Ghi
chú: Tập Hiển Tông Ký nầy do thiền sư Thần Hội (?-760)
đời nhà Ðường, Trung Hoa, trước tác. Hoà Thượng Thích
Thanh Từ giảng cho các thiền sinh khóa I, tại tu viện Chơn
Không (Vũng Tàu, Việt Nam) vào đầu thập niên 1970.
A. Phần
Chánh Văn
Vô niệm
vi tông, vô ác vi bổn. Chơn không vi thể, diệu hữu vi dụng.
Phù chơn như vô niệm, phi tưởng niệm nhi năng tri thật tướng.
Vô sanh khởi sắc tâm nhi năng kiến. Vô niệm niệm giả tức
niệm chân như. Vô sanh sanh giả, tức sanh thật tướng. Vô
trụ nhi trụ, thường trụ Niết Bàn. Vô hành nhi hành, tức
siêu bỉ ngạn. Như như bất động, động dụng vô cùng. Niệm
niệm vô cầu, cầu bổn vô niệm. Bồ đề vô đắc tịnh
ngũ nhãn nhi liễu tam thân. Bát nhã vô tri, vận lục thông
nhi hoàn tứ trí. Thị phi tức định vô định, tức huệ vô
huệ, tức hành vô hành. Tánh đẳng hư không, thể đồng pháp
giới. Lục độ tự tư viên mãn. Ðạo phẩm ư thị vô khuy.
Thị tri ngã pháp thể không, hữu vô song dẫn. Tâm bổn vô
tác, đạo thường vô niệm. Vô niệm vô tư, vô cầu vô đắc.
Bất bỉ bất thử, bất khứ bất lai. Thể ngộ tam minh tâm
thông tứ giải. Công thành thập lực, phú hữu thất trân.
Nhập bất nhị môn, hoạch nhất thừa lý. Diệu trung chi diệu,
tức diệu pháp thân. Thiên trung chi thiên, nãi Kim cang huệ.
Trạm nhiên thường tịch, ứng dụng vô phương. Dụng nhi thường
không, không nhi thường dụng. Dụng nhi bất hữu, tức thị
Chân không. Không nhi bất vô, tiện thành diệu hữu. Diệu
hữu tức Ma Ha Bát Nhã. Chân không tức thanh tịnh Niết Bàn.
Bát nhã thị Niết Bàn chi nhân. Niết Bàn thị Bát nhã chi
quả. Bát nhã vô kiến, năng kiến Niết Bàn. Niết Bàn vô
sanh, năng sanh bát nhã. Niết Bàn Bát nhã danh dị thể đồng.
Tùy nghĩa lập danh, cố vân pháp vô định tướng. Niết Bàn
năng sanh Bát nhã tức danh chân thật pháp thân. Bát nhã năng
kiến Niết Bàn cố hiệu Như lai tri kiến. Tri tức chi tâm
không tịch. Kiến tức kiến tánh vô sanh. Tri kiến phân minh,
bất nhất bất dị. Cố năng động tịnh, thường diệu lý
sự giai như như, tức xứ xứ năng thông đạt, tức lý sự
vô ngại. Lục căn bất nhiễm tức định huệ chi công. Lục
thức bất sanh, tức như như chi lực. Tâm như cảnh tạ, cảnh
diệt tâm không. Tâm cảnh song vong thể dụng bất dị. Chơn
như tánh tịch, huệ giám vô cùng. Như thủy phân thiên nguyệt
năng kiến văn giác tri. Kiến văn giác tri, nhi thường niệm
tịnh. Không tức vô tướng, tịch tức vô sanh. Bất dị thiện
ác sở câu. Bất bị tĩnh loạn sở nhiếp. Bất yểm sanh tử,
bất nhạo Niết Bàn. Vô bất năng vô, hữu bất năng hữu.
Hành trụ tọa ngọa tâm bất động diêu. Nhất thiết thời
trung hoạch vô sở đắc. Tam thế chư Phật giáo chỉ như tư.
Tức Bồ tát từ bi đệ tương truyền thọ. Tự Thế Tôn diệt
hậu, tây thiên hị thập bát tổ, cộng truyền vô trụ chi
tâm, đồng thuyết như lai tri kiến. Chi ư Ðại Ma Quật thử
vi sơ đệ đại tương thừa ư kim bất tuyệt. Sở truyền
bí giáo, yếu tạ đắc nhơn. Như vương kế châu, chung bất
vọng dữ. Phước đức trí huệ nhị chủng trang nghiêm. Hạnh
giải tương ưng phương năng kiến lập. Y vi pháp tín, pháp
thị y tông. Duy chỉ y pháp tương truyền cánh vô biệt pháp.
Nội truyền tâm ấn, ấn khế bổn tâm. Ngoại truyền ca sa,
tương biểu tông chỉ. Phi y bất truyền ư pháp, phi pháp bất
thọ ư y. Y thị pháp tín chi y. Pháp thị vô sanh chi pháp. Vô
sanh tức vô hư vọng, nãi thị không tịch chi tâm. Tri không
tịch nhi liễu pháp thân, liễu pháp thân nhi chơn giải thoát.
Ghi
chú: Tác phẩm "Hiển Tông Ký" do Ðại sư Thần Hội Hà Trạch
trước tác, được tìm thấy trong Ðại Tạng Hán quyển 51
trang 459.
B. Phần
Giảng
Thiền
sư Thanh Từ giảng.
Hiển
Tông Ký
Thiền
sư Thần Hội soạn.
Bài Hiển
Tông ký này của Thiền sư Thần Hội, Ngài ở chùa Hà Trạch
cũng gọi là Ðại sư Hà Trạch.
Ngài
là đệ tử của Lục tổ Huệ Năng, người miền bắc kinh
đô Trung Hoa.
Ngài
truyền bá đốn giáo cho nên sau này có một số đệ tử và
vua quan tôn Ngài là tổ thứ bảy Thiền Tông. Lịch sử của
ngài trong quyển Thiền sư Trung Hoa (đời thứ nhất sau Lục
tổ) có ghi rõ. Ở đây không nhắc lại mà chỉ nói đại
lược về thân thế và sự nghiệp của Ngài.
Ngài
là người thông minh từ thuở bé, đã có đủ tu cách đảm
đương được chánh pháp của Lục tổ. Nhưng rất tiếc chánh
pháp của Ngài truyền xuống không được dài lắm, cho nên
phải hệ của Ngài bị mất sớm.
