậy,
tụng kinh là cầu nguyện, vì ngoài những kinh văn, chúng ta
còn có những bài có tính cách cầu nguyện hơn, như là bài
Nguyện trú cát tường, dạ cát tường, Trú dạ lục thời
hằng cát tường – (Nguyện ngày an lành, đêm an lành, Đêm
ngày sáu thời đều an lành). Đó là một ước mơ, đó là
một lời cầu nguyện.
Nhưng
hành động cầu nguyện này không phải là một sự mơ ước
suông, tại vì đứng sau lưng của lời cầu nguyện đó có
một sự thực tập: Sự thực tập trì tụng kinh chú, và thực
tập chánh niệm. Thành ra lời cầu nguyện này không hoàn toàn
căn cứ trên tha lực. Nó có căn cứ trên tự lực, và ta biết
rằng khi không có tự lực thì cũng không có tha lực.
Trong
bài Hồi Hướng Tiêu Trừ Nghiệp Chướng có câu:
Nguyện tiêu tam chướng trừ phiền não,
Nguyện đắc trí tuệ chân minh liễu.
Nguyện
tiêu tam chướng trừ phiền não, đó là một ước mơ, và
mình đưa ước mơ ấy hướng về Bụt, để Bụt có thể
giúp cho mình tiêu trừ được tam chướng, thoát ra khỏi những
phiền não, và đạt tới cái trí tuệ có thể thấy được
chân tướng của sự vật.
Khi
đọc những câu kinh này chúng ta biết rằng đây không phải
là chuyện khoán trắng cho một người ở ngoài ta. Chúng ta
biết sở dĩ chúng ta mở miệng ra và đọc:
Nguyện tiêu tam chướng, trừ phiền não,
Nguyện đắc trí tuệ chân minh liễu,
Phổ nguyện tội chướng tất tiêu trừ,
Thế thế thường hành Bồ tát đạo,
là
vì chúng ta đang thực tập theo những lời dạy của đức
Thế Tôn, của các vị Bồ tát, cho nên chúng ta mới có được
cái thế đứng để có thể cầu nguyện như vậy. Như vậy
là chúng ta đang phối hợp thế đứng của tự lực với thế
đứng của tha lực.
Rõ
ràng hơn nữa, chúng ta hãy nhắc lại một vài câu trong bài
Đệ tử kính lạy, một bài tụng rất phổ biến ở Việt-nam,
mà Phật tử người lớn cũng như các em trong Gia đình Phật
tử đều thuộc lòng:
Đệ tử lâu đời lâu kiếp,
Nghiệp chướng nặng nề,
Tham, giận, kiêu căng,
Si, mê, lầm, lạc,
Ngày nay nhờ Phật,
Biết sự lỗi lầm,
Thành tâm sám hối.
Đó
là một lời cầu nguyện hay không phải là một lời cầu
nguyện? Không, đây mới chỉ là một sự soi chiếu, một sự
soi gương để có được tuệ giác về sự thật đã xảy
ra cho mình. Đệ tử lâu đời lâu kiếp, Nghiệp chướng nặng
nề, Tham, giận, kiêu căng, si, mê, lầm, lạc. Ngày nay nhờ
Phật, biết sự lỗi lầm. Thành tâm sám hối. Đó mới chỉ
là sự hành trì, chưa phải là lời cầu nguyện. Đó mới
là đem ánh sáng chánh niệm soi chiếu vào tình trạng của
mình, để mình thấy rằng trong quá khứ mình đã có những
vụng dại và lỗi lầm, và nay nhờ ánh sáng từ bi của Bụt
mà mình thấy được những vụng dại và lỗi lầm đó, rồi
mình quyết tâm sẽ không tiếp tục làm như thế nữa. Đó
mới chỉ là một sự thực tập.
Thề
tránh điều dữ, Nguyện làm việc lành (bản chữ Hán là Chư
ác mạc tác, Chúng thiện phụng hành). Những câu này là để
ghi nhận rằng nhờ thấy được giáo lý của Bụt người
hành giả nguyện áp dụng giáo lý ấy vào cuộc sống. Kế
đến mới là lời cầu nguyện:
Ngưỡng trông ơn Phật,
Từ bi gia hộ,
Thân không tật bệnh,
Tâm không phiền não.
Tu
tập cũng như cầu nguyện, là để cho hai mặt của sự sống
của mình là thân và tâm đều được an lành. Nhưng muốn
Thân không tật bệnh, Tâm không phiền não là để làm gì?
Không phải để chạy theo dục vọng, mà để:
Ngày ngày an vui,
Tu tập phép Phật nhiệm mầu,
Để mau ra khỏi luân hồi.
Ta
cầu nguyện như vậy đó. Cầu cho thân không tật bệnh, tâm
không phiền não, là để hàng ngày có thể an vui tu tập phép
Bụt nhiệm mầu mà thoát khỏi luân hồi; tu tập để đạt
tới sự minh tâm kiến tánh mà độ thoát cho mọi loài chúng
sanh. Đó là một lời đại nguyện.
Bài
Đệ tử kính lạy là một bài tiêu biểu cho tinh thần cầu
nguyện của đạo Bụt. Cầu nguyện nhưng tất cả đều căn
cứ trên sự hành trì tu tập của mình. Y vào tự lực nhưng
cũng y vào tha lực, tại vì ta biết rằng nếu không có tự
lực thì tha lực cũng không có.
Ranh
giới giữa tự và tha là cái mà mình phải quán chiếu. Chỗ
nào là chỗ chấm dứt cái tự, và chỗ nào là chỗ bắt đầu
của cái tha? Đó là một câu hỏi rất lớn, nó thuộc về
câu hỏi thứ năm: Cầu ai? Ai là người mình cầu nguyện?
Trong
đạo Bụt, có thể câu hỏi đó (Đối tượng của cầu nguyện
là ai?) là câu hỏi căn bản. Nếu chúng ta tìm được lời
giải đáp của câu hỏi này thì đối với những câu hỏi
khác, chúng ta có thể giải quyết được một cách không khó
khăn gì.
Trong
truyền thống tu tập của người Phật tử, mỗi khi chắp
tay lại trước đối tượng của sự lễ bái, chúng ta phải
quán chiếu để biết mình là ai, và người ngồi hoặc đứng
trước mặt mình mà mình sắp lạy là ai. Trước hết ta phải
thấy giữa hai ta có liên hệ gì với nhau, giữa ta với Bụt
có liên hệ gì với nhau, rồi ta mới nên lạy xuống.
Nếu
anh tưởng rằng Bụt là một thực tại hoàn toàn biệt lập
với anh, không dính líu gì tới anh cả, anh đứng ở dưới
này, còn Bụt ngồi ở trên kia, rồi anh lạy xuống, thì cái
lạy của anh không đúng chánh pháp, tại vì cái lạy của
anh căn cứ trên một tà kiến gọi là Ngã. Bụt có một cái
ngã riêng biệt, hoàn toàn khác với anh, và anh có một cái
ngã riêng biệt hoàn toàn khác với Bụt. Cái lạy đó là một
cái lạy mê tín!
