Người
ta có thể có hai cách nhìn khác biệt về đạo Phật :
-
Hoặc như một giáo lý hay một triết lý vĩnh cửu, vượt
khỏi thời gian và không gian, không bị hạn chế bởi lịch
sử, không đổi thay với thời cuộc. Một đạo Phật bất
biến, lâng lâng như trên một đám mây, vượt lên khỏi trần
thế.
- Hoặc
như một triết lý hay một tôn giáo nằm trong một bối cảnh
lịch sử nhất định, phụ thuộc vào những điều kiện lịch
sử xã hội, và luôn luôn biến chuyển với thời cuộc. Một
đạo Phật linh động, hòa mình trong khung cảnh sống, gắn
liền với xã hội loài người.
Đối
với người Phật tử thấm nhuần lẽ vô thường, duyên khởi,
thì chỉ có cách nhìn sau này là hợp lý. Đạo Phật, một
phong trào khởi xướng cách đây hơn 2500 năm, đã đương nhiên
trở thành một công trình tập thể, đa nguyên và đa dạng,
không ngừng phát triển qua các thời đại.
Để
mượn một hình ảnh, chúng ta có thể nhìn đạo Phật như
một cây cổ thụ xum xuê cành lá, với cội rễ bám chặt
vào những nền tảng cổ truyền, và những chồi non không
ngừng vươn mọc. Đạo Phật cũng có thể nhìn như một giòng
sông hùng vĩ, chảy qua bao nhiêu rừng núi, đổi thay từng
giây phút, nhưng vẫn là giòng sông.
Và
cũng như cây cổ thụ phải đâm chồi, giòng sông phải uốn
khúc mới có thể tồn tại được, đạo Phật cũng phải
đổi thay, phải thích nghi với thực tại, tức là phải hiện
đại hóa.
Trong
sự tiến hóa này, những người Phật tử, tu sĩ cũng như
cư sĩ, đều đóng một vai trò quan trọng, vì vừa là người
kế thừa đạo Phật, vừa có bổn phận đóng góp tích cực
vào công cuộc đổi thay.
Nhìn
lại quá khứ
Phong
trào canh tân đạo Phật, khởi xướng bởi pháp sư Thái Hư
bên Trung Quốc năm 1930, nhằm "cách mạng giáo lý, giáo chế
và giáo sản", tính ra đến nay đã được hai phần ba thế
kỷ.
Tại
Việt-Nam, đạo Phật cũng đã có phong trào phục hưng, cải
tổ, và sau những biến cố năm 1963 tại miền Trung và miền
Nam, cũng đã bắt đầu vươn mình lên trong một nguồn sinh
khí mới. Những công trình nổi bật là sự thống nhất Giáo
Hội Phật Giáo Việt-Nam giữa Nam Tông và Bắc Tông, sự thành
lập Viện Hóa Đạo, Viện Cao Đẳng Phật Học, trường Đại
Học Vạn Hạnh, và nhiều Phật học viện khác, tạo nên những
điều kiện thuận tiện cho việc nghiên cứu Phật học cũng
như sự phổ biến giáo lý qua những sách báo, bài giảng,
băng giảng...
Nhưng
chiến tranh, thời cuộc, và những thăng trầm của lịch sử
đã không cho phép đạo Phật Việt-Nam được canh tân thực
sự. Ngày hôm nay, chúng ta phải thực tế công nhận rằng
đạo Phật Việt-Nam, trong tình trạng hiện tại, không có
khả năng đáp ứng những nhu cầu của một thế giới đang
chuyển mình một cách mãnh liệt.
Lý
do thất bại
Sở
dĩ đạo Phật Việt-Nam từ mấy chục năm qua đã không phát
triển được theo chiều hướng hiện đại hóa, một phần
lớn là vì những lý do bên ngoài, như chiến tranh và hậu
quả của chiến tranh, tình trạng nghèo nàn lạc hậu của
đất nước, và những hạn chế hoạt động xã hội văn hóa.
Nếu cởi mở là điều kiện tiên quyết của đổi mới, thì
đạo Phật cũng phải được tự do hoạt động mới có thể
phát huy được tiềm lực của mình, và điều đó không nhằm
ngoài mục đích mang lại hạnh phúc cho dân tộc.