Ở
đây chúng ta muốn biết cương vị của phái thiền đốn ngộ
này, chúng ta cứ đọc và nghiệm xét kỹ bài Hiển Tông ký
này cũng có thể biết được căn bản phần nào.
Bài
Hiển Tông ký quá ngắn, nhưng nếu chịu khó nghiền ngẫm
thật châu đáo thì chúng ta cũng có thể thấy được phần
nào cương lĩnh của thiền tông đốn giáo.
Chánh
văn:Vô Niệm Vi Tông, Vô Tác Vi Bổn.
"Vô
niệm là tâm, Vô tác là gốc".
Với
lời văn rất gọn, ngài nói: vô niệm là tâm. Tâm đây có
nghĩa là chủ. Vô tác vi bổn, bổn đây có nghĩa là gốc.
Ðường lối của thiền đốn ngộ này là lấy vô niệm làm
chủ. Người nào muốn đạt được ông chủ cứu cánh của
mình là phải tu ngay nơi tâm vô niệm này.
Thường
thì chúng ta nghe nói "Vô niệm" mà không biết vô niệm là
thế nào? Ở đây ngài nói vô niệm là tâm. Tâm dấy nghĩ,
tính... là có niệm. Dù nghĩ tính điều lành, điều dữ, thiện,
ác... hay nghĩ tính cái gì đi nữa vừa dấy nghĩ có niệm.
Không nghĩ tính, không dấy niệm gọi là vô niệm. Vô niệm
là chỗ chú trọng nhất của người tu thiền. Vì vậy nên
bao nhiêu phương pháp dạy chúng ta là phải tập cái tâm lặng
lẽ, trong sạch.
Chẳng
những bên Thiền mà cả bên Tịnh cũng thường nói: "Niệm
đến chỗ vô niệm". Nếu người nào niệm đến chỗ vô niệm
thì tức nhiên "Thiền Tịnh" đã gặp nhau. Chỗ vô niệm này
mình phải biết nó là Thể Chơn Tịnh. Phần sau ngài nói:
"Vô niệm tức chân như". Khi đạt được tâm vô niệm thì
đó là đạt được tâm chân như, mà chân như là thể gốc
của tất cả. Vì vậy nên nói nó là tâm, tâm tức là ông
chủ của mình chứ không có chi khác.
Vô
tác cũng như ở trong cái không, vô tướng, vô tác hay là Không,
vô tướng, vô nguyện. Chữ "Tác" đây cũng là nguyện là tạo
tác. Tức là đối trong 25 cõi, mình không có nóng lòng mong
muốn gọi là vô tác, tức là Không, không tác nghiệp trong
25 cõi là tự tại giải thoát.
Vậy
người tu muốn ngộ đạo, muốn giác ngộ viên mãn trước
phải đạt được Chân Như. Mà chân như là vô niệm, kế
đó sạch hết các nghiệp trong 25 cõi đó là vô tác.
Như
vậy chúng ta đã thấy rõ ràng chỉ hai câu này là gồm bao
nhiêu ý nghĩa trong kinh điển. Nếu chúng ta được vô niệm,
thì chúng ta đạt đượ chân như. Nếu chúng ta vô tác, tức
là chúng ta sạch nghiệp trong 25 cõi.
Người
nào đạt được chân như, sạch nghiệp trong 25 cõi thì người
đó là người giải thoát, tự tại không còn bị cái gì ràng
buộc và cũng không ai kéo lôi nổi.
Chánh
văn:Chân Không Vi Thể, Diệu Hữu Vi Dụng
"Chân
không là thể, Diệu hữu là dụng".
Thường
thường chân không với diệu hữu mà chúng ta hay nói, chính
là "chân không" cũng là tên khác của chân như. Bởi chân như
nó không có tất cả, tướng trạng, không có vọng tưởng
cũng gọi là Chân Không. Chân Không chính là thể tánh chân
thật của các pháp.
Diệu
hữu tức là trong cái chân không đó không tất cả hình tướng,
không tất cả vọng tưởng, nhưng nó không phải là không
hẳn (không ngơ). Nó tùy duyên mà có vô vàn diệu dụng. Những
diệu dụng dấy lên gọi là diệu hữu, nên diệu hữu là
dụng, không thể không của chân không.
Bởi
chân không là thể, diệu hữu là dụng nên chư Phật đạt
được bản thể này rồi thì các ngài có bao nhiêu thần dụng.
Nào là thuyết pháp độ sanh, nào là thần thông biến hóa.
Vậy
thần thông biến hóa, thuyết pháp độ sanh đều là cái diệu
dụng của chân không.
Ðó
là tác giả đã chỉ chỗ cùng tận cho chúng ta, chỉ mới
hai câu mà ta đã thấy rõ đường lối tu hành của Ngài.
Chánh
Văn:Phù Chân Như Vô Niệm, Phi Tưởng Niệm Nhi Năng Tri Thật
Tướng
"Chân
như vô niệm" mà Ngài đã giải thích ở trên. Vô niệm tức
là chân như, chân như tức là vô niệm.
"Chẳng
phải tưởng niệm mà hay biết được thật tướng".
Nghĩa
là tới chỗ chân như đó không có tưởng, không có niệm
mà thấy được tột cùng cái tướng thật của các pháp.
Không phải không tưởng niệm là không ngơ, không ngớt, không
biết gì hết.
Từ
đó quý vị mới thấy mình tu, chỉ làm sao hết vọng, đừng
lo hết vọng là không ngơ. Hết các vọng tưởng rồi thì
tự nhiên ta nhận ra cái tướng chân thật của các pháp, nên
nói chân như vô niệm là vậy. Nghĩa là không tưởng niệm
nhưng biết được thật tướng, không khỏi niệm mà nhận
ra tướng chân thật.
Chánh
Văn:Vô Sanh Khởi Sắc Tâm Nhi Năng Kiến
"Từ
chỗ vô sanh mà khởi sắc tâm thành năng kiến"
Còn
vô sanh là sắc, là tâm, là không phải sắc, không phải tâm
mà nó hay thấy biết. Có người nhận lầm chân như lặng
lẽ rồi tưởng đó là không biết gì hết. Sự thật chân
như lặng lẽ nó có khả năng biết được thật tướng của
các pháp. Người ta tưởng tới chỗ vô sanh không còn thấy
không còn biết gì hết. Sự thực vô sanh đó mặc dù nó không
phải là sắc, nó không là tâm mà nó hay biết được tất
cả.
