HÃY
MỞ TÂM
BAO
LA NHƯ ĐẠI DƯƠNG
Hãy
nhìn thẳng vào tâm của chúng ta. Nếu chúng ta thật sự tin
tưởng rằng tất cả những lạc thú của chúng ta đều đến
từ vật chất và chúng ta phải dành cả cuộc đời để theo
đuổi chúng, thì chúng ta đã có một quan niệm sai lầm, đã
lầm lẫn một cách trầm trọng. Thái độ này không khôn ngoan
chút nào cả. Thoạt tiên mới nghe điều này, có thể chúng
ta sẽ nghĩ, “Ồ, tôi không như vậy, tôi hoàn toàn không
tin vào sự vật bên ngoài có thể mang lại hạnh phúc cho tôi.”
Nhưng hãy nhìn sâu xa hơn vào trong tấm gương của tâm chúng
ta, chúng ta sẽ thấy rằng phía bên kia của sự khôn ngoan
này, như thái độ thận trọng trong những hoạt động thường
ngày cho biết chúng ta làm việc rất chu đáo khôn ngoan, là
chúng ta thực sự tin vào quan niệm sai lầm trên. Bây giờ,
chúng ta hãy định tâm lại, rất thành thật tự nhìn sâu
vào tận đáy tâm hồn của chúng ta xem chúng ta có thực sự
bị hay không bị ảnh hưởng bởi một cái tâm như vậy.
Một
cái tâm thực sự tin tưởng vào thế giới vật chất là một
cái tâm qúa hẹp hòi, qúa giới hạn; nó không còn một chỗ
nào trống. Bản tính tự nhiên của nó qúa bệnh, không lành
mạnh, danh từ Phật giáo gọi là tâm nhị nguyên, tâm đối
đãi.
Trong
một số quốc gia, người ta sợ những kẻ có hành động
khác thường, như nghiện ngập cần sa ma túy. Người ta làm
luật để chống những người này và thành lập những hàng
rào kiểm soát biên giới để tránh sự xâm nhập chúng vào
xứ sở họ. Hãy thử nhìn vấn đề gần hơn một chút xem
sao. Nghiện thuốc không phải tự thuốc mà tự tâm của con
người. Có thể vì cần khoái cảm, vì sợ những thái độ
tâm lý --tâm ô nhiễm-- nên người ta mới dùng thuốc và dấn
thân vào những hành vi tự hủy hoại mình, có thể chúng ta
cũng đã thổi phồng vấn đề này một cách qúa đáng mà
quên hẳn đi vai trò của tâm. Đây là một sự sai lầm trầm
trọng, chính sự sai lầm này, chính cái ảnh hưởng tâm lý
này còn tệ hại hơn vấn đề dùng thuốc nhiều lắm.
Những
quan niệm lệch lạc, không đúng thì nguy hiểm hơn thuốc rất
nhiều. Cần sa ma túy tự nó không thể bành trướng nhanh và
rộng rãi, nhưng một tư tưởng sai lầm có thể ảnh hưởng
rất xa, rất lâu, ở bất cứ chỗ nào và là nguyên nhân cho
rất nhiều rắc rối, rất nhiều xáo trộn cho cả một quốc
gia. Tất cả những hiện tượng này đều do tâm mà ra. Vấn
đề là chúng ta đã không thấu hiểu được tâm lý tự nhiên
của tâm. Chúng ta đã qúa chú trọng đến những sự kiện
vật chất ở bên ngoài của con người mà hoàn toàn không
biết, không tỉnh thức, không kiểm soát được những tư
tưởng sai lầm và những ý niệm bị ô nhiễm đang tràn qua
tâm của chúng ta trong từng giây phút.
Tất
cả những bệnh tâm thần đều do tâm mà ra. Chúng ta nên huấn
luyện tâm của chúng ta thay vì cứ đi khuyên bảo mọi người:
“Ồ, anh không vui, chị không được hạnh phúc vì anh, chị
qúa dở. Chỉ cần có một cái xe thật đẹp là được rồi...”
hay nên mua sắm vật này, thứ kia... Khuyên người ta đi mua
sắm để được hạnh phúc là hoàn toàn không khôn ngoan chút
nào. Nguyên nhân cốt tủy của tất cả mọi vấn đề của
con người là có một cái tâm bất mãn chứ không phải tại
thiếu thốn vật chất. Sự khác biệt vĩ đại giữa tâm lý
học của Đức Phật và những gì đang được áp dụng bên
phương Tây là cách con người đối diện với bệnh tâm thần
và làm sao để chữa trị nó.
