“Giữ
chánh niệm.” “Sống trong giây phút hiện tại.”
“Chú ý đơn thuần.” Trên con đường tu học, chắc
chúng ta đều có nghe về những lời khuyên này.
Và nếu bạn có kinh nghiệm về thực tập thiền quán, những
câu ấy là một tiếng chuông nhắc nhở chúng ta từ sáng đến
khuya, rằng ta có thể tìm thấy tất cả những gì là chân
thật ngay trong giờ phút hiện tại này.
Nhưng
rồi có một ngày, bạn ngồi thiền, cố gắng theo dõi hơi
thở lên xuống nơi bụng, hay một tư tưởng, hoặc một cơn
đau, và thấy tất cả sao dường như rất buồn thảm.
Đột nhiên có một câu hỏi khởi lên trong tâm, “Cái
giây phút hiện tại này có gì là nhiệm mầu đâu?”
Loanh
quanh tự tìm cho mình một câu trả lời, bạn nghĩ có lẽ
là vì giây phút hiện tại này giúp ta thấy được những
cái đẹp mà mình có thể vô tình bỏ qua (mặc dù trong giây
phút này thì tôi chẳng thấy có gì là đẹp hết), hoặc là
ta có thể được giác ngộ (mà tôi cũng chẳng hiểu đó là
gì), hay chỉ đơn giản là ta được an lạc và hạnh phúc
hơn. Bạn cũng không biết rõ là nếu ta biết sống trong
giây phút hiện tại thì những việc ấy sẽ xảy ra bằng
cách nào! Nhưng bạn vẫn nghĩ rằng, nếu ta có thể
giữ cho tâm mình được có mặt trong giờ phút hiện tại
thì mọi việc sẽ trở nên tốt đẹp hơn. Nhưng tốt
đẹp hơn bằng cách nào? Thì sẽ là... tốt đẹp hơn,
hạnh phúc hơn.
Tội
nghiệp! Mặc dù chúng ta rất thành thạo về sự thực
tập chánh niệm, nhưng đôi khi ta cũng không rõ ràng lắm khi
tìm lý do tại sao giây phút hiện tại này lại là nhiệm mầu.
Nhưng chúng ta cũng không nên làm lơ hoặc bằng lòng với một
câu trả lời mơ hồ. Tôi nghĩ, chúng ta cần nên nhìn
cho sâu vào câu hỏi ấy, vì nếu như ta không hiểu rõ về
giây phút hiện tại này, thì ta cũng sẽ dễ bỏ
dở sự thực tập của mình, khi kinh nghiệm
xảy ra khác với những gì mình mơ tưởng.
Mười
bốn năm trước đây, trong khóa tu đầu tiên với sư Achan
Sobin Namto, chính câu hỏi ấy đã khởi lên rất mạnh trong
tôi. Lúc ấy tôi là một thiền sinh mới, trong tuần lễ
đầu tiên của một khóa tu kéo dài ba tháng rưỡi. Sư
Achan Sobin là một thiền sư người Thái, có hơn ba mươi năm
kinh nghiệm hướng dẫn thiền tập.
“Cô
thấy thế nào?” ông hỏi tôi. Ông vừa mới
chấm dứt xong thời tụng kinh của mình. Trên bàn thờ ba ngọn
nhang toả sáng trong một căn phòng lu tối. Mặc dù ông
có nhiều tâm từ, nhưng những phiền não vẫn phủ trùm xuống
tôi như một tấm áo choàng. “Con đang có nhiều
nghi ngờ” tôi đáp. Nhưng không phải tôi ngờ vực
về khả năng của mình, hay là giáo pháp, hoặc là phương
pháp thực tập. Nhưng chính là cái kinh nghiệm về một
sự trống trải và lạnh lẽo khi tôi có mặt trong giây phút
hiện tại. Cái giây phút hiện tại này có thực
sự đáng để cho ta có mặt không? Dường như Achan
hiểu ý tôi, “Trong giây phút hiện tại này chẳng có gì
hay ho phải không?” ông hỏi rồi phá lên cười to cho
đến khi chảy cả nước mắt. Rõ ràng đây là một trò
đùa mà ông cảm thấy rất là vui nhộn, nhưng đối với tôi
thì chẳng thấy có gì là tức cười hết. Ông vui vì
thấy tôi đang đi theo đúng đường. Tôi bắt đầu
thấy điều mà tất cả mọi thiền sinh đều phải thấy:
Sự Thật Nhiệm Mầu Thứ Nhất,
là mỗi giây phút, mỗi sát-na của danh (mind) và
sắc (matter), đều là bất toại nguyện (dukkha).