Nhưng
chúng ta cũng phải công nhận rằng có những lý do bên trong.
Đó là sự thiếu đồng nhất của những người Phật tử,
sự chia rẽ giữa các tăng ni cũng như các cư sĩ, trong lý
thuyết cũng như trong hành động. Đó là sự thiếu ý chí
canh tân, thiếu quyết tâm trong công cuộc hiện đại hóa đạo
Phật. Chúng ta thiếu cái dũng của đức Phật Thích Ca khi
ngài quyết tâm ngồi thiền định dưới gốc cây Bồ đề
cho đến khi hoàn toàn giác ngộ. Chúng ta cũng thiếu cái trí
của các tổ sư Thiền, biết buông thả, biết trút những
gánh nặng của ngàn năm truyền thống, để gạn lọc lấy
cái tinh hoa của đạo Phật, đem đạo Phật nhẹ nhàng, trong
sáng áp dụng vào cuộc đời. Chúng ta còn bám vào những kinh
điển, những từ ngữ nhai đi nhai lại, những tập quán quen
thuộc từ hồi nhỏ, những lễ nghĩa thầy trò cứng nhắc
tới mức không dám đặt lại vấn đề, dù chỉ là trên lý
thuyết.
Một
ý nguyện chung
Để
gợi lại tinh thần canh tân đạo Phật, tôi xin được trích
dẫn vài dòng trong cuốn "Đạo Phật áp dụng vào đời sống
hàng ngày" do Viện Hóa đạo xuất bản năm 1973 :
"Giáo
lý của đức Phật phù hợp với các điều kiện sinh hoạt
tâm lý, kinh tế và xã hội của con người cho nên được
gọi là một giáo lý khế cơ... Phật giáo là một tôn giáo
không bảo thủ, biết cởi mở và khai phóng để mở rộng
chân trời tương lai (...) Thái độ bảo thủ vì thói quen,
vì thành kiến và cố chấp là một thái độ trái ngược
với tinh thần cởi mở và tiến bộ của đạo Phật. Người
Phật tử không thể nhắm mắt làm theo tất cả những điều
mà người xưa đã làm, lấy cớ "xưa bày, nay làm". Người
Phật tử phải xét xem những điều do người xưa bày ra hiện
còn có giá trị trong hoàn cảnh hiện tại hay không. Nếu còn
thì ta vẫn tiếp tục thi hành. Nhưng nếu những điều ấy
không còn giá trị nữa thì ta phải bỏ và tìm ra những điều
khác thích hợp với ta hơn (...) Đạo Phật không phải là
của riêng của một số người ẩn dật nơi tự viện. Đạo
Phật là của mọi lớp người : của thiếu nhi, của thanh
niên, của phụ nữ, của lao động trí thức và lao động
chân tay. Đạo Phật chỉ có sinh lực khi nào giáo lý đạo
Phật được áp dụng trong đời sống hàng ngày, trong các
lĩnh vực giáo dục, y tế, chính trị, kinh tế, tổ chức,
trong đời sống cá nhân cũng như trong đời sống gia đình,
quốc gia và xã hội".
Hơn
hai chục năm đã qua, đọc lại những dòng này, tôi không
khỏi bùi ngùi và phấn khởi. Bùi ngùi vì thấy thời gian
trôi qua quá nhanh, lôi cuốn theo bao nhiêu hy sinh, cam khổ của
các tăng ni Phật tử, mà vẫn chưa thấy một dấu hiệu gì
đạo Phật được canh tân, phát huy thực sự. Nhưng cũng phấn
khởi vì cảm thấy ý nguyện của bao nhiêu thế hệ Phật
tử vẫn đồng nhất và còn nguyên vẹn, đó là hiện đại
hóa đạo Phật và đem đạo Phật đi vào cuộc đời.
Tình
trạng thế giới
Nhìn
chung, nhân loại đang sống một giai đoạn đặc biệt của
lịch sử, không phải là lúc "tận cùng của lịch sử" như
Fukuyama đã tuyên bố, mà là một giai đoạn nổi bật vì ba
hiện tượng chính :
- Thứ
nhất, sự gia tốc của lịch sử. Thế kỷ sắp qua
đầy rẫy những chiến tranh, diệt chủng, đồng thời những
khám phá khoa học, những trao đổi văn hóa, những đảo lộn
chính trị, xã hội, với những hậu quả không thể nào lường
được, đến với một tốc độ mỗi ngày một gia tăng.