Khi
bệnh nhân trở lại và nói, “ Tôi đã mua xe như lời bác
sĩ khuyên, nhưng tôi vẫn không có hạnh phúc,” có thể bác
sĩ sẽ nói, “anh mua chiếc xe đó thường qúa, nên mua chiếc
đắt tiền hơn” hay “nên chọn cái mầu khác.” Mặc dù
anh ta về làm theo lời bác sĩ khuyên bảo, anh ta cũng vẫn
trở lại với bộ mặt chẳng vui. Mặc dù con người có thay
đổi hoàn cảnh thế nào đi nữa, vấn đề căn bản cũng
vẫn còn, bệnh vẫn chưa hết. Tâm lý học Phật giáo đề
nghị, thay vì tiếp tục thay thế từ điều kiện này qua điều
kiện khác, từ rắc rối này qua rắc rối khác mà không có
lối thoát, hãy chấm dứt ngay chuyện xe pháo một thời gian
xem chuyện gì sẽ xẩy ra. Đây chỉ là sự thay thế, thay thế
một vấn đề bằng một vấn đề bí tắc khác. Tưởng rằng
càng thay thế cách giải quyết càng làm cho người ta nghĩ
họ sẽ khá hơn, nhưng không bao giờ khá hơn. Thực ra họ
vẫn kinh nghiệm, vẫn đối diện với cùng một vấn đề.
Dĩ nhiên, tôi không có ý nói nó hoàn toàn giống như vậy.
Tôi chỉ đơn giản cố gắng trình bày vấn đề là con người
đã giải quyết bệnh tâm thần bằng phương pháp vật chất
như thế nào.
Bây
giờ, chúng ta hãy nhận định bản tính tự nhiên của tâm.
Là một con người, chúng ta luôn luôn tìm kiếm sự thỏa mãn,
sự vừa ý hài lòng. Nếu thấu hiểu tâm bản nhiên, chúng
ta có thể tự bằng lòng, tự hài lòng với chính mình một
cách sâu xa và trường cửu. Để được như vậy, chúng ta
phải nhận diện được tâm bản nhiên của chính chúng ta.
Chúng ta nhìn thế giới vật chất rất rõ, nhưng chúng ta hoàn
toàn mù với thế giới nội tâm của chúng ta, ở đó những
quan niệm sai lầm thường xuyên hiện hành làm cho chúng ta
luôn luôn bất mãn và buồn chán. Đây là vấn đề mà chúng
ta cần phải khám phá, tìm hiểu.
Vì
thế, chúng ta hãy thành thật quyết tâm không để bị ảnh
hưởng bởi những quan niệm sai lầm là chỉ có thế giới
vật chất mới mang lại sự thỏa mãn và giá trị cho cuộc
đời của chúng ta. Như tôi đã trình bày ở trên, sự tin
tưởng này, sự quyết tâm này cũng không hẳn là một điều
khôn ngoan, vì gốc rễ của sự ô nhiễm đã ăn rất sâu trong
tâm khảm của chúng ta. Có rất nhiều thứ ham muốn mãnh liệt
đã chôn sâu dưới lớp vỏ thông minh của chúng ta; nó nằm
sâu trong sự thông minh đến nỗi nó còn khôn ngoan và dũng
mãnh hơn chính cả sự thông minh.
Có
người nghĩ rằng, “Căn bản tâm lý của tôi là âm thanh.
Tôi không đặt niềm tin vào vật chất; tôi đang theo đạo.”
Chỉ đơn giản học hỏi một vài triết thuyết hay giáo lý
của một tôn giáo không đủ để làm chúng ta trở thành một
người sống tâm linh. Có rất nhiều giáo sư đại học giảng
dậy rất rõ về các học thuyết của Phật giáo, Aán độ
giáo hay Thiên Chúa giáo, mà không có một đời sống tâm linh.
Họ giống như những người hướng dẫn du lịch trên con đường
tâm linh. Nếu chúng ta không thật sự thực hành để có được
những kinh nghiệm bản thân về những điều chúng ta đã học
hỏi thì sự học hỏi này chẳng có ích lợi gì cho chính
chúng ta và cho những người khác. Có một sự khác biệt vĩ
đại giữa sự giảng giải thông minh về tôn giáo và sự
thực hành chuyển hóa sự hiểu biết này thành những kinh
nghiệm tâm linh.
Chúng
ta phải thực hành những gì chúng ta đã học để biến chúng
thành những kinh nghiệm sống của chính chúng ta và thông hiểu
kết quả của từng hành động mà nó mang lại. Uống một
ly trà -- cho đã cơn khát -- đôi khi còn ích lợi hơn là có
những văn bằng triết học mà chẳng giúp ích được gì cho
chúng ta, bởi vì chúng ta không có chìa khóa. Chỉ tốn thời
giờ và sức lực nếu học mà không thực hành.