Dầu
vậy câu trả lời của Sư cũng khiến cho tôi giật mình.
Vì tôi đã từng được đọc rằng, khi ta đặt hết tâm ý
của mình vào giây phút hiện tại này, có phải là ta sẽ
nhìn thấy được những vẽ đẹp mà mình có thể vì vô ý
bỏ qua chăng? Có phải mùi vị trái mận sẽ ngon ngọt
hơn chăng? Có phải ta sẽ thấy được những cành khô
đong đưa toả sáng in hình trên một khung trời mùa đông không
còn mờ xám như trước? Nhưng bây giờ thì ông đã xác
nhận rằng, giây phút hiện tại này không phải thật như
tôi vẫn hằng tưởng. Tôi thở dài. Thế
thì trái mận sẽ không trở nên ngọt ngào hơn. Giây
phút hiện tại, thật ra, lại không nhiệm mầu chút nào hết!
Một
Huyền Thoại Về Giây Phút Hiện Tại
Tôi
thấy trong vòng thiền chúng ta
có truyền cho nhau một huyền thoại này, là khi chánh
niệm của ta càng sâu sắc bao nhiêu,
ta sẽ lại càng có khả năng
nhìn thấy được những cái đẹp
trong những vật bình thường nhất
bấy nhiêu. Với một tâm “chú
ý đơn thuần”, thì ngay cả bọt xà phòng trong nước
rửa bát - khi những bọt bong bóng lấp lánh trong nắng - cũng
là một thực tại toả sáng nhiệm mầu. Đó
chỉ là một huyền thoại. Mà sự thật là ngược lại
như thế: thật ra, khi ta càng có chánh niệm bao nhiêu,
thì những đối tượng cảm giác
của ta lại càng ít hấp dẫn
đi bấy nhiêu. Cho đến một lúc ta sẽ không
còn ham muốn chúng nữa.
Sự
thật thì khi ta có một định lực mạnh, nó sẽ Làm tăng
lên những cảm nhận của ta về màu sắc, âm thanh, mùi vị...
Nhưng nếu chỉ có định lực thôi thì ta cũng sẽ không thể
nào đi đến tuệ giác hay giác ngộ. Nếu như ta bảo
rằng chánh niệm làm cho khung trời mùa đông trở nên đẹp
tuyệt vời, hoặc công việc rửa chén trở thành một bài
tập mầu nhiệm, theo tôi nghĩ thì đó lại là một sự thách
thức đối với Sự Thật Nhiệm Mầu Thứ Nhất.
Huyền
thoại này có mặt là do một sự hiểu lầm về vai trò
của chánh niệm. Chánh niệm, được kèm theo
bằng một nhận thức sáng tỏ, nó khác với một cái thấy
biết bình thường. Thay vì chỉ nhìn thấy rõ rệt hơn
những đặc điểm thông thường của một đối tượng, chánh
niệm còn vượt xa hơn, và thấy được những điểm
rất cá biệt - những đặc tính chung của mọi vật,
dù tốt hay xấu. Đó là ba đặc tính về vô thường,
bất toại nguyện và vô ngã. Với chánh niệm,
ta thấy được tất cả mọi hiện tượng tâm lý và vật
lý khởi lên đều rồi sẽ qua đi. Có nghĩa là ta không
thể sửa đổi cũng không thể nào nắm giữ chúng được.