- Thứ
nhì, sự thế giới hóa (mondialisation) trong mọi lãnh
vực, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.
Không
còn một giải đất nào có thể biệt lập ra khỏi địa cầu,
không còn một lãnh vực nào của cuộc sống không có những
sợi giây liên đới gắn liền mình với những lãnh vực khác,
cũng như hình ảnh một mạng lưới Internet khổng lồ đang
đan díu tất cả vào nhau, đúng như thuyết duyên khởi của
đạo Phật. Thông tin tràn ngập khắp nơi, không gì ngăn chận
nổi. Con người trao đổi với nhau với tốc độ điện tử
qua báo chí, truyền thanh, truyền hình, điện thoại, fax, vệ
tinh viễn thông... Mặt khác, chiến tranh vẫn không ngừng tiếp
diễn, không những bằng bom đạn mà còn bằng kinh tế, bằng
thị trường, giữa các quốc gia, các vùng, một cách không
kém phần hung bạo. Kinh tế đã trở thành toàn cầu, với
vai trò trọng đại của những thị trường hối đoái, những
chuyển giao công nghệ, những di chuyển xí nghiệp. Văn hóa
cũng trở thành toàn cầu : trong khi tư tưởng phương Đông
bắt đầu thâm nhập phương Tây, thì lối sống phương Tây
lại ồ ạt tràn ngập các nước phương Đông. Những vấn
đề trên thế giới đã trở thành những vấn đề chung của
tất cả : nạn nhân mãn, sự phá hủy môi trường, sự gia
tăng chênh lệch giầu nghèo giữa các quốc gia, các tầng lớp
xã hội, những vấn đề vi phạm nhân quyền, bạo động,
đô thị, thất nghiệp, suy thoái gia đình và đạo đức, những
vấn đề sinh học mới...
- Thứ
ba, sự chờ đợi chuyển hướng của thế giới, có thể
gọi là một khúc quanh của lịch sử.
Hơn
bao giờ hết, kinh tế hoàn toàn chế ngự mọi lãnh vực của
cuộc sống. Nhưng ngược đời thay, trong khi các nước chậm
tiến và các nước xã hội chủ nghĩa cũ đang lao đầu vào
"kinh tế thị trường", thì ngay tại các nước tư bản, người
ta đang đặt lại vấn đề về căn bản của sự phát triển.
Theo nhận xét chung, tiếp tục phát triển theo chiều hướng
hiện tại sẽ có khả năng đưa tới những bế tắc trầm
trọng và một cuộc khủng hoảng không tiền khoáng hậu. Con
người đang hoang mang, lạc hướng, đang sống trong một bầu
không khí "cuối thế kỷ", đang chờ đợi một sự chuyển
hướng, một sự gẫy đoạn đưa tới một cái gì hoàn toàn
mới lạ. Có thể đó là một trào lưu tư tưởng mới, một
hệ thống tổ chức xã hội mới, hay là sự tổng hợp các
tư tưởng cũ được thích nghi với hiện tại. Cũng có thể
đó là một số giá trị tinh thần được lấy làm nền tảng
cho một nền văn minh mới, một giá trị tinh thần "phổ biến,
thế tục và phù hợp với khoa học", theo lời đức Đạt
Lai Lạt Ma.
Đạo
Phật có thể là một trong những giá trị tinh thần đó.
Ưu
thế của đạo Phật
Sở
dĩ đạo Phật có khả năng đáp ứng nhu cầu tinh thần của
thế giới hiện tại là vì một số lý do :
1)
Trong một thế giới đang mất dần tính chất thiêng liêng
(désacralisé), mất đức tin ở Thượng đế, ở thần linh,
đạo Phật xuất hiện như một con đường đặc biệt chú
trọng đến con người, đặt con người vào trung tâm điểm.
