Xe
đang chạy trên xa lộ 22, về hướng Đông. Xe gồm năm người:
băng trước là hai mẹ con bà chủ xe mà cậu con trai đang làm
tài xế; băng sau là ba người khách quá giang là tôi và hai
người bạn đạo. Trong số ba người quá giang này, tôi lại
còn thuộc loại “quá giang bậc nhì”, nghĩa là các bạn
đạo của tôi quen biết trực tiếp với chủ xe nên họ cho
quá giang. Còn tôi, được bạn đạo của tôi nói với chủ
xe cho tôi được .... quá giang bạn tôi!
Chỉ
mới phân định vị trí mà đã lê thê hết mấy dòng. Phàm
những gì phải giải thích loanh quanh, tự thân nó đã có mầm
phân biệt, có phân biệt là có đối đãi, có đối đãi là
có suy tưởng, có suy tưởng là trồi lên biết bao ranh giới
ta-người, có-không, đẹp-xấu, thiện-ác ...... Bất an, phiền
não từ đó bủa vây.
Ấy
thế mà tôi lại bắt đầu chuyến đi tới miền thanh tịnh
bằng những khởi niệm quẩn quanh bất tịnh. Có lẽ tôi chỉ
muốn giãi bầy rằng tôi được các bạn đạo tình cờ gọi
đi vào đúng lúc các bạn tôi không ngờ rằng tôi đang rất
cần đi. Đi đâu ? Ồi, đi bất cứ đâu ! Đi, như một hành
động yếm thế nhất để đối trị sự phiền não. Tôi đã
ngồi thiền, đã quán chiếu, đã chấp nhận phiền não như
một phần thân thể mình. Phải trực diện phiền não, phải
ôm lấy phiền não, phải tử tế với phiền não như người
mẹ đã ôm và tử tế với đứa con quấy khóc vì cơn sốt
bệnh. Rồi đứa con sẽ giảm nhiệt độ, sẽ ngủ ngoan, và
khi thức dậy, nó sẽ lại chạy chơi đây đó. Cùng với sự
khỏe mạnh của đứa con, người mẹ sẽ tìm lại được
an vui, vì khổ đau, lo lắng không còn nữa.
Ôi,
tôi đã tuân theo bài học, tập ôm đứa-con-phiền-não, đã
cố gắng hát nhiều bài ru, bài thì cương thường quyết liệt,
bài thì nỉ non dỗ dành, bài thì van nài bi lụy, nhưng đứa-con-phiền-não
như không thấy, không nghe. Nó quấy phá nhiều hơn, ác độc
nhiều hơn, tàn nhẫn nhiều hơn .....
Tôi
đang khởi tâm nghi ngờ sự quán chiếu và cách đối trị,
thì bạn đạo gọi: “Đi thăm Làng Di Đà không?”
Làng
gì cũng đi, nói chi Làng Di Đà!!!
“Tùng
thị Tây Phương, quá thập vạn ức Phật độ, hữu thế giới
danh viết Cực Lạc, kỳ độ hữu Phật, hiệu A-Di-Đà, kim
hiện tại thuyết pháp”
Tại
Pháp-hội Liên-Trì, khi Đức Phật nói với trưởng lão Xá
Lợi Phất rằng: “Từ đây qua Phương Tây, quá mười muôn
ức thế giới Chư Phật có một thế giới tên là Cực Lạc.
Thế giới đó có Đức Phật hiệu A-Di-Đà hiện nay đang thuyết
pháp”.
Khi
Đức Phật nói câu này là Ngài đang ngồi tại tu viện vườn
Cấp Cô Độc thuộc thành Xá Vệ nên phương Tây là nhìn từ
phía đó. Nếu hiểu phương hướng theo tinh thần “bản đồ”
thì chúng ta đang ở những phương trời khác nhau như Âu, Á,
Nhật Bản, Trung Hoa, Hoa Kỳ, Việt Nam v... v... mà cùng muốn
tới Tây Phương Cực Lạc để gặp Phật A Di Đà thì chắc
chắn không phải là chúng ta cùng nhắm hướng Tây mà đi tới
! Nhất là, khi học kinh A Di Đà và hiểu chút ít về pháp
môn Tịnh Độ thì Cực Lạc ngay nơi tâm ta, tâm thanh tịnh
là cảnh giới Cực Lạc, bước được những bước chân vững
chãi, an lạc thì Tịnh Độ ngay dưới bước chân ta, nào phải
nhắm hướng Tây, vượt muôn ức thế giới Chư Phật mới
tới được Cực Lạc. Mà cho dù có nhắm mắt nhắm mũi vượt
được “muôn ức thế giới Chư Phật” chăng nữa nhưng
gồng gánh theo đủ ngũ trược như tôi đây thì phương Tây
nào đó cũng đâu phải là Cực Lạc!!!