Những đặc tính ấy mang lại cho ta một sự bất toại nguyện.
Vậy thì, khi ta càng có chánh niệm bao nhiêu, thì yếu
tố bất toại nguyện, dukkha, lại càng trở nên rõ rệt bấy
nhiêu.
Nhưng
khi tôi ngồi đó với Achan Sobin, nhìn những điểm sáng của
ba nén nhang, tôi cảm thấy một cảm giác mơ hồ về một
điều gì đó mà tôi vẫn chưa xác định được. Có
ai đó đang đùa giỡn với cuộc đời này chăng?
Điều trớ trêu là tôi tập thiền vì muốn giải thoát khỏi
những khổ đau của mình, và bây giờ tôi lại nhận thấy
nhiều khổ đau hơn. Mà vị thầy của tôi lại công nhận
điều ấy là đúng. Như vậy thì ta đi thực tập
chánh niệm để làm gì? Tại sao ta lại phải có
mặt trong giây phút hiện tại này? Nhưng câu trả
lời chắc chắn không phải là ta bỏ đi sự thực tập chánh
niệm. Đối với tôi, Achan là một người thong dong
nhất, tự tại nhất mà tôi biết. Và tôi muốn
mình cũng được như ông. Tôi theo học và thực tập
những phương cách nào đã mang lại cho ông được sự an lạc
đó.
Giây
Phút Hiện Tại Làm Bằng Những Gì?
Ta
cần tháo mở ra cái nút thắc Gordian Knot. Và tại sao
chúng ta lại không chịu khó kiên nhẫn tháo mở nó bằng cách
gỡ ra từng sợi một? Một nhà khoa học trước nhất
có thể sẽ phân tách chất liệu của nó, và trong trường
hợp của chúng ta đó chính là giây phút hiện tại này.
Vì
vậy, chúng ta có thể bắt đầu bằng cách đặt câu hỏi:
giây
phút hiện tại này được làm thành bởi những yếu tố gì?
Trong phật giáo có một hệ thống tâm lý học gọi là Vi Diệu
Pháp, Abhidhamma. Theo Vi Diệu Pháp thì những kinh nghiệm
hằng ngày của ta có thể được chia cắt ra thành những đơn
vị rất nhỏ gọi là sát-na tâm (mind-moments.) Chúng
là những đơn vị nhỏ nhất của tâm thức, là những vi lượng
(quarks) của thế giới tâm thức. Mỗi sát-na tâm gồm có hai
phần: tâm thức và một đối tượng. Có nghĩa nó không
phải là một cái bàn, một đóa hoa, mà chỉ là một đối
tượng của tâm thức. Tâm thức lúc nào cũng luôn có
ý thức về một cái gì. Khi có một mảng trời xanh hiện
vào vùng tâm thức của mình, một tia chớp của nhản-thức
nhận thấy được màu sắc ấy. Khi có một mùi hương
nào thoáng qua theo làn gió, một chớp của tỷ-thức nhận
được mùi thơm ấy. Chỉ có tâm thức và đối tượng,
và chỉ là vậy thôi. Cuộc sống của ta chỉ là một chuỗi
tâm thức, mà ta liên tục ý thức được sắc màu, mùi, vị,
âm thanh và những cảm giác tiếp nối nhau không ngừng nghỉ.
Ngoài tiến trình này ra, không còn gì khác nữa xảy ra.
Như
vậy thì còn những đối tượng ấy, tự chúng là gì?
Chúng có tất cả là sáu loại: âm thanh, màu sắc, mùi, vị,
xúc chạm và đối tượng tâm thức. Tâm thức của
ta tiếp xúc với những đối tượng này qua những “cánh
cửa” giác quan khác nhau. Ví dụ, ta tiếp xúc với
màu sắc qua cánh cửa của đôi mắt. Những đối
tượng tâm thức thì được tiếp xúc trực tiếp qua cánh
cửa của tâm thức. Chúng gồm có cả tư tưởng, ý niệm,
cảm xúc và tình cảm.