Khác với các tôn giáo khác, đạo Phật không phải là một
tôn giáo thần khải. Đạo Phật là một con đường tự giác,
đặt niềm tin và trách nhiệm nơi con người.
2)
Trong một thế giới thấm nhuần khoa học, đặt nặng vào
trí tuệ, đạo Phật xuất hiện như một con đường đặc
biệt dựa lên trí tuệ và có nhiều điểm phù hợp với khoa
học. Đạo Phật và khoa học gặp gỡ nhau nơi tinh thần thực
tiễn, thực nghiệm, thuyết tất định (déterminisme), quan niệm
hỗ tương (interdépendance) và tổng thể (holisme) của sự vật.
3)
Trong một thế giới mỗi ngày một chú trọng tới những vấn
đề tâm thần, đạo Phật xuất hiện như một phương pháp
rèn luyện tâm thần hữu hiệu. Các nhà khoa học nhận thức
đang tìm thấy trong đạo Phật một kho tàng kinh nghiệm tâm
thần vô cùng quý báu. Áp dụng những kinh nghiệm này để
hiểu rõ sự vận động của tâm thần, để làm chủ được
cái tâm của mình, và điều trị các tâm bệnh, là một con
đường đầy hứa hẹn.
4)
Trong một thế giới mỗi ngày một đa dạng về văn hóa, với
nhiều trào lưu nguồn gốc khác nhau, cần đến sự trao đổi
trong sự tôn trọng lẫn nhau, đạo Phật xuất hiện như một
truyền thống bao dung và ôn hòa, đáng làm gương mẫu.
Nhược
điểm của đạo Phật
Đó
là những ưu điểm có thể làm cho đạo Phật trở thành,
trên lý thuyết, một giá trị tinh thần siêu việt. Nhưng trên
thực tế, đạo Phật, đặc biệt Phật giáo Việt-Nam, còn
nhiều hạn chế và nhược điểm, cho nên vẫn chưa phát huy
được tiềm lực của mình :
1)
Đạo Phật còn mang nặng hình ảnh một tôn giáo khó hiểu,
phức tạp, một phần vì quá đa dạng, quá nhiều tông phái,
đôi khi mâu thuẫn lẫn nhau. Người mới đến với đạo Phật
như lạc vào một mê cung, một khu rừng rậm, giữa những
đạo Phật Nguyên Thủy, Thiền, Tây Tạng, Tịnh Độ, Duy Thức,
Thiên Thai, Nhật Liên, v.v..., không biết nên đi về hướng
nào. Người ta còn có thể tự hỏi rằng có nhiều đạo Phật,
hay là có những đạo Phật tuy mang tên là đạo Phật nhưng
không phải là đạo Phật ? Nói như nhà học giả Henri Arvon
: "Cũng như một hạt giống, không còn nhận ra được khi đã
nảy mầm và trở thành một thân cây, giáo lý nguyên thủy
của đức Phật, trước áp lực của nhu cầu tín ngưỡng
và thần bí của con người, đã sinh ra nhiều đạo Phật khác
chỉ còn giống lờ mờ so với đạo Phật ban đầu..."
2)
Đạo Phật bị coi là xa vời, thiếu thực tế, khó áp dụng
trong đời sống.
Làm
thế nào diệt dục trong khi cuộc đời đầy rẫy những lôi
cuốn, làm thế nào định tâm trong khi cuộc sống quay cuồng,
làm thế nào buông xả trong khi mỗi ngày phải vật lộn với
xã hội ? Đó là những câu hỏi của người Phật tử tầm
thường như chúng ta, đứng trước khoảng cách sâu rộng giữa
đạo Phật lý thuyết và đạo Phật thực tế, giữa đạo
Phật của nhà tu hành và đạo Phật thế tục, giữa đạo
Phật trí thức và đạo Phật dân gian.
3)
Đạo Phật còn bị mang nặng một số thành kiến tiêu cực,
không phải là không có căn cứ, nhưng cần được giải trừ
một cách cặn kẽ, như : "Đạo Phật yếm thế, tiêu cực,
đạo Phật chủ trương khổ hạnh, xa lánh cuộc đời, hủy
diệt mọi tình cảm, đạo Phật khinh rẻ đàn bà" v.v...