Tôi
hy vọng rằng qúy vị hiểu danh từ “tâm linh” thực sự
có nghĩa là gì. Nó có nghĩa là tìm kiếm, nghiên cứu bản
tính chân thật của tâm. Không có “tâm linh” ở bên ngoài.
Xâu chuỗi của tôi không phải là tâm linh. Bộ áo cà sa của
tôi không phải là tâm linh. Tâm linh chính là tâm, một người
sống tâm linh có nghĩa là một người đang tìm kiếm bản
tính tự nhiên của họ. Qua việc tìm kiếm, nghiên cứu này,
họ hiểu được những hậu quả của từng hành vi của họ,
những sinh hoạt của thân (hành động) khẩu (lời nói) và
ý (ý tưởng) của họ. Nếu chúng ta không hiểu được những
nghiệp quả của những gì chúng ta làm, chúng ta suy nghĩ thì
chúng ta không thể trở thành một người sống tâm linh. Chỉ
biết, chỉ thuộc giáo lý, đạo lý của tôn giáo không đủ
để làm chúng ta có một đời sống tâm linh.
Để
đi vào con đường tâm linh, chính chúng ta phải bắt đầu
hiểu được thái độ tinh thần của chúng ta và hiểu được
tâm của chúng ta nhìn sự vật như thế nào. Nếu chúng ta
chỉ chấp, chỉ bám víu vào những chuyện quá nhỏ nhặt,
thì cái tâm hạn hẹp, cái tâm vướng víu không để cho chúng
ta an hưởng cuộc sống. Nếu chúng ta để chúng ta bị lệ
thuộc vào những nguồn năng lực ở bên ngoài thì tâm của
chúng ta sẽ bị hạn chế như chúng. Một khi tâm trở nên
hẹp hòi, nhỏ bé thì những điều hạn hẹp, thấp kém sẽ
gây xáo trộn đời sống của chúng ta một cách rất dễ dàng.
Hãy mở tâm chúng ta bao la như đại dương.
Chúng
ta thường nghe những người có đạo nói rất nhiều về chuyện
đạo đức. Cái gì là đạo đức? Đạo đức chính là trí
tuệ hiểu được tâm bản nhiên. Một cái tâm hiểu được
bản tính tự nhiên của mình thì cũng tự nhiên trở nên đạo
đức, tốt lành, tích cực và tất cả những hành động được
điều khiển bởi cái tâm đó cũng đạo đức, thánh thiện.
Đó là những gì chúng tôi gọi là đạo đức. Bản chất
tự nhiên của một cái tâm chật hẹp thì ngu si, vô minh, đó
là cái tâm tiêu cực, không đạo đức.
Nếu
chúng ta hiểu được tâm lý rất tự nhiên của tâm chúng
ta, thì sự buồn chán, sự phiền muộn sẽ tự tan biến ngay;
thay vì hận thù, xa lạ với mọi người thì tất cả sẽ
trở thành bạn thân. Tâm hẹp hòi luôn luôn từ chối, trí
huệ luôn luôn tiếp nhận. Hãy kiểm soát tâm của chúng ta
xem điều này đúng hay sai. Mặc dù chúng ta có được tất
cả mọi thứ ở thế gian này, chúng ta cũng vẫn chưa thỏa
mãn, chưa hài lòng. Điều này chứng minh sự thỏa mãn chân
thật chỉ có ở nội tâm, không thể kiếm tìm ở bên ngoài.
Đôi
khi chúng ta ngạc nhiên về những chuyện của thế giới văn
minh: “ Trời! Khoa học tiến bộ quá, thật là tuyệt! Chưa
từng thấy như vậy.” Nhưng hãy đi lùi lại và nhìn kỹ
hơn, có rất nhiều thứ khi mới chế ra mà chúng ta cho rằng
quá tuyệt diệu bây giờ đang gây trở ngại cho chúng ta. Cái
mà chúng ta đã chế tạo ra để giúp đời sống chúng ta,
bây giờ đang gây phiền phức cho chúng ta. Đừng chỉ nhìn
những sự kiện ở ngay chung quanh ta, hãy nhìn xa hơn, rộng
rãi hơn, quý vị sẽ hiểu được sự thật mà tôi muốn nói.
Khi chúng ta vừa mới chế ra được vật gì, chúng ta nghĩ,
“ Ồ, cái này thật hữu ích.” Nhưng dần dần niềm hứng
khởi này đi vào bên trong (tâm) và nó sẽ tự phá hủy nó.