Như
vậy, chân như hay biết được thật tướng, còn vô sanh hay
thấy được các pháp.
Ðó
là giải thích cái dụng của chân như và cái dụng của vô
sanh để chúng ta thấy rõ và đừng ngờ vực.
Khi
nói rằng tu tới vô sanh vẫn thấy biết tất cả. Khi đạt
được chân như thì cũng sẽ thấy biết được thật chân
tướng của các pháp.
Chánh
Văn:Vô Niệm Niệm Giả, Tức Niệm Chân Như, Vô Sanh Sanh Giả,
Tức Sanh Thật Tướng.
Ðây
giải thích thêm, nếu vô niệm mà niệm tức là niệm chân
như.
Nói
vô niệm mà niệm thật là khó hiểu đây nói trong phạm vi
tu thiền, như khi ngồi thiền tâm được lóng sạch, làm chủ
được mình không còn vọng tưởng dấy khởi thì lúc đó
là vô niệm hay niệm và niệm cái gì? Nếu nói niệm Phật
sẽ lầm vì nghĩ rằng niệm Phật là nghĩ về Phật, niệm
chúng sanh là nghĩ về chúng sanh. Nhưng còn nghĩ thì chưa đúng
với chỗ này.
Ở
đây nói niệm có nghĩa là một bề hướng về chân như. Không
cho vọng niệm dấy lên mà mình vẫn có cái làm chủ. Mà có
cái làm chủ là có niệm nên niệm đó là niệm chân như,
cũng có chỗ nói là chánh niệm.
Khi
không có niệm vọng tưởng mà vẫn có cái làm chủ bên trong
là chánh niệm mà chánh niệm là niệm chân như.
Trong
Ðại thừa khởi tín có nói: Khi mình vô niệm (không có dấy
khởi cái lăng xăng bên ngoài) thì lúc đó là niệm chân như.
Niệm mà không niệm, niệm mà không có nghĩ, không có tính,
chỉ một bề làm chủ đó là sống với cái Chân như.
Thí
dụ như khi có nhiều khách tới nhà mình trong đó có người
sang, người hèn. Khi có khách thì trong nhà ồn náo, nhưng khi
khách sang hèn đi hết (trong nhà hết khách) tưởng như trong
nhà không có ai, mà sự thực ông chủ vẫn sờ sờ còn đó.
Có khách thì có sang hèn có ồn náo, còn ông chủ thì đâu
có sang hèn, ồn náo.
Cũng
vậy khi chúng ta còn niệm thì có niệm thiện, niệm ác. Một
khi hết những niệm đó thì tưởng như là hết, nhưng ông
chủ vẫn còn đó. Lúc đó là chánh niệm, cũng chính là niệm
chơn như. Nên nói: vô niệm mà niệm đó là niệm chơn như.
Vô
sanh mà sanh, là sanh thật tướng. Nói vô sanh là khi đạt đến
vô sanh mà vẫn có cái sanh, cái sanh đó là thật tướng (không
phải hết trơn) là tướng chân thật.
Ðạt
đến chỗ vô sanh là bất sanh bất diệt, mà bất sanh bất
diệt đó là lúc tướng chân thật hiện ra (sanh thật tướng).
Tóm
lại mới nghe coi như ngược ngạo vì nói vô niệm mà niệm
chân như, vô sanh mà sanh thật tướng.
Chánh
Văn:Vô Trụ Nhi Trụ Thường Trụ Niết Bàn - Vô Hành Nhi Hành
Tức Siêu Bỉ Ngạn
"Vô
trụ mà thường trụ Niết Bàn".
Kinh
Niết bàn nói rõ, Phật không cho mình trụ. Nếu còn trụ là
còn kẹt trong sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp tức là còn
hình tướng còn chỗ nói. Nếu không tr. thì tâm không dính
mắc lục trần, không dính mắc lục trần nên mới thường
trụ Niết bàn bất sanh bất diệt.
"Không
làm mà làm tức vượt qua bờ kia".
Vô
hành mà hành tức là mình không có tạo nghiệp trong sanh tử.
Không tạo nghiệp sanh tử là không trụ chứ không phải là
không làm gì hết. Không tạo nghiệp mà mình vẫn tu, tu là
không theo vọng tưởng hay làm cho bao nhiêu mê lầm tan vỡ.
Nói
không hành nghĩa là không tạo nghiệp luân hồi trong 25 cõi
mà vẫn làm tích cực các việc để giải thoát.
Nói
cách khác không đi vào 25 cõi mà vượt lên bờ giải thoát,
không lội ngược vào đường luân hồi mà đi xuôi con đường
giác ngộ giải thoát tự tại.
Chánh
Văn:Như Như Bất Ðộng, Ðộng Dụng Vô Cùng
Cái
thể chân như nó là lặng lẽ, nó không dấy động. Lặng
lẽ không dấy động mà cái động dụng nó lại vô cùng.
Nó tùy duyên ứng hiện, thiên biến vạn hóa không biết đâu
mà nghĩ bàn cho hết (bất khả tư nghì).
Ðó
là chỗ lặng lẽ tịch thư, nhưng có vô lượng công năng
(động dụng vô cùng).
Chánh
Văn:Niệm Niệm Vô Cầu, Cầu Bổn Vô Niệm
Mỗi
niệm, mỗi niệm đều không mong cầu, không mong cầu là không
ngóng trông, không mong đợi cái kết quả về sau, đó là "niệm
niệm vô cầu".
Ðây
chính là tinh thần của người tu "vô cầu vô đắc" tuy niệm
niệm không mong cầu nhưng đạt đến là đạt vô niệm (cầu
bổn vô niệm).
Khi
không còn những cái mong cầu nhơn quả trong sanh tử hay cầu
ngũ dục, cầu 6 trần, đó là không cầu. Không còn mong cầu
là chỗ vô niệm. Cho nên nói không cầu mà cầu vô niệm là
như vậy.
Chánh
Văn:Bồ Ðề Vô Ðắc, Tịnh Ngũ Nhãn Nhi Liễu Tam Thân
Trong
kinh Bát nhã chỉ rõ "Bồ đề là cái không có sở đắc".
Nhưng từ chỗ vô đắc này mà sanh ngũ nhãn và ba thân (pháp
thân, báo thân và hóa thân). Tức là không có đắc mà đắc
ngũ nhãn đắc ba thân.