Khi
đứng chắp tay trước đức Thế Tôn, mình phải quán tưởng.
Vì cái hình tượng dù làm bằng đồng, bằng ciment, bằng
ngọc thạch, hay bằng kim cương, cũng đều không hẳn là đức
Thế Tôn. Đó chỉ là một biểu tượng mà thôi. Tượng đó
giống như có mặt ở ngoài ta, nhưng đức Thế Tôn thì không
phải như vậy. Đức Thế Tôn hay là Bồ tát Quán Thế Âm
không phải là những thực tại nằm ngoài ta như là một tượng
đá hay một tượng đồng. Cho nên để tránh thoát, để đừng
bị kẹt vào cái quan niệm sai lầm ngã chấp của sự kính
lạy, chúng ta phải quán tưởng.
Chúng
ta bắt đầu sự quán tưởng bằng câu Năng lễ sở lễ tánh
không tịch. Nếu mình là một chú bé 16 tuổi, mới đi tu,
đọc câu đó trước khi lạy xuống, thì mình chưa hiểu được
nghĩa lý của nó. Nhưng vì thầy dạy mình phải học thuộc
câu đó, cho nên mình học để đọc trước khi lạy vậy thôi.
Có thể là 10 năm hay 20 năm sau, mình mới có tuệ giác để
đọc câu này một cách sâu sắc.
Năng
lễ sở lễ tánh không tịch, có nghĩa là người lạy và người
được lạy, cả hai đều có tánh cách trống rỗng. Một tín
hữu Cơ-đốc giáo mà nghe điều này thì có thể sẽ rất
lấy làm lạ, và có thể rùng mình! Tại sao một tín đồ
mà lại dám nói với vị Giáo chủ của mình: Ngài là rỗng,
Ngài không có một cái ngã riêng biệt?
Đúng
vậy, câu này có nghĩa là thể tính của Bụt và của chúng
sanh, đều là rỗng, đều là lặng. Hòa thượng Thiện Siêu
dịch câu này là Phật, chúng sanh tánh thường rỗng lặng.
Nhưng dịch ra tiếng Việt như thế rồi, đọc mìmh vẫn không
hiểu như thường! Trong cuốn Thương yêu theo phương pháp Bụt
dạy, chúng ta có một bản dịch ý của bài Quán tưởng về
lạy này[2] . Người lạy và người được lạy, cả hai đều
không có bản chất riêng biệt. Mình và Bụt không phải là
hai thực thể riêng biệt. Mình ở trong Bụt và Bụt ở trong
mình, phải thấy cho được điều đó trước khi lạy xuống.
Đây
là một điểm rất đặc biệt của đạo Bụt. Những hạt
giống của tuệ giác này có thể có mặt trong truyền thống
Cơ-đốc giáo, và trong các tôn giáo khác, nhưng đã không biểu
lộ ra một cách quá rõ rệt như trong đạo Bụt.
Năng
lễ là người lạy, Ce lui qui fait la prosternation. Sở lễ là
người được lạy, Ce lui qui reçoit la prosternation. Cả hai
đều rỗng ruột, nghĩa là cả hai đều không có một cái
ngã riêng biệt. Hai ta có dính líu tới nhau.
Cầu
nguyện cho mình
Mùa
hè năm rồi có một thiền sinh bị bệnh, đến Làng Mai để
thực tập. Trong cơ thể của người đó có những tế bào
đang mọc lên một cách lộn xộn. Khi những tế bào mọc lên
không có qui củ, mình gọi đó là ung thư. Có thể ta bị ung
thư là vì nếp sống của ta hàng ngày không được chỉnh
đốn lắm. Lo lắng quá nhiều, sống không có chừng mực,
ăn uống không điều độ.
Sư
cô Chân Không đã dạy cho người thiền sinh ấy phương pháp
cầu nguyện. Trước hết là cầu ông chú và cầu bà ngoại
của cô ta, vì sau khi nói chuyện với vị thiền sinh này, Sư
cô biết rằng người đó có một bà ngoại và một ông chú
sống rất lâu, sống đến 94, 95 tuổi. Cho nên Sư cô nói:
Đạo hữu có thấy không? Những tế bào trong ông chú, trong
bà ngoại rất mạnh, rất khỏe, vì vậy cho nên đạo hữu
phải kêu cầu tới ông chú và bà ngoại: Ông chú ơi đến
giúp con với, bà ngoại ơi đến giúp con với!
Phải
cầu nguyện như vậy là tại trong cơ thể mình có ông chú,
có bà ngoại. Điều này là điều có thật. Nếu mình không
có thì bà ngoại cũng không có, nếu bà ngoại không có thì
mình cũng không có. Bà ngoại và mình là hai thực thể tương
tức với nhau. Những tế bào rất tốt của ông chú, của
bà ngoại hiện đang có mặt trong mình, và mình phải kêu gọi
chúng lên để giúp mình. Tuy rằng ông chú hiện đã khuất
núi, và bà ngoại cũng không còn nữa, nhưng những tế bào
của họ vẫn còn có mặt ở trong mình, nghĩa là họ còn có
mặt ở trong cơ thể mình. Vì vậy mà khi mình kêu gọi ông
chú, kêu gọi bà ngoại, thì mình thấy rõ mình và ông chú
là một, mình và bà ngoại là một.
Hôm
đó vị đạo hữu kia đã thực tập rất thành khẩn, đã
thực tập với một niềm tin. Niềm tin này không phải căn
cứ trên sự mê tín, trên cái giả tưởng, tại vì người
đó đã thấy được một cách rất rõ ràng, rất khoa học
là mình cũng có khả năng của ông chú, mình cũng có khả
năng của bà ngoại, nhưng tại mình làm ăn như thế nào đó
mà bây giờ tình trạng lại sanh ra như thế này! Điều quan
trọng là mình phải chỉnh đốn nếp sống hàng ngày của
mình lại trong khi mình cầu nguyện ông chú và bà ngoại.
Sư
cô Chân Không chỉ cần dạy trong vòng 15 phút mà người đó
đã đạt tới một niềm tin rất lớn, một chánh tín, và
sự cầu nguyện của người đó đã được đặt trên nhận
thức trí tuệ chứ không phải trên mê tín, dị đoan.
Cầu
nguyện cho người
Tối
hôm qua trong khi ngồi thiền, tôi có gởi năng lượng của
tôi cho sư chị Đàm Nguyện ở Hà-nội.