Tất
cả những gì chúng ta nhận biết chỉ có thể nằm trong sáu
đối tượng này mà thôi. Cho dù cuộc sống của ta có
phiêu lưu, mạo hiểm hoặc táo bạo đến đâu, ta vẫn không
thể nào có một kinh nghiệm gì khác hơn ngoài sáu hình tướng
ấy. Và vì tâm và đối tượng tâm thức là
những đơn vị cơ bản nhất của sự sống, cho nên không
còn gì khác hơn có thể có mặt trong giây phút hiện tại
này.
Hiểu
được điều ấy rồi, ta có thể đặt câu hỏi kế tiếp
là: những thành phần ấy tự chúng có là thú vị và
đáng thích không? Chúng ta thường nghĩ rằng hình
ảnh, mùi vị và âm thanh... có thể rất là kỳ diệu.
Và theo cảm nhận thông thường thì chúng thật sự là vậy.
Ta thích thưởng thức một mùi vị trà thơm hoặc một cảnh
hoàng hôn đỏ buông xuống trên đồi núi. Nhưng niềm
vui ấy có pha lẫn với một chút gì ảo tưởng. Sở
dĩ chúng ta cho rằng những cảm xúc của giác quan vui sướng
là vì ta chưa nhìn thấy được cái thực tánh của chúng.
Ta
hãy lấy một ví dụ của mặt trời hoàng hôn: Việc gì xảy
ra khi ta nhìn thấy nó? Thật ra thì ta không hề thấy
nó! Khi mắt ta tiếp xúc với một sắc tướng, chúng
ta chỉ thấy màu sắc, chứ không phải là một vật có không
gian ba chiều. Thật ra, màu sắc ấy, cùng với tâm thức
nhận biết nó, diệt mất đi ngay trong cùng một sát-na ấy,
nhưng ta không hề ý thức được điều đó. Tại sao
thế? Bởi vì cái ảo tưởng của ta làm mờ nhạt đi
cái biên giới giữa hai sát-na ấy, và khiến chúng ta có cảm
tưởng như đó là một kinh nghiệm nối liền. Sau khi
màu sắc được tiếp nhận, sát-na tâm thức kế tiếp gợi
lại hình ảnh ấy từ ký ức và đặt tên cho đó là “hoàng
hôn.” Cả tiến trình ấy chỉ xảy ra trong một giây
chớp nhoáng. Tuy vậy, khi ta vừa đặt tên cho nó
thì hình ảnh ban đầu cũng đã qua mất rồi. “Hoàng
hôn” là một ý niệm của tâm thức, chứ không
phải do đôi mắt của mình. Và rồi chúng ta lại đi
nhận sản phẩm được tạo dựng bởi tâm thức này như là
một thực tại
cố
định. Nếu như không có chánh niệm, chúng ta sẽ không
bao giờ có thể thấy được sự chuyển biến rất nhanh lẹ
này, cũng giống như khi ta cố gắng tách biệt hai khung ảnh
trong một cuốn phim đang chiếu trên màn ảnh vậy.
Khám
phá này mang lại cho ta một sự thất vọng, cũng như khi ta
biết ra rằng chuỗi ngọc quý giá mà mình
đang mang là một loại đồ giả.
Đức Phật dạy, chư hành vô
thường (Sabbe sankhara anicca). Tất cả mọi hình tướng
đều thay đổi, và vì vậy mà chúng sẽ mang đến cho ta sự
thất vọng, ngay cả những gì mà ta thấy dường như rất
là tuyệt vời. Mà đức Phật cũng không hề chú thích
hoặc nói nhỏ thêm rằng, “Xuỵt! Nhưng cũng có một
vài hình tướng rất là nhiệm mầu.”