Tôi
vẫn đang dài dòng, đủ biết rằng cái gánh phiền não vẫn
còn trĩu nặng trên vai. Chúng tôi đang trên xa lộ 57, hướng
Đông Bắc.
Tôi
trừng mắt nhìn phiền-não và dọa thầm: “Mi không theo ta
lâu hơn nữa được đâu, vì ta đang trên đường tới Cực
Lạc, đất nước của Phật A Di Đà”. Và để chứng minh
lời dọa dẫm cho thêm hiệu lực, tôi đọc cho phiền-não
nghe đoạn kinh:
“Xá
Lợi Phất, bỉ độ hà cố danh vi Cực Lạc? Kỳ quốc chúng
sanh, vô hữu chúng khổ, đản thọ chư lạc, cố danh Cực
Lac” Này Xá Lợi Phất, thế giới đó vì sao có tên là Cực
Lạc? Vì dân chúng nước đó không có những sự khổ, chỉ
hưởng những điều vui nên thế giới đó tên là Cực Lạc.
Đọc
xong đoạn kinh này, tôi khởi ngay niệm ngạo mạn với phiền-não.
A, rồi mi sẽ biết, ta sẽ quăng mi ra như quăng những con đỉa
bám vào ống chân người đi rừng. Ta sẽ quăng mi dễ dàng.
Vì sao ư? Vì mi theo ta là làm ta đau khổ, nhưng ta đang tới
nước Cực Lạc, nơi không có sự khổ, chỉ toàn những điều
vui. Mi là sự khổ, làm sao theo ta tới Cực Lạc được!
Người
bạn đạo nhìn tôi, khẽ nói:
- Suy
tư gì mà im lặng thế? Nhìn kìa, trước núi non hùng vĩ, sa
mạc mênh mông mới thấy thân phận con người bé nhỏ nhường
bao! Ấy, đã bé nhỏ còn vô thường nữa mà cứ vô minh không
nhận ra.
Tôi
giật mình, tưởng như bạn mình có tha-tâm-thông, vừa đọc
được hết những quẩn quanh của mình. Nhưng không, bạn tưởng
tôi im lặng vì mệt nên nói tiếp:
- Nhắm
mắt một lúc đi, lấy sức tới làng mà leo đồi, lội suối.
Tôi
bật cười:
- Sao
lại leo đồi, lội suối?
Bạn
ngay thật, không biết tôi trêu ghẹo nên giải thích:
- Làng
mới thành lập, còn hoang sơ lắm mà, mấy ngọn đồi mênh
mông sỏi đá khô cằn. Hôm nay có một nhóm lên trồng cây,
nhóm khác thì làm cỏ, khai quang, cùng phát tâm cúng dường
công quả.
Tôi
lại cố tình ngây thơ:
- Vậy
ư? tưởng rằng “Cực Lạc quốc độ, hữu thất bảo trì,
bát công đức thủy, sung mãn kỳ trung, trì để thuần dĩ,
kim sa bố địa. Tứ biên giai đạo, kim ngân, lưu ly, pha lê
hiệp thành” chứ!
Tới
đây thì bạn biết là tôi trêu ghẹo. Bạn thật là từ bi,
đã không giận mà còn ân cần:
- Đúng
thế đó, trong nước Cực Lạc có ao bằng bẩy chất báu,
chứa nước đầy đủ tám công đức, đáy ao thuần dùng cát
vàng trải làm đất, đường viền quanh bốn bên ao thì rát
bằng vàng bạc lưu ly, pha lê. Đó chẳng phải là cảnh giới
đẹp đẽ trong tâm người tu Tịnh Độ ư?