Khi
thực tập từ bi quán thì mình thực tập tình thương, cho
nên sự truyền năng lượng này là một hình thức của cầu
nguyện. Chuyện sư chị lành bệnh hay không lành bệnh, là
chuyện khác. Khi trái tim mình tràn đầy yêu thương (sự yêu
thương của một vị thầy, sự an lạc và sự vững chãi của
vị thầy là một loại năng lượng có thật), trong giây phút
ấy mình gởi cái năng lượng này cho người học trò, đó
mới là vấn đề quan yếu. Người học trò của mình có biết
hay không biết, điều đó không quan trọng lắm. Điều quan
trọng là chỗ cái năng lượng đó nó có, và cái ý chí, lòng
thương yêu, lòng ưu ái đó nó có, và tất cả những năng
lượng đó đã được gởi đi.
Như
vậy thì khi cái bản chất của sự thương yêu, của lòng
từ bi có mặt trong ta, và nếu bản chất đó được gởi
đi, thì đó chính là một sự cầu nguyện. Hành động như
vậy, trước hết mình thấy trong lòng mình có một sự thay
đổi, thì sự cầu nguyện đó đã bắt đầu có kết quả,
kết quả ngay trong lòng của mình. Còn sư chị nhận được
cái năng lượng đó, sư chị lành bệnh ngày hôm nay, hay phải
đợi đến 30 năm sau mới lành, chuyện đó còn tùy thuộc
vào nhiều yếu tố khác. Nếu sư chị sống trong thanh thản,
sống không sợ hãi, sư chị tiếp tục đi thiền hành, sư
chị tiếp tục thở trong chánh niệm thì cái hiệu quả của
sự cầu nguyện sẽ biểu lộ một cách mau chóng hơn, rõ ràng
hơn. Chuyện đó sẽ xảy ra, dù sư chị biết hay không biết
rằng bên này tôi có cầu nguyện cho sư chị.
Trong
thời gian sư chị ở bên này, các sư em đã lo cho sư chị
rất nhiều, biểu lộ sự thương yêu rất nhiều. Sư cô Định
Nghiêm đã đưa sư chị đi nhà thương rất nhiều lần. Tất
cả những yêu thương đó, những năng lượng đó chúng vẫn
còn nằm trong sư chị, và còn nằm ngay trong mỗi chúng ta.
Nếu chúng ta trở về tiếp xúc với những năng lượng để
chữa trị cái thân và cái tâm của mọi người trong chúng
ta, không phải chỉ một mình sư chị Đàm Nguyện mới tiếp
nhận được sự chữa trị đó.
PHƯƠNG
THỨC CẦU NGUYỆN
Thiết
lập sự giao cảm
Người
cầu nguyện và đấng được cầu nguyện là hai thực tại
gọi là không pháp, tức là hai thực tại không tách rời nhau
được. Không pháp có thể được dịch là interrelated realities.
Điều đó là rất căn bản trong đạo Bụt. Tôi tin chắc rằng
trong Cơ-đốc giáo, những người giác ngộ, những người
tu lâu, những người có tuệ giác, cũng thấy được như vậy.
Họ thấy rằng Chúa ở trong trái tim của mình, Chúa là mình,
và mình là Chúa, không phải mình và Chúa là hai thực tại
riệng biệt. Chúng ta không bị chia cách bởi những danh từ.
Nếu thật sự tu học thì chúng ta có cùng một bản chất
của tình thương, của chánh niệm, của tuệ giác với Bụt,
với Chúa. Vì vậy cho nên có những tín hữu Ki-tô thấy rất
rõ rằng đối tượng của cầu nguyện và người cầu nguyện
không phải là hai đối tượng tách biệt.
Năng
lễ, sở lễ tánh không tịch, the one who bows and the one who is
bowed to, are both by nature empty. Empty là không, là trống rỗng.
Đó là giáo pháp về sūnyatā của đạo Bụt. Trống rỗng
ở đây không có nghĩa là không có mặt. Trống rỗng ở đây
có nghĩa là chẳng có một cái thực thể riêng biệt. Thượng
đế và ta là cùng một bản chất. Giữa ta với Chúa không
có một sự phân biệt, cũng như người thiền sinh trên đây
với ông chú, với bà ngoại của cô, không phải là ba cái
thực tại tách biệt. Phải thấy cho được như vậy.
Cho
nên khi đi sang câu quán niệm thứ hai thì ta mới hiểu được:
Cảm ứng đạo giao nan tư nghì, nghĩa là “vì vậy cho nên
sự cảm thông, sự giao tiếp giữa hai bên nó không thể nào
diễn tả được”. Tiếng Anh mình có thể dịch là Therefore
the communication between them is inexpressibly perfect. Vì vậy cho
nên sự truyền thông giữa đôi ta (mình và đấng mình cầu)
là mầu nhiệm vô cùng. Nó không lệ thuộc vào thời gian,
nó không cần tới không gian, và khi mình quán niệm như vậy,
khi mình thiết lập được sự liên hệ chặt chẽ giữa mình
và người mà mình cầu, khi mình thấy được tính cách tuơng
tức giữa mình và người mình cầu nguyện rồi, thì lúc đó
sự cảm thông, sự cảm ứng mới được thực hiện, và thực
hiện liền lập tức. Lúc đó trong đường dây mới thật
có luồng điện, nếu không thì hoàn toàn không có hiệu quả,
totally flat!
Từ
câu hỏi thứ năm (Cầu ai?) chúng ta trở lại câu hỏi
thứ hai (Có một phương thức nào đảm bảo đem lại kết
quả cho sự cầu nguyện hay không?), thì qua hai câu quán niệm:
Năng lễ, sở lễ tánh không tịch,
Cảm ứng đạo giao nan tư nghì,
chúng
ta đã thoáng thấy cái nguyên tắc đầu của phương pháp cầu
nguyện. Đó là: Cái cảm ứng đạo giao, cái sự thông cảm
giữa ta và đấng ta cầu nguyện phải được thiết lập trước.
Sự thông cảm đó không cần thời gian, mà cũng không bị
không gian chi phối.
Chúng
ta biết rằng khi đài truyền hình ABC gửi những tín hiệu
lên vệ tinh viễn thông và những tín hiệu đó từ trên vệ
tinh phát chiếu xuống để cho máy truyền hình của ta tiếp
nhận, thì cũng cần một khoảng thời gian ngắn để các làn
sóng truyền qua không gian. Nhưng trong trường hợp cầu nguyện,
khi chúng ta thiết lập được cảm thông giữa chúng ta bới
Bụt, thì sự cảm thông đó hoàn toàn vượt khỏi ranh giới
thời gian và không gian. Chúng ta không cần đợi một vài ngày
sau mới thấy có kết quả, kết quả có tức thời! Khi pha
cà-phê làm sẵn, instant coffee, thì tuy họ gọi là instant, nhưng
chúng ta cũng phải nấu nước sôi, phải cần thì giờ để
pha cà-phê, thì mới có cà-phê để uống. Còn ở đây, ta
không cần chờ đợi chút nào cả, dù chỉ là một sát-na[3].