Giây
Phút Hiện Tại Nhiệm Mầu
Và
bây giờ, nếu như tất cả những hình tướng đều rồi sẽ
mang lại sự bất toại nguyện, thì những gì làm nên giây
phút hiện tại này cũng sẽ như vậy. Nhưng rồi ta cũng
có thể đặt thêm một câu hỏi tiếp, là nếu như giây
phút hiện tại này không nhiệm mầu, thì ta có mặt với nó
để làm gì? Ta cũng nên nhớ rằng có sự
khác biệt giữa “Giây phút hiện tại này thật nhiệm mầu”
và “Thật nhiệm mầu khi ta có mặt trong giây phút hiện tại
này.” Đây không phải là một lối chơi chữ. Câu
thứ nhất, “Giây phút hiện tại này thật nhiệm mầu”,
có ý nói rằng, những cảm giác thuần tuý xảy ra trong giây
phút hiện tại tự chúng có chút tính chất kỳ diệu.
Và, câu thứ nhì, “Thật nhiệm mầu khi ta có mặt trong giây
phút hiện tại,” nói rằng, khi ta có mặt trong giây phút
hiện tại, là ta có khả năng thoát ra khỏi những phiền não
do sự nắm bắt vào những cảm giác ấy.
Thật
ra, đức Phật có trình bày rất rõ về lý do chúng ta cần
thực tập chánh niệm: để nhận diện và loại trừ
đi cái nguyên nhân của khổ đau. Nguyên nhân
ấy chính là sự tham ái. Khi nguyên nhân
ấy vắng mặt thì khổ đau sẽ không thể sinh lên. Và
chừng ấy, trong kinh viết, ta sẽ kinh nghiệm được một loại
hạnh phúc mà không có chút tì vết gì của sự lo âu.
Nhưng không phải bởi vì hình sắc và âm thanh chung quanh ta
chúng đột nhiên trở nên trường cửu, kỳ diệu, và là của
ta. Mà thật ra, những cảm nhận ấy tạm thời chấm
dứt, và tâm thức ta tiếp xúc được với một đối
tượng rất siêu phàm gọi là “niết bàn,” một yếu tố
không còn bị điều kiện chi phối. Và mặc dù đó là
một đối tượng của tâm thức, nhưng niết bàn, trạng thái
an lạc cao tột nhất, không hề là một hành (formation).
Nó là vô hành và bất biến. Vì vậy giây phút hiện
tại nhiệm mầu là vì chỉ có trong chính giây phút này, ta
mới có thể chứng nghiệm được niết bàn – hoàn toàn giải
thoát ra khỏi mọi khổ đau.
Không
có một nơi nào đức Phật lại chủ trương thực tập chánh
niệm với mục đích để ta có thể vui hưởng làn nước
xà phòng ấm, hoặc thấy được một bình trà bằng đồng
sáng chói... Mà ngược lại, Ngài còn
gọi đó là mê vọng (vipallasa)
khi ta chấp những gì
là không thường và cho đó là có giá trị và tốt
đẹp. Nhưng những cảm nhận ở cảm giác có thể là vui thích
được không? Có chứ, nhưng sự vui thích ấy
không phải là một nguồn hạnh phúc
bất tận nhưng chúng ta vẫn
hằng tưởng. Trong cuộc sống hằng
ngày, chúng ta thường chấp vào những
cảm giác tốt đẹp, cho rằng chúng
vững chắc và tương đối lâu dài. Trong khi thật
ra chúng chỉ là những rung động không bền và tan
rã vừa khi mới vừa hình thành.
Cũng giống như loại kẹo bông
gòn nó tan ra ngay trước khi ta kịp cắn răng
vào, những thú vui ấy không bền vững đủ để duy trì cho
ta một niềm hạnh phúc.