Đó là bản tính tự nhiên của bốn nguyên tố (tứ đại):
đất, nước, lửa và gió. Đây là vấn đề mà khoa học Phật
giáo đã dậy cho chúng tôi.
Thân
xác của chúng ta cũng không thoát khỏi định luật này. Cho
tới khi nào những nguyên tố này còn hòa hợp với nhau thì
thân xác chúng ta phát triển tốt đẹp. Nhưng khi nào chúng
chống đối nhau, không cân bằng với nhau thì đời sống của
chúng ta cũng chấm dứt. Tại sao chuyện này xẩy ra? Bởi vì
giới hạn tính tự nhiên của tất cả mọi hiện tượng là:
khi năng lực bị thất thoát, không còn, thì sẽ bị tiêu hủy;
như những tòa nhà cũ và nứt nẻ mà chúng ta thấy ở chung
quanh đây. Khi thân xác của chúng ta bị bẹânh và già yếu
là triệu chứng cho chúng ta biết những nguồn năng lực ở
bên trong chúng ta bị xáo trộn, không cân bằng. Đây là bản
tính tự nhiên của thế giới vật chất; chẳng có liên hệ
gì đến vấn đề tin hay không tin. Cho tới khi nào chúng ta
còn sinh vào thế giới thịt, máu và xương này thì chúng ta
sẽ còn kinh nghiệm, còn tiếp nhận những điều kiện xấu,
dù chúng ta tin hay không tin. Đây là tiến trình rất tự nhiên
của thế giới thân xác.
Tuy
nhiên, tâm của con người hoàn toàn khác. Tâm của con người
có khả năng phát triển vô giới hạn. Nếu chúng ta khám phá
được sự thỏa mãn chân thật đến từ tâm của chúng ta,
dù trong một sự kiện nhỏ bé, thì chúng ta sẽ nhận ra rằng
chúng ta có thể phát triển vô giới hạn kinh nghiệm này.
Do đó chúng ta có thể khám phá ra được sự thỏa mãn bất
tận, thường hằng, sự toàn mãn, viên mãn.
Điều
này rất đơn giản. Qúy vị có thể tự tìm thấy ngay bây
giờ. Chúng ta kinh nghiệm được những cảm giác thỏa mãn,
hài lòng ở đâu? Ở mũi của quý vị? Ở mắt? Ở trên đầu?
Ở trong phổi? Ở trong trái tim? Ở trong bao tử? Thực sự
tất cả những cảm giác đó ở đâu? Hay là ở dưới chân?
Ở tay? Ở trong óc?... Không! Chúng ở trong tâm của quý vị!
Nếu chúng ta bảo nó ở trong óc, thì tại sao chúng ta không
bảo nó ở mũi hay ở chân được? Tại sao chúng ta lại phân
biệt như vậy? Nếu chân chúng ta bị đau, chúng ta cảm thấy
ở dưới kia, không phải ở trong đầu. Muốn nói gì thì nói,
bất cứ những gì chúng ta cảm thấy như đau, sung sướng,
vui buồn hay bất cứ những kinh nghiệm cảm giác nào chúng
ta có, chúng đều là sự diễn dịch của tâm.
Khi
chúng ta nói, “ Hôm nay tôi có một ngày tốt,” nó cho chúng
ta biết một điều là chúng ta đang giữ, đang có trong tâm
tưởng một ngày xấu. Nếu tâm không sáng tạo một cái tên,
một cái nhãn hiệu thì chẳng có kinh nghiệm tốt cũng như
kinh nghiệm xấu. Khi chúng ta nói bữa cơm chiều nay ngon có
nghĩa là chúng ta đang giữ một kinh nghiệm về một bữa cơm
chiều không ngon ở trong tâm. Không có kinh nghiệm bữa
cơm xấu thì không thể nói bữa cơm tối nay ngon được.
Tương
tự như vậy, “Tôi là một người chồng tốt,” “Tôi là
một người vợ xấu,” cũng chỉ là sự diễn dịch của
tâm. Một người nào đó nói, “ tôi không tốt” chưa chắc
họ đã xấu; người khác nói, “ tôi tốt,” chưa chắc họ
đã tốt. Người đàn ông tuyên bố, “Tôi là người chồng
tốt,” bởi vì tâm của người này chất đầy sự kiêu căng,
tự hào. Cái tâm chật hẹp của ông ta -- bị đắm chìm trong
ô nhiễm vì tin tưởng mãnh liệt là ông rất tốt -- đang
gây khổ đau cho bà vợ. Vậy thì, ông ta là người chồng
tốt như thế nào đây? mặc dù ông ấy vẫn cung cấp thức
ăn, quần áo cho bà vợ hàng ngày, ông ta là một người chồng
tốt như thế nào được khi mà bà vợ cứ phải sống với
cái tâm kiêu ngạo, hung hăng của ông ta?