Như
vậy thì cái phương thức cầu nguyện có hiệu quả đó được
làm bằng một số những yếu tố, những nguyên tắc. Đầu
tiên là nguyên tắc Năng lễ sở lễ tánh không tịch, cho nên
Cảm ứng đạo giao nan tư nghì. Nói khác đi, trước tiên ta
phải thiết lập cho được sự liên hệ không thể nghĩ bàn
giữa ta và đấng ta cầu nguyện. Nó tương đương với việc
thiết lập đường dây trong vấn đề truyền thông bằng điện
thoại.
Năng
lượng tu tập
Yếu
tố thứ hai của sự cầu nguyện là phải có năng lượng,
tương đương với vấn đề phải có dòng điện trong đường
dây điện thoại.
Trong
sự cầu nguyện, dòng điện đó là tình thương, là chánh
niệm, là chánh định. Phải có niệm, phải có định, phải
có tuệ, và phải có tình thương (tức là từ và bi), thì
mới có hy vọng thành công trong sự cầu nguyện.
Như
vậy tiến trình của việc cầu nguyện là trước hết ta phải
thiết lập sự liên hệ, tức là nối cho được đường dây;
kế đó ta phải chuyền năng lượng của chánh niệm qua đường
dây đó. Dù trong tư thế ngồi, trong tư thế đứng, trong tư
thế quỳ, hay trong tư thế nằm, nếu chúng ta có năng lượng
của niệm, của định, của từ, và của bi thì chúng ta có
thể cầu nguyện được, và hiệu quả của sự cầu nguyện
có thể tức thời, xảy ra cùng một lúc với sự cầu nguyện.
Nếu
hành trì như vậy mà kết quả của sự cầu nguyện vẫn không
thấy, thì chúng ta thường phân vân với câu hỏi thứ tư:
Nếu cầu nguyện không có kết quả, đó có phải là do đức
tin yếu kém hay không? Đó có phải là do tình thương không
có mặt, hoặc còn yếu kém hay không?
Đúng
vậy! Nếu cầu nguyện mà không đủ niệm, mà thiếu định,
thiếu từ, thiếu bi, thì việc cầu nguyện sẽ không thành
công. Các yếu tố đó là những năng lượng cần có để
chuyền vào đường dây. Khi trái tim của anh chưa mở ra, làm
sao anh thấy khỏe được? Khi trái tim anh đã mở ra rồi thì
anh thấy khỏe liền lập tức, anh thấy sự cầu nguyện có
hiệu quả liền lập tức, rõ nhất là trong thân và trong tâm
của chính anh, anh không cần thì giờ chờ đợi kết quả.
Không
những đức tin cần phải có tình thương, mà còn cần phải
có niệm. Theo sự thực tập của chúng ta tại Làng Mai thì
niệm là sự có mặt đích thực của thân và tâm. Thân và
tâm về cùng một mối, trong giờ phút hiện tại. Nếu không
có điều đó thì chúng ta không cầu nguyện được, dù chúng
ta là người Cơ-đốc giáo hay là người Hồi giáo. Nếu anh
không có mặt thì ai là người đang cầu nguyện đây? Cho nên
anh phải có mặt đích thực, thân và tâm anh phải an ổn tìm
về một mối ngay trong giây phút đó, tức là anh phải có
niệm trong lúc anh cầu nguyện. Khi có niệm thì anh có định,
tức là có điều kiện để dẫn đến cái thấy sâu sắc
(Tuệ).
Cái
mà chúng ta nói là nguyên tắc đầu tiên, sự cảm ứng đạo
giao, năng lễ sở lễ tánh không tịch, là một cái tuệ. Cái
tuệ đó có thể được gọi là Không, là Tương tức, the
nature of interbeing. Khi chúng ta chắp tay lại và quán tưởng
Năng lễ, sở lễ tánh không tịch là chúng ta đem cái tuệ
giác Bát nhã, cái tuệ giác tương tức vào để thiết lập
sự liên hệ giữa ta và đấng ta cầu nguyện. Nếu không có
cái đó thì cầu nguyện sẽ không thành. Nếu không có cái
đó thì sự khấn vái chỉ là một sự mê tín.
Khi
ta cầu ông nội, bà ngoại, hay là ông chú, chúng ta phải có
cái tuệ giác tương tức này thì chúng ta mới chạm tới được
những tế bào của ông chú, của bà ngoại ở trong ta. Nhờ
vậy mà những tế bào đó mới bắt đầu sống dậy trong
ta, bắt đầu hoạt động để giúp những tế bào khác tăng
trưởng, những năng lượng đó giúp chúng ta biết đi thiền
hành, biết thở, biết nuôi dưỡng, chăm sóc những tế bào
khác ở trong chúng ta. Ngay lúc chúng ta chạm được tới ông
nội, bà ngoại, ông chú thì những tế bào tươi tốt đó
bắt tay vào việc liền lập tức, không cần chờ đợi một
thời gian nào cả.
Cũng
vậy, khi chúng ta đã tiếp xúc được với Bụt ở trong ta
rồi, khi chúng ta đã tiếp xúc được với Bồ tát Quán Thế
Âm trong ta rồi, thì không đợi thời gian nữa, cái năng lượng
đó của ta và của Bụt đã giao nhau và trong ta đã bắt đầu
có sự chuyển đổi.
Nghiệp
báo và sự cầu nguyện
Chúng
ta đi sang câu hỏi thứ ba: Nếu Thượng đế đã quyết định
như vậy, nếu cái nghiệp lực nó đã như vậy rồi, thì làm
sao chúng ta có thể thay đổi được mà cầu nguyện cho mất
công? Câu hỏi mà chúng ta có thể hỏi lại là Tại sao không?
Trong
đạo Bụt chúng ta đã học được rằng tất cả đều là
vô thường, nghĩa là có thể thay đổi được. Hôm nay khỏe,
ngày mai bệnh; hôm nay bệnh ngày mai có thể hết bệnh. Tất
cả đều vâng theo luật nhân quả.Vì vậy nếu chúng ta có
một năng lượng mới, có một tuệ giác mới, có một niềm
tin mới, thì chúng ta có thể mở ra một giai đoạn mới của
thân và của tâm. Vì vậy cho nên khi ngồi lại để thực
tập đem thân, tâm về một mối, và đưa năng lượng tình
thương của mình về cho bà con hoặc sư chị, hay sư em của
mình, thì lúc đó chúng ta đang chế tác ra một năng lượng
mới. Năng lượng đó lập tức làm cho trái tim ta mở ra. Chúng
ta có cam lồ, có từ bi, và cái khoảng từ Làng Mai đến Hà-nội
không có nghĩa gì cả. Khoảng cách đó so với khoảng cách
từ đây đến vệ tinh viễn thông ngắn hơn rất nhiều. Mà
ngay cả khoảng cách từ đây đến về tinh viễn thông cũng
chẳng có nghĩa gì cả so với việc thiết lập giao cảm giữa
người cầu và người được cầu trong đạo Bụt. Trong sự
cảm thông không thể nghĩ, không thể bàn, trong cái nguyên
tắc năng lễ, sở lễ tánh không tịch thì thời gian và không
gian không là một trở ngại nào cả. Vậy thì cái ý chí của
Thượng đế, cái volonté của Thượng đế cũng là cái ý
chí của ta, tại vì Thượng đế và ta không phải là hai thực
tại riêng biệt. Nếu ta muốn thay đổi thì Thượng đế cũng
sẽ chiều ta. Cụ Nguyễn Du cũng đã thấy điều đó:
Khi nên trời cũng chiều người,
Nhẹ nhàng nghiệp trước, đền bồi duyên sau.