Chánh
Văn:Bát Nhã Vô Tri, Vận Lục Thông, Nhi Hoàng Tứ Trí
"Bát
nhã không biết mà vận lục không thàn tựu tứ trí".
Khi
sống được với Bát nhã thì không có cái hiểu biết theo
phàm tình là phân biệt tốt xấu, thiện ác, hay dở, khen chê
v.v... Tất cả những cái đó lặng mất thì sẽ vận dụng
được thần thông và rộng truyền bốn chân lý. Nói vô tri
mà có tứ trí và sáu thông đâu phải là không biết.
Nói
rộng hơn cho dễ hiểu là khi biết vụn vặt giả dối thì
không biết cái sâu xa, chân thật.
Thí
dụ như những người có cái khôn vặt ở thế gian như khôn
lanh, xảo nguyệt, lường gạt, dối trá v.v... thì những người
đó không bao giờ hiểu sâu xa về triết lý cao siêu. Bởi
họ cứ lẩn quẩn trong cái khôn vặt để lườn ggạt người
đời nên không phát huy được cái khôn chân thật của thánh
hiền.
Tóm
lại Bát nhã không có cái biết, chạy theo sáu trần giả tướng
bên ngoài mà có cái biết tứ trí sáu thông nên gọi là "Không
biết mà biết".
Chánh
Văn: Thị Phi Tức Ðịnh Vô Ðịnh, Tức Huệ Vô Huệ, Tức
Hàn Vô Hành.
"Thế
nên biết Tức Ðịnh mà không định, tức huệ mà không huệ,
tức hành mà không hành".
Ðịnh
là vô niệm, không niệm mà ta có niệm chân như. Dứt tất
cả vọng tưởng điên đảo, chân như hiện tiền, nên gọi
không định mà định.
Tức
huệ vô huệ, Huệ là có tứ trí có lục thông. Người thường
không có cái huệ này vì nó không phải cái hiểu biết của
phàm tính.
Người
thường tình thấy người được bát nhã như không biết gì
hết, nhưng thực ra họ có trí huệ mà phàm tình không thể
thấy. Cái trí huệ này là trí huệ chân thực, không phải
do giả tướng hiện bày hay duyên theo sáu trần của phàm tính
có.
"Tức
hành mà vô hành" hành là làm, là đi mà không có làm, không
có đi. Bởi vì khi đến Niết Bàn, đến bờ bên kia mà không
có đi dâu cả.
Trên
cái đi mà không có tác giả không có thọ giả. Trên cái huệ
mà không có tác giả không có thọ giả. Trên cái định không
có tác giả, không có thọ giả. (Tác giả là người tạo,
thọ giả là người nhận).
Thật
ra lúc này không co ngã chấp, pháp chấp. Ngã pháp đều không
nên nói "định mà không định, huệ mà không huệ, hành mà
không hành".
Chánh
Văn:Tánh Ðẳng Hư Không Thể Ðồn Pháp Giới
"Tánh
bình đẳng như hư không, thể cùng với pháp giới".
Khi
định mà không định, huệ mà không huệ, hành mà không hành
ngã pháp đều hết, thì ngay khi đó tánh bình đẳng như hư
không, thể đồn cùng pháp giới, rỗng rang khắp hết.
Ðây
là ngài chỉ cái thể dụng của chân như.
Chánh
Văn:Lục Ðộ Tự Tư Viên Mãn
Lục
độ tự tư viên mãn là sáu độ từ đây được tròn đầy.
Chánh
Văn:Ðạo Phẩm Ư Thị Vô Khuy
Ðạo
phẩm khi này không thiếu sót. Tới chỗ này thì sáu độ tràn
đầy. Ba mươi bảy phẩm trợ đạo không thiếu.
Chánh
Văn:Thị Ngã Pháp Thể Không, Hữu Vô Song Dẫn.
Ngã
pháp thể nó là không, có không cả hai đều bặt.
Chánh
Văn:Tâm Bổn Vô Tác, Ðạo Thường Vô Niệm
"Tâm
vốn không có tạo tác, chỗ chí đạo thường là vô niệm".
Ðây
là chỗ "bình thường tâm thị đạo" của tổ Nam Tuyền. Bình
thường tâm thị đạo là vô niệm, vô niệm là đạo. Bình
thường là lúc không nghĩ, không tính mà không nghĩ không tính
là vô niệm, vô niệm là đạo mầu sáng suốt.
Chánh
Văn:Vô Niệm, Vô Tư, Vô Cầu, Vô Ðắc, Bất Bỉ, Bất Thử,
Bất Khứ, Bất Lai
Vô
niệm là không niệm. Vô tư là không nhớ, không nghĩ. Vô cầu
là không mong cầu. Vô đắc là không chứng đắc. Có nghĩa
là không nhớ, không nghĩ, không cầu, không chứng đắc, không
đây, không kia, không đi, không lại.
Chánh
Văn:Thể Ngộ Tam Minh, Tâm Thông Bát Giảị Công Thành Thập
Lực, Phú Hữu Thất Trân.
"Thể
thì ngộ được tam minh, tâm thì thông bát giải thoát. Công
thì thành tựu mười lực và tứ vô sơ úy của đức Phật,
trí thì giàu có thất thánh tài hay thất giác chi".
Tuy
không niệm, không nhớ, không nghĩ, không cầu, không được,
không kia, không đây, không đi, không lại tưởng là không
còn có gì. Nhưng chính lúc đó là không dính mắc tất cả
thì ngộ được pháp tam minh, tâm ấy thông suốt được tám
giải thoát, tâm ấy thành tựu mười lực cùng tứ vô sở
úy và thất trân (thất thánh tài hay thất giác chi đã học
trong kinh Niết bàn).
Chánh
Văn:Nhập Bất Nhị Môn, Hoạch Nhất Thừa Lý
"Nhập
cửa không hai được lý nhất thừa".
Bất
nhị là chẳng hai, nếu vào được cửa chẳng hai thì được
lý nhất thừa. Như vậy chỉ cần không niệm, không cầu,
không đắc v.v... bỏ được mọi đối đãi dích mắc là vào
được của không hai, mà vào cửa không hai là sống được
lý nhất thừa.
Chánh
Văn:Diệu Trung Chi Diệu Tức Diệu Pháp Thân
Diệu
là mầu nhiệm, mầu nhiệm trong cái mầu nhiệm tức là pháp
thân.
Pháp
thân là cái mầu nhiệm trong cái mầu nhiệm, không thể nghĩ
bàn không thể nghiệm xét.