Tôi
ân hận, cảm thấy không xứng đáng chút nào khi đùa cợt
như vậy. Lạ thay, chỉ một chút ân hận thôi, lòng tôi đã
nhẹ, gánh phiền não đã vơi. Tôi biết chứ, biết rằng xả
mười niệm phiền não là tăng một niệm Bồ-đề, nhưng đường
tu nhiều thử thách nên xen giữa bao phấn đấu vẫn thỉnh
thoảng quỵ ngã vì lụy phiền. Tôi nào quên trong kinh Duy Ma
Cật đã dạy “Phiền não là hạt giống Như Lai”. Không
có phiền não, làm sao ta biết được giá trị của thanh tịnh,
cũng như không có khổ đau làm sao biết hạnh phúc là gì.
Lòng
đã vơi nức nở khi xe đổi qua xa lộ 10, về hướng Đông.
Tôi nhìn cảnh trí bên đường, thấy núi như xanh hơn, nắng
như vàng hơn, vũ trụ mênh mông hơn và Cái Ta nhỏ lại hơn.
Cái Ta đã nhỏ thì những cái đang bám víu quanh ta có hành
hạ nổi ta nữa hay không? Này phiền-não, ta đang nhìn mi, đang
nhận diện mi. Mi là mi, ta là ta. Từ vô thỉ, mi không ngừng
rình rập, chờ từng sơ hở để tấn công ta, hủy diệt ta
hòng đồng hóa mi với ta.
Này,
hỡi con-ma-phiền-não, ta với mi là hai biệt thể. Mi chỉ có
thể đứng chung với ngũ trược ác thế, nơi “ Thích Ca Mâu
Ni Phật, năng vi thậm nan, hy hữu chi sự, năng ư Ta-Bà quốc
độ, ngũ trược ác thế: kiếp trược, kiến trược, phiền
não trược, chúng sanh trược, mạng trược trung, đắc A-Nậu-đa-la-tam-miệu-tam-bồ-đề,
vị chư chúng sanh, thuyết thị nhất thiết thế gian, nan tín
chi pháp” Đó, rất rõ ràng, Đức Thích Ca Mâu Ni không phải
là thần thánh, Ngài là người phàm như muôn chúng sanh nhưng
siêu phàm ở chỗ, ngay giữa cõi Ta-bà ngập đầy 5 yếu tố
ô nhiễm mà Ngài không chỉ chứng đắc được quả vị giác
ngộ vô thượng mà còn đem pháp môn rất khó tin để thuyết
giảng cho những ai chưa tin, phát khởi được niềm tin. Tin
gì? Tin rằng chỉ cần một lòng niệm hồng danh Đức Phật
A Di Đà, nhất tâm bất loạn thì tâm sẽ thanh tịnh. Tâm thanh
tịnh có nghĩa là ngũ trược bị đẩy lui. Tâm thanh tịnh
thì sẽ giao cảm được với Chư Phật.
Chúng
tôi đang trên xa lộ 15, nhắm hướng Bắc, qua biết bao nhiêu
thành phố mới rẽ vào con đường mang tên Big Bear Valley Road.
Người và cảnh như dịu dàng hơn, thân ái hơn. Hai bên đường,
nhà cửa thưa thớt dọc theo chân núi, thỉnh thoảng lại hiện
ra những tảng đá lớn nhỏ đủ cỡ, chồng lên nhau rất
mỹ thuật như có bàn tay ai sắp xếp. Nhưng tay ai mà sắp
xếp được sự hoành tráng tuyệt vời kia?
Bỗng
nhiên, tôi nhìn núi không là núi, đá không là đá nữa, mà
đá đó, núi kia như “Thất trùng lan thuẫn, thất trùng la
võng, thất trùng hàng thọ, giai thị tứ bảo, châu tráp vi
nhiễu”, thảy đều mang vẻ đẹp của Cực Lạc quốc độ
với “bảy từng bao lơn, bảy từng màng lưới, bảy từng
hàng cây đều bằng bốn chất báu bao bọc giáp vòng”
Xe
vẫn chạy, chạy mãi .... Núi và mây như cùng đi. Ôm lấy
chúng tôi là mây và núi, núi và mây. Vai tôi nhẹ hẫng. Cái
gánh phiền-não đâu rồi? Chân trời như mở rộng ra, mênh
mông, đằng trước, đằng sau, bên phải, bên trái không thấy
đâu là ranh giới; Và trên cao, ồ, trên cao vô tận kia như
đang tỏa xuống bát ngát hương mạn-đà-la trong âm thanh huyền
diệu. Có phải dân chúng trong nước Cực Lạc đang hái hoa
cúng dường Chư Phật “Bỉ Phật quốc độ thường tác thiên
nhạc, huỳnh kim vi địa, trú dạ lục thời, vũ thiên mạn-đà-la
hoa, kỳ độ chúng sanh, thường dĩ thanh đáng, các dĩ y kích,
thạnh chúng diệu hoa, cúng dường tha phương thập vạn ức
Phật”
Xe
chạy mãi, chạy tới mức con đường Big Bear Valley Road mệt
quá, nó bèn đổi thành Highway CA-18 (Tội nghiệp, nó tưởng
đổi tên là giao cho thằng CA-18 chạy tiếp sức, có biết
đâu thay tên chỉ như thay áo!)