Vấn
đề chính là anh có chịu thay đổi hay không, anh có muốn
thay đổi hay vẫn thích ôm lấy cái thú đau thương, cái thích
thả hồn trong mộng? Nếu anh thực tâm muốn thay đổi thì
Thượng đế cũng sẽ chiều anh để thay đổi.
Khi
nên trời cũng chiều người, trời đây là cái tha lực, mà
trời và ta không phải là hai thực thể cách biệt. Giữa cha
và con cũng vậy, giữa mẹ và con cũng vậy, nếu con thay đổi
thì mẹ thay đổi, nếu con thay đổi thì cha cũng sẽ thay đổi.
Quý hồ là cái năng lượng phát xuất từ người con, nó làm
thay đổi trong trái tim của người con trước, rồi nó sẽ
tạo ra sự thay đổi trong trái tim của người cha, người
mẹ sau. Sở dĩ như vậy là vì chúng ta không phải là những
thực tại độc lập với nhau. Cho nên tuy Thượng đế đã
an bài như vậy, Thượng đế muốn như vậy, nhưng chúng ta
vẫn có thể thay đổi được, tại vì nói theo ngôn ngữ của
Cơ-đốc giáo, chúng ta là con của Thượng đế.
Giữa
tạo hóa (Thượng đế) và tạo vật (vũ trụ chúng sanh) có
liên hệ gì? Một bên là Creator, một bên là Creature. Một
bên là Creator, một bên là Creature. Một bên là Năng sáng tạo,
một bên là Sở sáng tạo, Nếu có dính líu gì, nếu có liên
hệ gì thì mới gọi là Năng với Sở, nếu không thì tại
sao gọi là Năng và Sở?
Năng
sáng tạo là Thượng đế, Sở sáng tạo là thế giới vũ
trụ của chúng ta. Giữa cái năng và cái sở có một liên
hệ mật thiết, như giữa cái trái và cái phải, cái ngày
và cái đêm, cái no và cái đói. Cũng như vật thấy và vật
bị thấy, theo định luật tia tới và tia phản chiếu trong
quang học, chúng có liên hệ mật thiết với nhau. Góc tới
thay đổi, thì góc phản chiếu đổi theo liền lập tức. Vì
vậy cho nên cái mà chúng ta gọi là ý chí của Thượng đế,
La volonté de Dieu, cũng dính líu tới cái volonté của ta, cái
ý chí của ta.
Thành
ra nghiệp báo có thể thay đổi được.
MỤC
ĐÍCH CỦA CẦU NGUYỆN
Ba
điều cầu nguyện thông thường
Chúng
ta có những mong ước, có những điều tâm nguyện, và chúng
ta muốn những điều đó được thực hiện, vì vậy mà chúng
ta cầu nguyện.
Đại
đa số chúng ta mong ước gì? Trước hết là mong ước về
sức khỏe. Tất cả chúng ta ai cũng mong ước có sức khỏe.
Chúng ta mong ước gì nữa? Mong ước sự thành công. Làm gì
chúng ta cũng muốn thành công, đi tu cũng muốn thành công chứ
đừng nói là đi buôn. Chúng ta thường chúc Tết nhau về hai
mặt thành công và thịnh vượng. Điều thứ ba chúng ta mong
ước là sự hài hòa. Thiếu điều thứ ba này chúng ta không
sống hạnh phúc được. Chúng ta có liên hệ với những người
khác, và nếu liên hệ giữa ta với những người này không
được tốt đẹp thì ta không có hạnh phúc, vì vậy mà ta
cầu cho sự liên hệ hàng ngày giữa ta với người kia có
sự hài hòa.
Ở
Đài-bắc có một phụ nữ rất đau khổ vì chồng đi đánh
bạc. Bà không biết làm gì hơn là đến chùa cầu nguyện,
xin đức Bồ tát làm sao để chồng mình bỏ bài bạc, nếu
không thì mối liên hệ giữa mình với chồng sẽ rất cực
nhọc, rất khổ đau. Một bên làm lụng, buôn bán tảo tần,
một bên phung phí tiền bạc, không để ý gì đến vợ con.
Đó là về vấn đề liên hệ. Người đàn bà này không cầu
tiền bạc, không cầu thành công, không cầu sức khỏe, mà
chỉ cầu xin đức Bồ tát cứu giúp, xui khiến cho chồng mình
bỏ bài, bỏ bạc.
Có
một phụ nữ khác, tới chùa cầu nguyện để người đàn
bà kia buông chồng mình ra, tại vì chồng mình đang bị đặt
dưới ảnh hưởng của một người đàn bà ấy. Chúng ta hãy
tưởng tượng một người đàn bà đang đau khổ, ngày đêm
khóc thầm, tại vì chồng mình đã bỏ rơi mình để đi theo
một người đàn bà khác! Trong lòng bà chứa chất những đau
khổ, những oán hận, những ganh tị. Những niềm đau, nỗi
khổ đó biểu lộ ra trong đời sống hàng ngày. Con mắt bà
chứa đầy oán trách, lời nói bà chứa đầy cay đắng. Nhưng
bà càng làm như vậy thì ông chồng bà lại càng chán và càng
bám sát lấy người đàn bà kia. Bây giờ người vợ đó chỉ
có cách đến chùa để lạy đức Bồ tát Quán Thế Âm, cầu
cho người đàn bà kia buông thả chồng mình ra.
Cầu
nguyện như vậy có đúng không, nhất là trong tinh thần đạo
Bụt? Có cần sự thực tập nào đi theo sự cầu nguyện đó
hay không? Trong sự cầu nguyện này có niệm, có định, có
tuệ, có từ, có bi hay không? Hay chỉ có sự giận hờn, sự
trách móc, sự ganh tị, sự uất hận mà thôi? Nếu không có
những năng lượng của niệm, của định, của tuệ, của
tình thương thì làm sao đường dây có điện? Làm sao lời
cầu của mình thấu đến tai Bồ tát được?
Phải
có trí tuệ để thấy rằng mình, chồng mình, và người đàn
bà kia có liên hệ mật thiết với nhau. Phải có những năng
lượng phát xuất từ chính mình thì mình mới có thể thiết
lập được liên hệ với chồng, và với người đàn bà kia.