Nhưng
vì sự mê hoặc che đậy lý vô thường, nên chúng ta phản
ứng lại bằng những sự nắm bắt và xua đuổi. Và
chính hành động níu kéo đó làm tâm ta bất an. Bạn
có để ý thấy rằng sự ước ao, mong đợi bao giờ cũng
tạo nên trong ta một nỗi đau không? Và hơn nữa,
sự khát khao ấy là hoàn toàn vô ích. Vì dù có cố nắm
bắt bao nhiêu đi chăng nữa, ta cũng không thể kéo dài thêm
niềm vui ấy, cho dù chỉ trong một sát-na. Và những
cảm giác khó chịu cũng giống y như vậy, chúng cũng sẽ qua
đi trong giây phút. Nhưng khi ta chống cự lại, nỗi đau
sẽ tăng lên gấp đôi. Nó cũng giống như khi ta
cố gắng lấy một cây gai trong chân ra bằng cách dùng một
cây gai thứ hai đâm vào da thịt mình. Nếu như ta
có thể buông bỏ được, tâm ta sẽ không phải chịu khổ
đau.
Đức
Phật khám phá ra rằng một tâm hạnh phúc nhất là tâm không
bị dính mắc. Đây là một niềm hạnh phúc rất
sâu sắc, khác hẳn với những gì chúng ta vẫn thường biết.
Khi có người hỏi, làm sao ta có thể tìm thấy niềm hỷ lạc
ở nơi niết bàn, trong khi nơi ấy không còn có sắc tướng
hay âm thanh đẹp đẽ gì nữa, ngài Xá Lợi Phất đáp: “Không
có cảm xúc tự chính nó là hạnh phúc.” Ý ngài
nói rằng, không có một thú vui nào có thể so sánh được
với niềm hỷ lạc này. Trong kinh ghi, “Những
gì người đời cho là hạnh
phúc, bậc giác ngộ cho là khổ
đau...” (Dvayatanupassana Sutta.) Và đây không phải
là một quan điểm mới, mà nó chính là một thực tại tuyệt
đối.
Mặc
dù mới nghe thì có vẽ như rất mâu thuẫn, nhưng ta chỉ có
thể tìm thấy một hạnh phúc chân thật, khi trước hết
ta hiểu được rằng, giây phút hiện tại của thân và tâm
là bất toại nguyện. Bằng một tiến trình
qua những tầng lớp của tuệ giác, mà ta có thể dần dà
buông
bỏ được hết mọi dính mắc, nguyên nhân của những
phiền não. Khi ta thấy rõ được sự vô thường
của những cảm giác ở thân và tâm, nó sẽ phá tan hết những
ảo mộng, và từ đó những dính mắc của ta sẽ hoàn toàn
tắt ngấm. Và ngay lúc đó, một chân hạnh phúc sẽ tự
nhiên hiển lộ. Nhưng nếu ta cứ bận rộn đi tìm kiếm thêm
những cái đẹp trong ngay chính thanh và sắc thì làm sao ta
có thể nhìn thấy rõ chân tướng của chúng được?
Hạnh
Phúc của Niết Bàn
Hãy
tưởng tượng rằng ta và một
số người bạn đang mắc kẹt
trong một căn nhà bị bốc cháy.
Những thanh lửa thay phiên rơi xuống từ trần nhà. Có
phải tốt nhất là chúng ta cần ý thức được tình trạng
hiểm nguy và cùng giúp nhau thoát ra, hay ta cứ đứng đấy
mà tìm những cái hay đẹp của nó, “Xem kìa, cũng đâu đến
nỗi nào đâu. Ngọn lửa hồng có màu tím hoa cà trông
đẹp làm sao...”?
Cũng
vậy, tôi nghĩ chúng ta cần có chánh niệm để nhìn rõ được
dukkha trong giây phút hiện tại, bởi vì nó là chiếc cầu
thang duy nhất dẫn ta thoát ra khỏi căn nhà lửa ấy.
Căn nhà ấy chính là khandhas, tức năm uẩn của ta là sắc,
thọ, tưởng, hành và thức. Tôi biết có nhiều người
không thích chấp nhận quan điểm này. Nhưng không lẽ
tốt hơn hết là ta nhún vai làm lơ việc ấy, và cứ để
mặc mình rơi trở lại xuống cầu thang hay sao? Không
công nhận sự nguy hiểm là một điều rất nguy hại.