4)
Riêng Phật giáo Việt-Nam còn có một số đặc điểm, do chính
lịch sử của mình :
- Đó
là ảnh hưởng sâu đậm của Phật giáo Trung Quốc, của Tịnh
Độ và Mật Tông so với đạo Phật Nguyên Thủy và Thiền
Tông, pha trộn với tín ngưỡng dân gian. Rất đông người
theo đạo Phật vì truyền thống, nhưng có bao nhiêu người
thực tình hiểu và sống đúng đắn đạo Phật? Điển hình
là từ vài năm nay tại Việt-Nam, số người đi lễ chùa càng
này càng đông, đặc biệt những ngày rằm và ngày lễ. Nhưng
đa số lên chùa là để cúng vái, để cầu xin cho chính bản
thân và gia đình mình (tức là vẫn còn chấp ngã), chứ không
phải là để tìm một con đường tự giác. Thậm chí đã
có nhiều sinh hoạt mê tín, dị đoan, chữa bệnh bằng bùa
phép, xuất hiện ngay tại hay bên cạnh các chùa chiền.
- Tổ
chức Phật giáo Việt-Nam còn thiếu chặt chẽ, thiếu qui củ,
so với các giáo hội khác, như Công giáo chẳng hạn. Tại
hải ngoại, ai ai cũng có thể lập hội, xây chùa và mời
một nhà tu hành tới trụ trì, miễn là có Phật tử tới
cúng dường và đóng góp.
- Về
nhân lực, tuy đã có nhiều cố gắng trong công trình đào
tạo, nhưng Phật giáo Việt-Nam vẫn còn thiếu kém, chưa đủ
tăng ni có trình độ cao học, để cùng với một số cư sĩ
họp thành một đội ngũ có khả năng đáp ứng những nhu
cầu nghiên cứu và giảng dậy.
Đối
tượng của công cuộc hiện đại hóa
Việc
đầu tiên, là phải xác định đâu là đối tượng của công
cuộc hiện đại hóa này. Đạo Phật phải hướng về ai,
và dựa lên ai?
- Thứ
nhất là phải hướng về quảng đại quần chúng, nghĩa là
những người nông dân, bởi vì 80 phần trăm dân số Việt-Nam
sống ở thôn quê, chúng ta đều biết rõ điều đó. Đại
đa số Phật tử không phải là người trí thức, do đó phải
làm sao giản dị hóa đạo Phật, làm cho đạo Phật dễ hiểu
cho đến tận nông thôn. Nhưng giản dị và dễ hiểu không
có nghĩa là sai lệch, là hoang đường. Truyền bá đúng đắn
đạo Phật chính là đóng góp vào công việc nâng cao dân trí.
- Thứ
hai là hướng về tuổi trẻ. Bởi vì 50 phần trăm dân số
Việt-Nam dưới 18 tuổi, đạo Phật phải là đạo Phật của
tuổi trẻ, nếu muốn còn tồn tại trên giải đất này. Đạo
Phật chỉ có tương lai khi thu hút được thanh thiếu niên,
khi cảm thông được những vấn đề của tuổi trẻ, khi dùng
những từ ngữ trẻ trung, khi có những sinh hoạt thích hợp
với thế hệ trẻ.
- Thứ
ba là hướng về phụ nữ. Phải đặc biệt coi trọng vai trò
của người phụ nữ trong thế kỷ tới, trong sự điều hòa
gia đình cũng như xã hội, và thực thi sự bình đẳng nam-nữ
trong đời sống hàng ngày cũng như trong tổ chức Phật giáo.
- Thứ
tư là hướng về và dựa lên người cư sĩ. Đa số Phật
tử là cư sĩ, chứ không phải là tu sĩ, điều đó quá hiển
nhiên. Hiện đại hóa đạo Phật cũng có nghĩa là tìm một
đạo Phật thích hợp với cuộc sống của người cư sĩ.
Và trong công trình đó, chính người cư sĩ phải đóng một
vai trò tích cực, bởi vì hơn ai hết, người cư sĩ hiểu
rõ những vấn đề của chính mình và xã hội mình đang sống
trong đó. Nói như vậy không có nghĩa là không coi trọng vai
trò của nhà tu hành, nhưng phải công nhận rằng sự bức
thiết hiện đại hóa đạo Phật phát xuất chính từ nhu cầu
của xã hội thế tục chứ không phải từ đoàn thể tăng
già.