Tất cả những điều đó đều thuộc phạm vi thực tập.
Chúng
ta cầu nguyện bằng cách nào? Chúng ta phải cầu nguyện bằng
cả thân, cả miệng và cả ý, nghĩa là ta phải cầu nguyện
bằng ý, bằng lời, và bằng sự sống hàng ngày của ta. Thân-khẩu-ý
phải hợp nhất lại trong niệm, và trong tình trạng gọi là
thân tâm nhất như đó, chúng ta mới có thể chế tác ra được
cái năng lượng của đức tin, của thương yêu, và chúng ta
mới thay đổi được tình trạng.
Chúng
ta hãy nhìn vào ba điều cầu nguyện thông thường của mọi
người. Trước hết là cầu xin sức khỏe. Phần lớn chúng
ta đều là những người nghèo mà ham, đều là những thằng
mõ mong được gõ cửa nhà trời! Chúng ta mong mình có cái
sức khỏe gọi là toàn hảo, perfect health. Nhưng cái gọi là
sức khỏe toàn hảo đó chỉ là một ý niệm, nó không bao
giờ có thật trong sự sống.
Sở
dĩ chúng ta còn sống đây là nhờ chúng ta đã từng có bệnh.
Nếu không bệnh thì chúng ta không thể nào sống được. Người
nào trong chúng ta cũng đều đã trải qua cái thời gian đau
vặt vãnh, ốm liên miên, nhất là trong thời thơ ấu. Con người
là một câu lau, một sinh vật yếu đuối, luôn luôn bị hăm
dọa bởi những con vi khuẩn, những con nấm độc. Chúng đầy
dẫy ở trong không khí, trong nước uống, trong thức ăn. Ba
loại sinh vật li ti luôn luôn rình rập, hăm dọa chúng ta,
là Vi trùng (Bacteria), Vi khuẩn (Virus), và Nhiễn khuẩn (Fungus).
Chính
nhờ những lần đau vặt vãnh, chính nhờ luôn luôn bị bao
vây, bị tấn công bởi những con vi sinh đó, mà trong người
của chúng ta mới phát triển ra được một hệ thống kháng
thể, để phòng thủ và bảo vệ cho ta. Như vậy thì nhờ
có bệnh, nên mình mới biết tự vệ để sống còn. Cho nên
đừng ham là mình có được một sức khỏe gọi là không
tật bệnh, một sức khỏe tuyệt đối. Không có bệnh thì
không có sức khỏe! Chúng ta phải nhận thức điều đó và
phải biết sống hòa bình, an lạc với bệnh của mình.
Trong
bụng hơi đầy hơi thì đừng nói rằng vì đầy hơi nên mình
ngồi thiền không được! Phải tập ngồi thiền với một
ít hơi ở trong bao tử. Có hơi ở trong bao tử mà ngồi thiền
có an lạc thì mới gọi là biết tu tập, mới là có điều
kiện để tu tập. Đừng bao giờ nghĩ rằng chừng nào mình
hết đầy hơi thì mình mới ngồi thiền an lạc được! Nếu
vậy thì không bao giờ mình có thể tạo được an lạc trong
khi ngồi thiền! Trong chúng ta người nào cũng có một ít bệnh,
chúng ta phải ký một hiệp ước sống chung an lạc với bệnh
của mình.
Vì
vậy mà trong sự cầu nguyện đừng bao giờ mơ tưởng tới
cái gọi là hoàn toàn không có bệnh. Trong bài Đệ tử kính
lạy, mình phải hiểu câu Thân không tật bệnh là không tật
bệnh đến độ không tu tập được. Phải có một sức khỏe
tối thiểu nào đó thì mới tu tập thành công được.
Ví
dụ trong khu vườn của chúng ta có ba trăm cây rất đẹp,
nào cây tùng, cây bách, cây bồ đề, cây liễu, cây hạnh,
cây lê, cây táo v.v… Trong khu vườn của chúng ta cũng có
thể có ba bốn cây bị chết. Nhưng không phải vì vậy mà
khu vườn không đẹp. Mình đừng than khóc khi thấy ba, bốn
cây trong vườn bị chết khô. Mình phải vui lên vì có đến
ba trăm cây trong vườn còn khỏe mạnh! Trong cơ thể mình cũng
vậy. Mình có một bệnh, hai bệnh, ba bệnh. Nhưng những bộ
phận khác của cơ thể mình đang còn tốt. Phải thấy như
vậy. Mắt của anh còn tốt không? Hai lá phổi của chị còn
tốt không? Hai chân chú còn đi vững không? Tại sao mình không
sung sướng nhận diện những yếu tố đó của sức khỏe,
mà cứ nói rằng tại sao tôi cứ đau cái này nhức cái kia
hoài! Mình phải nhận diện những yếu tố tích cực. Mình
phải biết trong người của mình có thể có tới bảy mươi,
tám mươi, hoặc chín mươi phần trăm cơ phận còn tốt. Đừng
bao giờ than phiền, đừng bao giờ mong cầu một tình trạng
sức khỏe gọi là toàn hảo. Cái đó không bao giờ có. Ngay
cả đức Bổn Sư, ngài cũng đã cần có đức A-Nan xoa bóp,
ngài cũng đã từng bị bệnh đau bụng.
Nếu
mình có vài ba bệnh, và nếu các tật bệnh đó không trầm
trọng đến độ có thể ngăn cản sự tu tập của mình, thì
đó đã được xem là thân không tật bệnh. Với những ốm
đau lặt vặt, mình vẫn có thể hàng ngày an vui tu tập pháp
Bụt nhiệm mầu, để mau ra khỏi luân hồi và giúp được
cho nhiều người khác rồi.
Nếu
chúng ta có một công thức để cầu nguyện cho mọi người
đều có sức khỏe tuyệt đối thì mọi nhà thương đều
đóng cửa, tất cả các y tá, các bác sĩ đều thất nghiệp!
Thành ra chúng ta phải thực tế, đừng mơ tưởng những điều
trên mây. Bệnh tật là một thực tại mà chúng ta phải chấp
nhận, chúng ta phải ký một hiệp ước sống chung an lạc
với chúng. Mình chỉ cần một sức khỏe tương đối. Vì
vậy, trong khi cầu nguyện, chúng ta đừng quá đòi hỏi. Nếu
tất cả mọi người không bệnh, không chết, thì làm gì có
chỗ để chúng ta ngồi trong thiền đường này? Trái đất
cũng sẽ không đủ chỗ chứa!
Chúng
ta phải biết rằng cái bệnh và cái chết là một phần của
sự sống.