Chánh
Văn: Thiên Trung Chi Huệ Nãi Kim Cang Huệ
Người
Trung hoa hay dùng chữ "Thiên trung Thiên" (Trời trong Trời).
Trời là vị được mọi người tôn quý, mà trời ở trong
trời là vị trời trong cõi trời tức là vị được tôn quý
trong cõi được tôn quý. Ðó là
cái tôn quý vô cùng vô tận
cái tôn quý đó là trí huệ Kim Cang.
Chánh
Văn:Trạm Nhiên Thường Tịch, ng Dụng Vô Phương
"Lặng
lẽ thường yên tịnh, nhưng ứng dụng vô cùng".
Ðây
chính là chỗ không chỗ nơi là chỗ không cùng tận, tưởng
như lặng lẽ mà ứng dụng không cùng tận.
Chúng
ta tu đây coi như không kết quả gì hết vì cả ngày chỉ
bỏ những vọng niệm điên đảo để cho tâm lặng lẽ, trái
với lúc ngồi suy nghĩ cái này tính toán cái kia tưởng là
hay là được. Còn khi tâm lặng lẽ tưởng như không còn gì
hết. Nhưng đến chỗ tột cùng lặng lẽ, sẽ có cái thần
dụng không thể lường.
Khi
Phật ngồi dưới cội Bồ Ðề lặng lẽ đến khi thành công
thì Ngài có đầy đủ thập lực, tứ vô sở úy, thập bát
bất cộng v.v... thần thông diệu dụng như Hằng sa.
Ðừng
lo, khi bỏ được cái lăng xăng sẽ không còn gì, nhưng chính
khi đó sẽ có đầy đủ tất cả.
Chánh
Văn:Dụng Nhi Thường Không, Không Nhi Thường Dụng, Dụng Nhi
Bất Hữu, Tức Thị Chân Không.
"Tuy
dụng mà vẫn thường không, tuy không mà vẫn thường dụng,
dụng mà chẳng có tức là chân không".
Không
là tịch, dụng là chiếu, tuy chiếu mà vẫn tịch, tuy tịch
mà chiếu nó luôn đầy đủ hiện tiến, dụng mà không có
cái năng dụng sở dụng đó tức là chân không.
Chánh
Văn:Không Nhi Bất Vô, Tiện Thành Diệu Hữu.
"Không
mà chẳng không liền thành diệu hữu".
Tuy
chân không là không, không mà có diệu hữu. Cái diệu hữu
này có hai ý, diệu hữu ở trong và diệu hữu ở ngoài, hay
diệu hữu của Thiền sư và diệu hữu của Bát nhã.
Cái
diệu hữu của Bát nhã là khi nhận được thể tánh các pháp
nó là không. Ðạt thể tánh là không, bởi duyên sanh mà nó
thành có. Vì nhân duyên hòa hợp nên nó không có thiệt tánh.
Không có thiệt tánh nên nói là không cũng gọi Chân không.
Ðạt
được lý thể tánh Không của các pháp cũng gọi là đạt
được lý chân không hay thật tướng của các pháp. Từ tánh
không của các pháp, nhân duyên hội hợp thành vô vàn giả
tướng của các pháp, gọi là diệu hữu.
Ðó
là diệu hữu bên ngoài, còn Chân không của các Thiền sư
là diệu hữu bên trong.
Chân
không tức là vô niệm, vô niệm là chân như. Chân không vì
trong đó không còn chứa những vọng tưởng điên đảo, những
niệm sanh diệt cũng là chân như. Nghĩa là khi đạt được
chân như rồi thì chân không đó trở về tánh giác mà tánh
giác là diệu hữu.
Nói
rộng hơn chân không là không có vọng tưởng, không vọng
tưởng, nên về chơn. Vọng tưởng thuộc về thức, hết vọng
tưởng, tức trở về chân như trí, là trở về với Phật
tánh. Trở về với Phật tánh gọi là diệu hữu.
Vậy
cái diệu hữu này chỉ cho Phật tánh hay tứ trí hay chân như
trí.
Chánh
Văn:Ðiệu Hữu Tức Ma Ha Bát Nhã, Chân Không Tức Thanh Tịnh
Niết Bàn. Bát Nhã Thị Niết Bàn Chi Nhân. Niết Bàn Thị Bát
Nhã Chi Quả. Bát Nhã Vô Kiến Năng Kiến Niết Bàn. Niết Bàn
Vô Sanh, Năng Sanh Bát Nhã. Niết Bàn Bát Nhã Danh Dị Thể Ðồn.
Tùy Nghĩa Lập Danh Cố Văn Pháp Vô Ðịnh Tướng. Niết Bàn
Năng Sanh Bát Nhã Tức Danh Chơn Thật Pháp Nhân. Bát Nhã Năng
Kiến. Niết Bàn Cố Hiệu Như Lai Tri Kiến. Tri Tức Tri Tâm
Không Tịch. Kiến Tức Kiến Tánh Vô Sanh. Tri Kiến Phân Minh
Bất Nhất Bất Dị. Cố Năng Ðộng Tịch Thường Diệu Lý
Sự Giai Như Như. Tức Xứ Xứ Năng Thông Ðạt, Tức Lý Sự
Vô Ngại.
"Diệu
hữu tức là Bát nhã, Chân Không là Niết bàn thanh tịnh. Bát
nhã là nhân Niết bàn. Niết bàn là quả của Bát nhã. Bát
nhã không thấy mà hay thấy Niết bàn. Niết bàn không sanh
mà hay sanh Bát nhã. Niết bàn và Bát nhã tên khác mà thể
đồng, tùy nghĩa đặt tên là pháp vô định tướng. Niết
bàn hay sanh Bát nhã là chân thật pháp thân. Bát nhã hay thấy
Niết bàn là Tri kiến Phật. Biết là biết cái tâm lặng lẽ,
thấy tức thấy tánh vô sanh. Thấy biết rõ ràng chẳng phải
một, chẳng phải khác, tuy có động tĩnh, nó thường diệu.
Sự lý vẫn lặng lẽ như như, mọi chỗ đều thông suốt,
là sự lý không chướng ngại nhau".
Nói
diệu hữu tức là Bát nhã là Phật tánh, chân không là thanh
tịnh Niết bàn. Kinh Niết bàn nói: "Nhân là Phật tánh, quả
là Niết bàn". Khi lóng sạch hết tất cả vọng niệm thì
lúc đó sống với Ma Ha Bát nhã gọi là Diệu hữu. Thành ra
chơn không tức là thanh tịnh Niết bàn, còn diệu hữu tức
là Ma Ha Bát Nhã là Phật tánh.