Chương
trình hiện đại hóa đạo Phật
Đó
là một chương trình lâu dài cần phải được xác định
một cách chín chắn, để đi tới một sự nhất trí trong
hành động. Tôi chỉ xin đưa ra một vài đề nghị, để làm
khởi điểm cho những suy nghĩ sâu xa hơn :
1.
Làm sáng tỏ thế nào là đạo Phật
Cũng
như mọi công trình tập thể, việc đầu tiên là phải định
nghĩa một cách sáng tỏ : thế nào là đạo Phật ? Liệu có
một đạo Phật dưới nhiều hình thức khác nhau, hay có nhiều
đạo Phật, hay có những đạo Phật không phải là đạo Phật
?
Người
ta có thể vin vào lời đức Phật : "Có 8 vạn 4 ngàn pháp
môn" để cho rằng tất cả những gì dính dáng ít nhiều tới
đạo Phật đều là đạo Phật. Nhưng như vậy là coi đạo
Phật như là một món hổ lốn, ai bỏ gì vào xào xáo cũng
được, hoặc như là một "quán trọ Y Pha Nho" ai ra vào cũng
được. Không phải cứ dán nhãn hiệu vào là thành đạo Phật,
cũng như không phải cứ thờ Phật là trở thành Phật tử.
Đạo Phật có những căn bản, có một lịch sử, có những
đặc tính rõ rệt.
Từ
đạo Phật Nguyên Thủy là cội gốc, đạo Phật đã phân
chia ra làm nhiều ngành, nhiều tông phái khác nhau, phát triển
theo những chiều hướng khác nhau. Dĩ nhiên, mỗi người đều
có quyền lựa chọn, tùy theo căn cơ của mình, mà đi theo
ngành này hay ngành khác : người nào thấy mình thanh thản
lúc tụng kinh thì theo Tịnh Độ, người nào thích thiền định
thì theo Thiền, người cần những nghi lễ có sắc thái huyền
bí thì theo Mật Tông...
Nhưng
điều quan trọng là phải làm sáng tỏ những đặc điểm
của mỗi ngành, đồng thời gạt bỏ những gì không phải
là đạo Phật, những gì trái ngược với tinh thần đạo
Phật, chẳng hạn như thờ cúng thần linh, mê tín dị đoan,
cuồng tín, lợi dụng, làm tiền tín đồ, và gây bạo động,
như một số giáo phái gần đây tại Nhật Bản.
2.
Gạn lọc những tinh hoa của giáo lý đạo Phật
Ai
ai cũng biết rằng giáo lý đạo Phật sâu rộng như rừng
như biển. Nhưng cũng phải công nhận rằng có những điều
quan trọng, có những điều thứ yếu, và những điều lỗi
thời. Đặt lại một số vấn đề, gạn lọc những tinh hoa,
cao thâm của đạo Phật, bỏ những điều cũ kỹ, bụi bậm
là một công trình tập thể và lâu dài vô cùng hệ trọng.
3.
Phát triển những phương pháp tu Phật
Nên
viết lại và thống nhất "Nghi thức tụng niệm" thường dùng
trong những buổi lễ, tóm tắt lại những tinh hoa của giáo
lý đạo Phật, dùng tiếng Việt giản dị dễ hiểu, tránh
chữ Hán, bỏ những bài chú tiếng Phạn phiên âm ra chữ Hán,
bỏ những khái niệm hoang đường như "linh hồn", "ma quỷ",
"địa ngục", v.v... hoàn toàn lỗi thời và thiếu khoa học.
Ngoài tụng niệm ra, nên phổ biến rộng rãi các phương pháp
thiền định, và nghiên cứu tác dụng trên tâm thần của
những phương tiện tu hành trong Mật Tông như thần chú (mantra),
đồ hình (mandala) và ấn quyết (mudra).
4.