Điều
cầu nguyện thứ hai là sự thành công. Ai cũng muốn thành
công. Nhà buôn muốn thành công với tư cách nhà buôn; nhà
văn muốn nổi tiếng, muốn sách bán chạy; người làm phim
muốn phim của mình được nhiều hãng mua. Ai cũng muốn thành
công cả. Người nào cũng muốn cầu nguyện để cho sự làm
ăn của mình thịnh vượng, thành công. Mỗi khi Tết đến
chúng ta thường chúc nhau thịnh vượng, nhưng sự thịnh vượng
đó có hẳn là cái yếu tố không thể có của hạnh phúc
không? Đó là câu đáng hỏi.
Ngoài
ra, sự thịnh vượng của một người có phải kéo theo sự
không thịnh vượng của người khác hay không? Nếu một nước
sản xuất lúa gạo như Việt-nam mà không xuất cảng được
lúa gạo thì nguy lắm. Nếu tất cả các nước đều có thể
sản xuất đủ gạo cho nước mình thì ai là người mua số
lúa gạo thặng dư của các nước khác? Cho nên thỉnh thoảng
phải có những năm mất mùa. Thế giới có những nước cần
mua lúa, mua gạo thì những nước sản xuất lúa gạo mới
có thể làm ăn được. Vì vậy cho nên tất cả chỉ có giá
trị tương đối mà thôi.
Điều
cầu nguyện thứ ba là sự hài hòa. Hài hòa cũng vậy, hài
hòa là làm thế nào để có tình thương, làm thế nào có
sự hòa điệu giữa mình và người mình thương, giữa mình
và gia đình mình, giữa mình và xã hội mình. Đây là một
yếu tố khác của hạnh phúc. Chúng ta có thể làm gì và chúng
ta có thể cầu nguyện cho điều này không? Và cầu nguyện
theo lối nào, theo công thức nào?
Đó
là ba đối tượng cầu nguyện của rất đông người trong
chúng ta, nhỏ cũng như lớn. Thường thường chúng ta cầu
nguyện cho chính chúng ta trước, rồi mới cầu nguyện cho
người ta thương. Thông thường thì ta không cầu nguyện cho
người dưng nước lã, và nhất là không cầu nguyện cho những
người chúng ta ghét, những người đã làm khổ ta.
Điều
cầu nguyện của người tu
Người
xuất gia có một ý niệm khác về cầu nguyện. Ngay trong bài
Đệ tử kính lạy, bài cầu nguyện phổ thông nhất của giới
Phật tử Việt-nam, có nói rất rõ về mục đích của sự
cầu nguyện.
Đã
đành chúng ta cầu thân không tật bệnh, tâm không phiền não.
Nhưng chúng ta không cầu nhận hai điều đó như là hai cứu
cánh, tại vì chúng ta muốn đi xa hơn nữa. Nên nhớ rằng
bài này không phải chỉ dành cho giới xuất gia mà chung cho
tất cả mọi người tại gia, và những em rất trẻ ở trong
Gia đình Phật tử Việt-nam nữa.
Ngửa
trông ơn Phật từ bi gia hộ, thân không tật bệnh, tâm không
phiền não để làm gì? Để hàng ngày an vui tu tập phép Phật
nhiệm mầu, để mau ra khỏi luân hồi, minh tâm kiến tánh.
Đó là câu tụng của người xuất gia. Ra khỏi luân hồi,
vượt thoát sanh tử, là lời cầu nguyện của những người
xuất gia.
Người
xuất gia có thể cầu nguyện sức khỏe, có thể cầu nguyện
thành công, có thể cầu nguyện hài hòa trong tăng thân không?
Có! Nhưng chừng đó chưa đủ. Người xuất gia phải đi đến
một mức độ sâu sắc hơn, đó là giải thoát sanh tử
để có thể thỏa mãn được những nhu yếu rất sâu mà người
tại gia chưa thấy được. Đó là biết rõ tôi từ đâu tới,
tại sao tôi có mặt đây, tôi sẽ đi về đâu, sau khi chết
tôi còn hay không, tôi với Bụt có liên hệ gì không, cái
bản lai diện mục của tôi là gì? Đó là những điều cầu
nguyện sâu sắc nhất của người tu.
Nếu
là người tu mà chỉ cầu nguyện ba điều thông thường là
sức khỏe, thành công và hài hòa, thì chưa phải là người
tu đích thực. Người tu đích thực phải cầu nguyện tới
mức độ sâu sắc hơn. Mình phải làm thế nào để trong đời
sống hàng ngày, mình có thể có cái nhìn chọc thủng được
bình diện tích môn, để đi tới bản môn, mà thấy được
cái bản chất tương tức của vạn sự, vạn vật. Mình phải
thấy được cái Như Lai tạng, cái chân như, cái bản thể,
cái niết bàn thì lúc đó mình mới đạt tới sự thỏa mãn
lớn lao của người tu.
Sự
thỏa mãn đó có rồi thì dầu có sức khỏe nhiều hay sức
khỏe ít, mình vẫn có hạnh phúc như thường. Dù thành công
hay không thành công trong công việc, trong sự tạo dựng chùa
chiền, hoặc trong tổ chức tăng thân, thì mình vẫn không
đau khổ gì cả. Cố nhiên khi mình có hạnh phúc rồi thì
mình sẽ không tranh chấp, không gây chiến tranh, không tạo
khổ đau. Sự hài hòa do đó tự nhiên nó có.
Như
vậy thì chúng ta khác nhau ở chỗ nào? Khác nhau ở trình độ
cầu nguyện của chúng ta. Khi chúng ta đã tiếp xúc được
với bản môn rồi, nghĩa là tiếp xúc được với niết bàn,
với chân như, với Như Lai tạng, khi chúng ta đã bước vào
được thế giới của Hoa Nghiêm, đã tiếp xúc được với
nước Chúa, với Thượng đế rồi, thì cái gì xảy ra trong
tích môn ta cũng chấp nhận được cả, chúng ta đã đi vào
trong cõi an lạc, không còn đau khổ nữa. Sống thêm mười
năm nữa cũng được, mà sống thêm nửa năm nữa cũng không
sao.
Lúc
đó, chúng ta đã thay đổi hẳn cách nhìn của chúng ta. Trước
kia nếu không có cái này, ta sẽ đau khổ vô cùng, nhưng khi
tiếp xúc được với chân như rồi thì không có cái này cũng
không sao. Trước kia không có sự thành công này, ta xem như
cả cuộc đời thất bại, nhưng khi đã tiếp xúc được với
bản môn rồi thì dù chùa của mình có bị cháy, dù người
ta bôi xấu mình, người ta gán cho mình những điều oan ức,
thì mình vẫn mỉm cười, an lạc được như thường. Cái
mà ta cho là sự thành công, căn bản hạnh phúc của đời
ta, ta không cần nữa, tại vì hạnh phúc của ta ở trong bản
môn đã có, và rất lớn, nó vượt thoát khỏi cái thành cái
bại.