Bát
nhã là nhân của Niết bàn. Niết bàn là quả của Bát nhã:
Bát nhã không thấy mà hay thấy được Niết bàn. Niết bàn
không sanh mà hay sanh Bát nhã. Niết bàn và Bát nhã có một
sự liên hệ vô cùng sâu sắc. Niết bàn Bát nhã danh tuy khác
mà thể đồng. Theo nghĩa mà đặt tên, nên nói pháp không
có tướng cố định, nên nhân là Phật tánh quả là Niết
bàn, hay nhân là Bát nhã quả là Niết bàn.
Niết
bàn hay sanh Bát nhã là chân thật pháp thân. Bát nhã hay dựng
lập Niết bàn là Như lai tri kiến (Tri kiến Phật) như vậy
nói là tri kiến Phật hay Bát nhã v.v... cũng là không hai.
Tri
là biết cái tâm không tịch, kiến là thấy tánh vô sanh. Vậy
biết cái tâm không tịch, thấy tánh vô sanh là tri kiến Phật.
Tri kiến rõ ràng chẳng phải một chẳng phải khác. Nên tuy
động mà ở trong cái lặng lẽ, thường ở trong diệu lý
(diệu lý mà vẫn như như), tuy có lý có sự mà vẫn như như.
Chính mỗi mỗi đều thông suốt lý và sự nên không có chướng
ngại nhau.
Tóm
lại khi mình đạt được tri kiến Phật là biết được tâm
lặng lẽ, thấy được tánh vô sanh. Có nghĩa là ở trong lặng
lẽ mà vẫn thấy biết rõ ràng nên không thể nói là hai cũng
không thể nói là một (bất nhất, bất nhị).
Tuy
có động có tịch mà thường ở trong cái diệu, tuy có lý
có sự mà thường được như như. Mỗi mỗi đều thông suốt
không ngăn ngại nhau.
Chánh
Văn:Lục Căn Bất Nhiễm Tức Ðịnh Huệ Chi Công. Lục Thức
Bất Sanh Tức Như Như Chi Lực.
"Sáu
căn không nhiễm là công phu của định huệ. Sáu thức chẳng
sanh là sức của như như".
Sáu
căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Mắt thấy sắc không
nhiễm sắc, tai nghe tiếng không nhiễm tiếng v.v... là công
phu của Ðịnh và Huệ.
Sáu
thức chẳng sanh là do sức như như (như như lực).
Do
chúng ta có tu định, huệ nên sáu căn không nhiễm theo sáu
trần, và sống được với sức yên lặng. Tâm thể yên lặng
nên sáu thức không sanh, không dong ruỗi theo sáu trần, nên
hằng sống với bản thể như như.
Chánh
Văn:Tâm Như Cảnh Tạ, Cảnh Diệt Tâm Không.
"Tâm
mà như thì bặt cảnh, cảnh mất thì tâm không".
Tâm
như giống như lúc mặt biển khôn gió, không gió thì mặt
biển không có sóng, phẳng lặng không dấy động. Nếu tâm
không dấy động thì cảnh tự bặt, cảnh bặt thì tâm không.
Chính
ở chỗ này ông Bàng Long Uẩn nói: "Tâm cảnh như như chỉ
giả thị, hà lự Bồ Ðề đạo bất thành". Nếu tâm mình
như thì cảnh cũng lặng, cảnh lặng tức là cảnh như (tâm
cảnh như như). Tâm cảnh như như chỉ thế ấy, lo gì đạo
Bồ Ðề không thành.
Thí
dụ như bây giờ chúng ta ngồi đây, bên ngoài gió thổi lá
cây vãÐn khua, xe vẫn chạy, người xung quanh vẫn nói chuyện.
Nếu tâm chúng ta không như mà duyên theo cảnh thì gió thổi
lá cây khua ta tưởng tượng như tiếng nhạc, nghe xe chạy
mình phân biệt đó là xe gì? hiệu gì? nghe người ta nói chuyện
phân biệt đó là đàn ông hay đà bà? bao nhiêu vọng tưởng
theo đó mà dấy khởi. Như vậy tâm động thì cảnh theo đó
mà động (động theo cảnh).
Còn
nếu tâm mình yên thì lá cây khua, tiếng xe chạy, dù người
nói v.v... mình không để ý gì hết, lúc đó tất cả vẫn
dàn trải trước mắt mà mình vẫn thấy như không.
Khi
tâm mình, không dấy niệm, mình không để ý gì hết, cảnh
vẫn đó mà đối với mình vẫn như không. Ngược lại nếu
mình lao theo cảnh thì cảnh trở thành có với mình.
Thế
nên nói rằng tâm như cảnh tịnh vì mình không để ý nên
nó không dính gì với mình, không dính với mình, nên có cũng
như không. Người ta chửi mình, nếu mình không phân biệt
tiếng chửi để tính hơn thua, thì tiếng chửi đó cũng như
không có, chứ không phải bên ngoài không có tiếng chửi.
Cảnh
và tâm nó tương quan với nhau, hễ tâm mình chạy theo cảnh
thì cảnh thành có, nếu tâm mình không chạy theo cảnh thì
cảnh thành không với mình, chứ không phải không với tất
cả.
Ðây
là hai lối tu đặc biệt, một lối chỉ làm chủ nơi tâm,
tâm lặng lẽ thì bao nhiêu cảnh ở trước trở thành vô nghĩa,
trở thành lặng lẽ. Ðó là lối tu hướng vào tâm nên nói
Tâm như cảnh tạ (mất).
Một
lối khác nữ là nhìn thấy cảnh thấy người, mình biết
là do duyên sanh tự tánh là không. Người cảnh đều không
thì tâm còn đâu mà bám. Người cảnh không thiệt thì hết
phân biệt đẹp xấu, hết phân biệt thì tâm trở thành không
(cảnh diệt tâm không).
Cả
hai cách tu đều thông dụng tương quan nhau, nhưng áp dụng
lối tu nhìn vào dễ hơn hoặc áp dụng cả hai càng tốt.
Chánh
Văn:Tâm Cảnh Song Vong, Thể Dụng Bất Dị, Chơn Như Tánh Tịnh,
Huệ Giám Vô Cùng.
"Tâm
cảnh cả hia đều bặt, thể dụng cả hai đều không khác,
chơn như vắng lặng trí huệ không cùng".