Đổi mới chương trình đào tạo tăng ni
Nên
làm nhẹ bớt những môn học kinh điển, cổ xưa không còn
ích lợi cho hiện tại. Ngược lại, tăng thêm phần ngoại
ngữ, các môn khoa học, tâm lý, xã hội học, các vấn đề
thời sự, khuyến khích học nghề, gửi đi du học. Mục đích
là hiện đại hóa kiến thức của các tăng ni, và làm cho
sự hiểu biết của họ mỗi ngày một gần hơn với cuộc
sống.
5.
Áp dụng đạo Phật trong mọi lãnh vực của cuộc sống
Để
đi tới xác định lập trường của đạo Phật trong những
lãnh vực như giáo dục, y tế, kinh tế, văn hóa, môi trường
v.v... cần có sự cộng tác chặt chẽ của các tu sĩ và cư
sĩ trong mọi ngành.
Cố
gắng tranh thủ các chính quyền địa phương để tổ chức
những buổi thuyết trình, hội thảo trong khuôn khổ Phật
học viện hay chùa chiền, những buổi sinh hoạt xã hội, văn
hóa, trong mục đích học hỏi, trao đổi, tương trợ, thành
lập những ban chuyên môn về "Các vấn đề gia đình, giáo
dục", "Các bệnh tâm lý, xã hội", v.v...
6.
Tổ chức lại Giáo Hội, tăng đoàn
Hướng
tới một Giáo Hội thống nhất, độc lập đối với chính
quyền, với một tổ chức chặt chẽ, có trên dưới, có kỷ
luật, nhưng phải luân chuyển, có tính chất dân chủ, bình
đẳng, có cơ quan kiểm soát. Cần sự đóng góp của các cư
sĩ có khả năng về quản lý, hành chánh, kinh tài. Ngoài sự
cúng dường, tìm những phương thức kinh tài bằng trồng trọt,
thủ công nghệ, in ấn kinh sách...
Một
công trình lâu dài và cấp bách
Một
trong những khẩu hiệu đang thịnh hành trong nước là "hiện
đại hóa đất nước". Làm sao cho đất nước trở thành hiện
đại, không còn lạc hậu so với thế giới chung quanh. Đó
là một việc cần thiết cho sự sống còn của dân tộc.
Đạo
Phật Việt-Nam cũng vậy. Đạo Phật cần phải được hiện
đại hóa để thoát khỏi tình trạng chậm tiến, chênh lệch
hiện nay so với cuộc sống hàng ngày.
Công
trình hiện đại hóa đạo Phật quả là một công trình lâu
dài, đầy chông gai cam khổ, nhất là khi Phật giáo Việt-Nam
còn bị hạn chế trên nhiều mặt, trong một đất nước còn
nghèo nàn, lạc hậu, với một trình độ dân trí còn thấp
kém.
Nhưng
công trình đó phải được khởi sự một cách cấp bách.
Vì nhu cầu của những người Phật tử, nhu cầu của đất
nước, và nhu cầu của thế giới đang thúc đẩy. Hơn bao
giờ hết, đạo Phật cần được hiện đại hóa. Đó không
phải là một từ ngữ suông, một khái niệm hợp thời trang.
Đó là một sự cần thiết thực sự, một công trình cấp
bách trong đó mỗi người Phật tử phải cố gắng đóng góp
phần nhỏ bé của mình.
Đứng
trước ngã ba đường, Phật giáo Việt-Nam phải chọn lựa
:
- Hoặc
giữ như cũ, cổ kính, kinh điển, nặng hình thức tín ngưỡng,
xa lìa cuộc sống, không am hiểu những vấn đề của thời
đại.
- Hoặc
đổi mới, thực sự đi vào cuộc đời, cảm thông những
vấn đề khoa học, xã hội, tâm lý đặt ra cho con người
của thế kỷ sắp tới.
Nếu
đã chọn lựa con đường sau này, thì người Phật tử phải
quyết tâm, đồng nhất, cùng nhau xác định, trong tinh thần
phá chấp, khế cơ và sáng tạo, đâu là nền tảng, tinh hoa
của đạo Phật, phải can đảm tách rời những gì không phải
là đạo Phật, phá bỏ những cách biệt giữa đạo và đời,
để cùng nhau tạo dựng nên một đạo Phật sống động,
gắn liền với thực tại.
Trịnh
Nguyên Phước