Trên
CA-18, xe băng qua những cánh đồng hoang vu, có lẽ vừa xong
mùa gặt hái hoa mầu. Lại thấy núi, thấy mây nhưng rải
rác đã có nhà cửa, hàng quán. Và kìa, xe vừa rẽ phải,
vào một con đường đất gồ ghề, mấp mô. Những hòn sỏi
nhỏ liên tục va vào hai bên thành xe, loạt xoạt như âm thanh
vỡ vụn của miếng bánh đa ròn tan. Con đường đất càng
nhỏ dần, càng mấp mô thêm. Ô kìa, sắp đến chân núi rồi,
không thấy con đường nào nữa! Làng ở đâu? Trong núi ư?
Xe
vẫn chạy. Chạy nữa. Chắc chắn là không thấy con đường
nào trước mắt nữa cả! Vậy làng ở trong núi thật rồi.
Nhưng không, dù làng có ở trong núi cũng phải có đường
vào núi chứ? Núi kín mít thế kia, làng đâu??? Xe chạy chậm
hơn ..... chậm hơn ..... chậm .... và chậm nữa ..... tới sát
chân núi rồi. Hết đường đi. Một tấm bảng hết sức đơn
sơ bên phải, ai đó đã nắn nót viết: “LÀNG DI ĐÀ”.
Chúng
tôi xuống xe. Mọi người lục tục theo nhau vào làng. Tôi
còn đứng đó, đứng như chôn chân bên cổng làng.
Sửng
sốt.
Bàng
hoàng.
Cõi
lòng u uẩn, trĩu nặng ưu phiền bỗng bừng sáng khi chợt
nhận ra “HẾT ĐƯỜNG ĐI, LÀ ĐIỂM TỚI”.
Ôi,
mầu nhiệm thay, đơn giản có thế thôi “hết đường đi,
là điểm tới” Xả phiền não là thanh tịnh. Đèn bật lên,
bóng tối tất lui.
“Đem
cái tâm bất an ra đây, ta an cho. Thưa, tâm bất an con tìm không
thấy, lấy không ra” Đó là khi ngài Huệ Khả kẹt nơi pháp
chấp văn tự mà ngỡ là mình có cái tâm bất an. Tiếng quát
đúng thời, đủ duyên của Tổ đã đưa Huệ Khả ra khỏi
lưới kẹt. Hết kẹt là tâm an, còn tìm đâu ra tâm bất an
mà trình Tổ Đạt Ma nữa!
Chúng
sanh sơ cơ, mãi quẩn quanh trên đường phiền não như tôi
thì đi mười đại kiếp cũng không thấy điểm tới!
Ôi,
bài học vi diệu mà tôi vừa bất ngờ nhận được. “Hết
đường đi” còn có nghĩa là “dừng lại”. Chỉ cần dừng
lại tâm ô nhiễm thì điểm tới thanh tịnh hiển bày, dừng
tâm sân si thì Cực Lạc quốc độ ngay dưới bước chân ta.
Hãy quán một điều tương đối dễ: “Cái thân tứ đại
ta ngỡ là quan trọng nhất mà còn vô thường, thì những gì
xoay quanh thân đó còn mong manh tới đâu! Ta chịu sự khổ
đau phiền não vì còn muốn bám víu vào những cái mong manh,
vô thường đó ư?”
Tôi
đứng đó, với tâm không lay động, lắng sâu và thinh lặng
như 1250 vị khất-sỹ đang nghe lời Đức Thích Ca Mâu Ni truyền
dạy trong Hội Liên Trì: “Nhữ đẳng chúng sanh đương tín
thị, xưng tán bất khả tư nghì công đức nhất thiết Chư
Phật sở hộ niệm kinh”.
Nam
Mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nam
Mô A Di Đà Phật
Diệu
Trân
(Mùa
Sen 2006)