Bất
dị là chẳng khác, khi tâm và cảnh đều lặng lẽ, thì lúc
đó trở về tánh tịnh của chân như (cái tánh trong sạch
của chân như). Khi tâm cảnh đều quên thể dụng không còn
khác biệt thì trí huệ soi sáng không cùng không tận
Chánh
Văn: Như Thủy Phân Thiên Nguyệt, Năng Kiến Văn Giác Tri, Kiến
Văn Giác Tri, Nhi Thường Niệm Tịch. Không Tức Vô Tướng,
Tịch Tức Vô Sanh, Bất Bị Thiện Ác Sở Câu, Bất Bị Tĩnh
Loạn Sở Nhiếp.
"Như
nước phân thành ngàn mặt trăng mà hay thấy nghe hiểu biết,
thấy nghe hiểu biết mà thường vắng lặng. Không tức là
không tướng, tịch tức là không sanh chẳng bị thiện ác
trói cột, chẳng bị tịnh loạn nhiếp thuộc".
Ở
trên trời chỉ có một mặt trăng mà ở thế gian, nhìn nơi
hồ có mặt trăng trong hồ, nơi có mặt trăng trong ao, dưới
sông có mặt trăng dưới sông, ngoài biển có mặt trăng ngoài
biển, nhìn trong lu nước có mặt trăng trong lu nước v.v...
Mặt trăng chỉ có một mà bóng mặt trăng thì không biết
bao nhiêu.
Tâm
thể không hai mà sanh ra nào thấy, nghe, hiểu, biết v.v... Như
vậy thấy nghe hiểu biết chỉ là cái dụng của tâm thể.
Thấy
nghe hiểu biết mà thường vắng lặng. Vì một khi trở về
tâm thể rồi thì tuy cũng nghe, cũng hiểu, cũng biết mà thường
vắng lặng không có chấp dính vào náo động như phàm phu.
Không
tức không tướng, tịch tánh không sanh, không tướng thì gọi
là không, không sanh gọi là lặng lẽ, chẳng bị cái lành
dữ trói cột, chẳng bị tánh loạn nó nhiếp thuộc (nhiếp
tức là bắt buộc).
Tóm
lại nếu trở về được cái tâm cảnh vắng lặng thì thể
dụng chẳng khác, trí tuệ soi sáng vô cùng vô tận, diệu
dụng thấy nghe hiểu biết vô lượng vô biên. Nhưng tất cả
đều vắng lặng vì nó rỗng không, không tướng không sanh
nên không bị thiện ác trói cột, không bị tịnh lặng, loạn
động là hạn cuộc.
Chánh
Văn:Bất Yểm Sanh Tử, Bất Nhạo Niết Bàn.
"Chẳng
chán sanh tử, chẳng ưa Niết bàn".
Tới
chỗ này mới thiệt tự do, tự tại không vướng bên này,
cũng chẳng mắc kẹt bên kia, bên nào cũng thong thả tự tại
cả.
Chánh
Văn:Vô Bất Năng Vô, Hữu Bất Năng Hữu. Hành Trụ Tọa Ngọa
Tâm Bất Ðộng Diêu.
"Không
chẳng hay không, có chẳng hay có, đi đứng nằm ngồi tâm
chẳng lay động".
Ðược
như vậy tuy không mà chẳng phải không, nói có cũng chẳng
phải có, trong bốn oai nghi đi đứng nằm ngồi đều không
lay động.
Chánh
Văn:Nhất Thiết Thời Trung Hoạch Vô Sở Ðắc.
"Trong
tất cả thời được vô đắc".
Trong
tất cả thời quá khứ, hiện tại, vị lai hay nơi nào chốn
nào cũng không có cái sở đắc (không có cái được).
Ta
thấy ngài đã giải thích cho chúng ta thấy rõ được vô niệm
là tâm, vô tác là bổn, chân không là thể, diệu hữu là
dụng. Tất cả những thứ đó, khi đạt đến chỗ viên mãn
của nó thì diệu dụng như hằng sa.
Chánh
Văn: Tam Thế Chư Phật, Giáo Chỉ Như Tư. Tức Bồ Tát Từ
Bi Ðệ Tương Truyền Thọ. Tự Thế Tôn Diệt Hậu, Tây Thiên
Nhị Thập Bát Tổ Cộng Truyền Vô Trụ Chi Tâm, Ðồng Thuyết
Như Lai Tri Kiến. Chi Ư Ðạt Ma Quật Thử Vi Sơ Ðệ Ðại
Tương Thừa Ư Kim Bất Tuyệt. Sở Truyền Bí Giáo Yếu Tạ
Ðắc Nhơn. Như Vương Kế Chân Chung Bất Vọng Dữ.
"Ba
đời chư Phật, đều dạy như vậy. Bồ tát từ bi nối tiếp
nhau mà truyền thọ. Từ Thế Tôn diệt độ, phương tây hai
tám vị tổ đều truyền tâm vô sự này, đồng nói tri kiến
Phật. Tổ Ðạt Ma đến cõi này làm sơ tổ trao truyền đến
giờ không dứt. Ðều truyền bí giáo cốt tìm được người,
như ngọc của vua trọn không trao cho người tầm thường".
Ý
nghĩa kinh điển của ba đời chư Phật, đều chỉ có chừng
ấy, đều có bao nhiêu đó, cốt yếu chỉ có bấy nhiêu (như
đây).
Bồ
tát từ bi tiếp nối nhau mà truyền thọ trao cho nhau (truyền
thừa cho nhau).
Từ
khi đức Thế Tôn nhập Niết bàn, bên phương Tây (Ấn Ðộ)
có 28 vị tổ cùng truyền chung cái tâm vô sự (vô trụ) này,
đồng chỉ cái tri kiến Phật
Tư
khi Tổ Ðạt Ma đến cõi này (Trung Hoa) làm sơ tổ truyền
nhau tới giờ (đời của ngài) không dứt. Truyền cái giáo
ngoại biệt truyền. Truyền cái bí giáo này điều cốt yếu
là phải tìm được người xứng đáng. Như hòn ngọc trong
búi tóc của ông vua, trọn không trao cho người không xứng
đáng. Ðây là dẫn trong kinh Pháp Hoa, khi nhà vua dẫn tướng
sĩ đánh giặc thắng trận trở về. Vua ban thưởng cho quần
thần cái này cái khác, nhưng còn hòn ngọc quý trong búi tóc
nhà vua chỉ lựa người có công lớn nhất mới trao tặng.