Thấy được nó, ta sẽ tìm được một lối thoát.
Nhưng
không phải chúng ta đối diện với khổ đau bằng một thái
độ bi quan. Người Phật tử nhận diện khổ đau để
chuyển hóa nó, chứ không phải để bị chìm đắm trong đó.
May mắn thay, đức Phật có chỉ cho ta một con đường giải
thoát, bát chánh đạo, và cuối con đường ấy chắc chắn
sẽ là niết bàn. Ai mà chẳng mừng vui khi biết rằng
ta có thể có được một hạnh phúc hoàn toàn thuần tuý không
tì vết. Nhưng chỉ vì tầm nhắm của chúng ta còn quá
thấp đi mà thôi.
Thực
tập chánh niệm sẽ dẫn ta đến hạnh phúc. Nhưng không
phải vì nhờ ta nhìn thấy rõ được cái hay đẹp của những
cảnh vật trong giây phút hiện tại này - như là hình sắc,
âm thanh, mùi vị... Mặc dù huyền thoại thì vậy, nhưng
sự chú ý đơn thuần không hề phơi bày cho ta thấy một thực
chất sáng chói nào hết, vì thật ra không có một hiện
tượng nào là có thực chất.
Khi
bản chất của các hiện tượng tự chúng là bất toại nguyện,
thì ta có thể nào hy vọng chế biến chúng thành hạnh phúc
được chăng? Việc ấy cũng giống như là ta đi dệt
một tấm thảm trắng từ những sợi len màu đen vậy.
Vì vậy, tôi nghĩ cách hay nhất là ta nên chấp nhận rằng
thực
tập chánh niệm sẽ không làm trái mận ngọt ngào hơn, hay
là bình trà màu đồng sáng tươi hơn. Nhưng khi ta có chánh
niệm, ta sẽ bớt quan tâm về vấn đề ngọt ngào hay sự
sáng chói. Khi chúng ta có một hạnh phúc lớn
lao hơn, những thú vui nho nhỏ sẽ không còn là chuyện quan
trọng. Và đây không phải là một thái độ lạnh lùng
và dửng dưng, mà nó là một sự giải thoát thật sự.
Khi
chúng ta không còn sự dính mắc nữa, ta sẽ không cần một
âm thanh, hình sắc hoặc sự xúc chạm nào để mang lại cho
mình hạnh phúc.
Ta
có thể chưa hiểu được, nhưng khi ta nếm được mùi vị
của sự tự tại này rồi, ta sẽ trân quý nó hơn bất cứ
một niềm vui nào khác mình có thể nghỉ tưởng đến - cho
dù đó là mùi hương của một loài hoa quý, những nốt nhạc
trầm bổng của chopin, hay ánh trăng huyền diệu. Chúng
ta vẫn có thể kinh nghiệm được
những hạnh phúc này, và những
thú vui khác. Nhưng ta sẽ không
cố nắm giữ lại khi chúng ra đi, ta không có sự khổ đau
của mất mát. Và bây giờ là câu hỏi khó nhất: chúng
ta có thật sự muốn giải thoát ra khỏi vòng khổ đau này
hay không? Nếu vậy thì ta hãy thực tập chánh niệm.
Nhưng không phải là để nhìn thấy vẽ đẹp không thật của
những bọt xà phòng, mà là đúng theo ý của đức Phật, là
thấy được sự dính mắc của mình, cho đến khi nào ta nếm
được quả trái chân thật là niết bàn. Và như
các bậc đi trước đã nhiều lần nói với ta: khi đối tượng
tâm thức của ta là niết bàn, giây phút hiện tại này sẽ
đẹp tuyệt vời.
Cynthia
Thatcher What’s So Great About Now ?
Nguyễn
Duy Nhiên phỏng dịch
(Sinh
Thức)