Ngoài
ra, khi mình thấy được mình và tất cả chúng sanh là cùng
một bản thể, thì làm gì có sự chia cách mà không có sự
hài hòa? Ta và bụt đã là một, thì làm gì có sự chia cách
nữa? Vì vậy cho nên người tu phải biết cách cầu nguyện,
và cái ước muốn sâu sắc nhất của người tu là tiếp xúc
được với bản môn. Tiếp xúc được với bản môn rồi
thì tự nhiên sức khỏe của chúng ta tăng tiến, chúng ta sẽ
thành công trong sự tu học và hóa độ, chúng ta sẽ tạo được
tăng thân rất an lạc, rất hạnh phúc, rất hài hòa. Nhưng
dù cho sự thành công không tới mức mà ta mong ước, chúng
ta vẫn không thấy khổ. Cho nên chúng ta thấy rằng sự cầu
nguyện của người tu là rất sâu sắc, nó không chỉ nằm
trên bình diện tích môn.
Chúng
ta đừng nghĩ rằng sức khỏe của chúng ta là quan trọng nhất,
sự thành công của chúng ta là quan trọng nhất, hay cái liên
hệ của chúng ta với người thương, với gia đình, với xã
hội là quan trọng nhất. Cái quan trọng nhất của người
tu là chúng ta chọc thủng được bức màn tích môn để đi
vào thế giới của bản môn, để thấy được sự liên hệ,
thấy được cái tương tức giữa ta và Bụt, giữa ta và tất
cả những hiện tượng khác của sự sống quanh ta.
Vì
vậy khi cầu nguyện, chúng ta phải có trí tụê. Đa số chúng
ta khi cầu nguyện thường muốn đức Bồ tát làm cho chúng
ta điều này điều kia, muốn Thượng đế ban cho chúng ta cái
này cái nọ. Chúng ta tưởng rằng nếu Bụt, nếu Bồ tát,
nếu Thượng đế làm cho ta cái đó, ta sẽ có hạnh phúc.
Nhưng cái trí tuệ của chúng ta đâu có đủ để chúng ta
đặt ra một chương trình cho Bụt, cho Bồ tát, hoặc cho Thượng
đế làm theo?
Ví
dụ về sinh môi. Chúng ta muốn cầu nguyện như thế nào? Chúng
ta cầu nguyện cho cây đừng bị đốn, cho các loài chúng sanh
đừng bị sát hại, không bị diệt chủng. Nhưng cái thấy
của chúng ta có đủ để chúng ta đưa ra một chương trình
và nhờ Thượng đế thực hiện giùm không? Tại vì trong chương
trình của Thượng đế, có sự sinh nở, có sự tiêu diệt.
Những con châu chấu đó nếu không chết, mỗi khi hàng trăm
triệu con đáp xuống, thì chỉ trong vài giây đồng hồ là
chúng có thể làm cho mùa màng của cả một vùng bị tiêu
tan. Có những con vi khuẩn có thể ăn những con vi khuẩn khác.
Chúng ta có đủ trí tuệ để thiết kế một sinh môi hay không?
Trong sự sinh nó phải có sự diệt. Phải có những loài này
tấn công những loài khác và tạo thành một thế thăng bằng
để sự sống có thể có mặt được. Chúng ta có đủ trí
tuệ để thiết lập ra sự thăng bằng đó hay không? Nếu
chúng ta không có khả năng đó mà vẫn muốn sự việc xảy
ra theo ý mình, thì sự cầu nguyện của chúng ta chỉ biểu
lộ sự ngu si, sự tham lam của chúng ta mà thôi.
Trí
tuệ của chúng ta về sự sống như thế nào, từ bi của chúng
ta có bao nhiêu mà chúng ta muốn làm một danh sách công việc
để bắt Thượng đế phải làm theo? Cho nên trong khi cầu
nguyện ta phải có trí tuệ, chúng ta đừng đòi hỏi quá đáng
như đòi hỏi một sức khỏe toàn hảo, một perfect health,
một đòi hỏi rất là vô lý!
Chúng
ta cầu nguyện cho bản thân ta, cầu nguyện cho những người
thương của ta, và chúng ta đòi hỏi những điều mà nếu
Thượng đế làm, nếu đức Bồ tát làm thì sẽ tạo ra một
sự xáo trộn rất lớn trong thế giới này, và sẽ gây ra
rất nhiều đau khổ.
Cho
nên phải có trí tuệ trong khi cầu nguyện. Làm sao để có
trí tuệ? Muốn có trí tuệ thì ta phải quán chiếu, phải
đi về bản môn. Một điều mà chúng ta có thể biết được
là khi năng lượng của từ bi, của trí tuệ, của chánh niệm
khởi dậy rồi, thì chúng ta có thể thay đổi được tình
trạng, thay đổi được hoàn cảnh. Thay đổi không phải bằng
cá nhân của ta mà thôi, mà bằng cả tâm thức cộng đồng.
Tâm thức cộng đồng đó là cái chìa khóa của tất cả sự
thay đổi.
Larry
Dossey, một bác sĩ người Mỹ, nói rằng: Thượng đế là
một vệ tinh viễn thông. Tất cả những ước muốn của mình
phải được phóng lên trên đó, rồi Thượng đế sẽ gởi
phán quyết của ngài lại cho người mình muốn cầu nguyện.
Ví
dụ mình là A, mình muốn cầu nguyện cho B, hai bên ở xa nhau.
Mình phải hướng lời cầu nguyện tới Thượng đế và Thượng
đế sẽ phản chiếu lại giùm mình. Mình cầu cho B được
làmh bệnh thì B sẽ được lành bệnh. Vì vậy mà Thượng
đế được ví như là một vệ tinh viễn thông.
Cái
vệ tinh viễn thông mà Larry Dossey gọi là Thượng đế đó,
đạo Bụt gọi là Tâm thức cộng đồng, tức là A-lại-gia
thức, trong đó Bụt và chúng ta là một. Nếu có một sự
chuyển biến ở trong tâm thức cá nhân thì có sự chuyển
biến ở trong tâm thức cộng đồng. Mà khi có chuyển biến
trong tâm thức cộng đồng thì có sự chuyển biến tình trạng
của đối tượng cầu nguyện của chúng ta. Vì vậy cho nên
ta nói rằng tất cả là đều do tâm. Tâm của chúng ta là
một sáng tạo phẩm của tâm thức cộng đồng. Nếu chúng
ta muốn có sự thay đổi, thì chúng ta phải trở về với
tâm.
Tâm
của chúng ta là một trung tâm chế biến năng lượng. Từ
trung tâm điện lực đó, ta mới có thể thay đổi được
thế giới, vũ trụ. Thay đổi bằng những năng lượng có
thật, và do chính ta chế tác ra.
Đó
là cách cầu nguyện hữu hiệu nhất.
[1]
Năm ’95-’96 tại Làng Mai, Pháp
[2]
Xem Thương Yêu theo Phương Pháp Bụt dạy, Nhất Hạnh, Lá Bối,
Walnut Creek, USA, 1995, tr. 192.
[3]
Một đơn vị thời gian rất ngắn.