Ðây
cũng vậy, pháp môn đốn ngộ này cá tổ trao quyền cho nhau
mà không trao cho những kẻ căn cơ cạn mỏng.
Chánh
Văn:Phước Ðức Trí Huệ Nhị Chủng Trang Nghiêm.
"Phước
đức trí huệ hai thứ trang nghiêm".
Trong
kinh Niết bàn có hai thứ trang nghiêm là phước đức và trí
huệ.
Chánh
Văn:Hạnh Giải Tương ng Phương Năng Kiến Lập.
"Hạnh
giải tương ứng mới hay kiến lập".
Hành
cũng là hạnh tức là chỉ cho sự tu, giải chỉ cho chỗ ngộ.
Ngộ và tu phải cân xứng nhau thì người đó mới có thể
kiến lập được tâm của Tổ sư. Chứ hiểu mà không tu thì
cái hiểu đó cũng chưa được. Tu mà không hiểu cũng chẳng
ra gì. Hai cái đó phải tương xứng nhau thì mới có thể kiến
lập và truyền thừa được tâm thể của tổ sư.
Chánh
Văn:Y Vi Pháp Tín, Pháp Thị Y Tông. Duy Chỉ Y Pháp Tương Truyền
Cánh Vô Biệt Pháp. Nội Truyền Tâm Ấn, Ấn Khế Bổn Tâm.
Ngoại Truyền Ca Sa, Tượng Biểu Tông Chỉ. Phi Y Bất Truyền
Ư Pháp, Phi Pháp, Bất Thọ Ư Y. Y Thị Pháp Tín Chi Y, Pháp
Thị Vô Sanh Chi Pháp. Vô Sanh Tức Vô Hư Vọng Nãi Thị Không
Tịch Chi Tâm, Tri Không Tịch Nhi Liễu Pháp Thân, Liễu Pháp
Thân Chi Nhân Giải Thoát.
"Y
là niềm tin của pháp, pháp là chủ của y, y và pháp truyền
nhau, không có pháp khác. Trong truyền tâm ấn, ấn hợp bổn
tâm. Ngoài truyền ca sa, biểu trưng tông chi. Chẳng y chẳng
truyền pháp, không pháp không được nhận y. Y là pháp tín,
pháp là không sanh. Không sanh là không có hư vọng, không hư
vọng là tâm vắng lặng. Thấy cái vắng lặng là thấy pháp
thân. Thấy pháp thân là người giải thoát".
Y là
niềm tin đối với Pháp, pháp là chủ của y. Người nào đạt
được pháp, tổ mới truyền y, khi được truyền y để chỉ
cho thấy người được truyền y là người được pháp. Vậy
y chỉ là niềm tin, còn pháp mới là chủ yếu. Không được
pháp dù có được y cũng không co nghĩa gì.
Y và
pháp tổ tổ truyền nhau không có pháp nào riêng khác. Trong
thì truyền tâm ấn để hợp với bổn tâm, người ngộ được
pháp mới được ấn chứng gọi là ấn tâm, truyền y để
làm chứng cớ cho tông chỉ. Người được ấn chứng ở tâm
mới được mặc ca sa của chư tổ truyền cho.
Chẳng
phải y cũng chẳng truyền pháp, là người không được truyền
y cũng ngầm chỉ chưa được truyền pháp, hay chưa truyền
pháp cũng chưa nhận y được.
Y là
tín vật, pháp là vô sanh. Vô sanh tức không có hư vọng là
cái tâm không tịch (vắng lặng) của chính mình, nên cũng
gọi là vô niệm.
Không
tịch, vô sanh tất cả để chỉ cho đến được chỗ sạch
tất cả ý tưởng hư vọng. Tất cả ý tưởng hư vọng sạch
rồi thì bản thân không tịch, rỗng không, vắng lặng chính
là vô niệm.
Tóm
lại ở đây Ngài muốn nêu lại điều đã nói ban đầu "Biết
không tịch là liễu pháp thân". Bởi mình biết được cái
không tịch ấy là mình liễu ngộ pháp thân của chính mình,
mà liễu ngộ được pháp thân là chân thật giải thoát.
Ngài
đã chỉ cho chúng ta thấy tường tận về đường lối tu
hành của tông Ðốn giáo. Thực ra trong tông Ðốn giáo kinh
sách rất nhiều nhưng ở đây chỉ nói gọn trong một ít câu,
nếu chúng ta xét kỹ, học kỹ thì có thể nói là quá rõ
ràng và đầy đủ.
*
* *
"Vô
niệm là tâm, vô tác là bổ, chân không là thể, diệu hữu
là dụng".
Mấy
lời này là gốc gác để mình hiểu rõ đường lối tu hành
của chư tổ Thiền tông. Như vậy bài Hiển tông ký này là
hiển bày Thiền tông.
Xưa
ở Trung Hoa dùng hai chữ Tông và Giáo. Giáo là chỉ cho kinh,
Tông là chỉ cho Thiền. Ở đây ngài chỉ ghi ít lời để
bày tỏ chủ yếu của Thiền.
Người
tu Thiền chỉ cần đọc bấy nhiêu đây cho thật chín chắn,
nhận định thật sâu sắc cũng có thể nắm được yếu chỉ
của phương pháp tu Thiền.
Tuy
nhiên nếu không hiểu rõ cũng có khi tác dụng ngược lại.
Nếu chúng ta nhận được ý chỉ thì sự tu hành của mình
có cơ sở để tiến. Còn nếu đọc nhiều mà không nhận
được ý chỉ, thì sự dụng công tu hành cũng khó tiến.
Ở
đây tôi không thể giải hết danh từ mà chỉ đơn lược
để mọi người hiểu ý chỉ mà tiến tu.
Ý
chỉ của sự tu ở mấy câu đầu.
"Vô niệm là tông,
Vô tác là bổ, Chơn không là thể, Diệu hữu là dụng".
Ðây là bốn câu tương đối đầy đủ chính xác nhất của
người tu. Hiểu được 4 câu này là nắm được chìa khóa
của toàn bài một cách chắc chắn.
Hoà
Thượng Thích Thanh Từ
Tu
viện Chơn Không (Vũng Tàu, Việt Nam)
đầu
thập niên 1970
Mùa
Xuân Quí Dậu (1993)
Tỉnh
Giác và nhóm bạn tu thiền
Kính
ghi