Nếu
chúng ta hiểu được những hoàn cảnh gây tâm lý về những
vấn đề của con người, chúng ta sẽ phát triển được tình
yêu thương chân thành đến với mọi người. Chỉ nói về,
chỉ bàn về tình yêu thương thì không đủ để chúng ta phát
triển tâm từ bi. Có những người từng đọc hàng trăm cuốn
sách nói về tình yêu mà tâm họ hầu như đi ngược lại.
Lòng từ bi không chỉ là triết thuyết, không chỉ là lời
nói; nó biết tâm làm việc như thế nào, tâm hiện hành như
thế nào. Chỉ như vậy chúng ta mới phát triển được tình
yêu thương, chỉ như vậy chúng ta mới có thể sống một
đời sống tâm linh. Ngoài ra, dù có nói tôi đang sống một
đời sống tâm linh thế nào đi nữa, cũng chỉ là kiểu thông
minh của người đàn ông gàn bướng tự cho mình là người
chồng tốt. Đó là chuyện giả tưởng, tâm của chúng ta tạo
ra mà thôi.
Nếu
chúng ta dành cuộc đời của chúng ta để kiểm soát cái tâm
điên cuồng và hướng dẫn những nguồn năng lực tâm linh
thì có giá trị biết bao. Nếu chúng ta không biết cầm cương
sức mạnh của tinh thần thì sự lầm lẫn sẽ tiếp tục
phá rối tâm chúng ta và đời của chúng ta sẽ uổng phí biết
bao. Hãy khôn ngoan, hãy có một cái tâm luôn luôn tỉnh thức,
như vậy đời của chúng ta mới thực sự có giá trị.
Tôi
không còn gì để trình bày thêm nữa, nhưng nếu quý vị có
những câu hỏi, xin cứ đặt ra.
Hỏi:
Tôi hiểu những gì ngài trình bày về biết được bản tính
của tâm sẽ mang lại hạnh phúc cho chúng ta, nhưng ngài dùng
danh từ “thường hằng, bất diệt” để ám chỉ nếu chúng
ta thấu triệt được tâm của chúng ta, chúng ta có thể chuyển
hóa được sự chết của cái thân xác này. Điều này đúng
không, thưa ngài?
Lạt
ma: Đúng, rất đúng. Nhưng chưa hoàn toàn. Nếu chúng
ta biết bằng cách nào, khi nào những nguồn năng lực âm của
thân xác khởi phát, chúng ta có thể biến nó thành trí tuệ.
Bằng cách này, những nguồn năng lực âm sẽ tự tiêu hóa
và sẽ không còn che kín, ngăn cản hệ thần kinh tâm linh của
chúng ta nữa.
Hỏi:
Đó là thân của tâm hay là tâm của thân?
Lạt
ma: Anh có ý nói gì?
Hỏi:
Bởi vì tôi nhận biết được thân xác.
Lạt
ma: Bởi vì anh nhận biết được nó? Anh có nhận biết
được xâu chuỗi này không?
Hỏi:
Có.
Lạt
ma: Cái đó có làm ra tâm không? Bởi vì anh nhận biết nó?
Hỏi:
Đó là điều tôi muốn hỏi ngài.
Lạt
ma: Ồ, đó là câu hỏi rất hay. Tâm của anh và thân
xác của anh có một sự liên kết rất chặt chẽ; khi một
sự kiện gây ảnh hưởng đến thân xác nó cũng ảnh hưởng
đến tâm. Nhưng điều này không có nghĩa là sự liên hệ
tự nhiên của cái thân xác này, thịt xương, là tâm. Chúng
ta không thể nói như vậy.
Hỏi:
Phật giáo có ý nói gì khi đề cập đến: giác ngộ, tình
huynh đệ, tình thương bao la, siêu thức, nhận thức sự thật,
nhập niết bàn?
Lạt
ma: Siêu thức là tâm thức hoàn toàn ở trong tình trạng
tỉnh thức, tình thương yêu bao la là sự vắng bóng của thiên
lệnh, nghiêng về bên này hay bên kia; tình yêu bao la đặt
căn bản trên sự nhận thức tất cả chúng sinh trong vũ trụ
đều bằng nhau trong việc kiếm tìm hạnh phúc và ngăn ngừa
sự bất hạnh. Hiện tại, tâm nhị nguyên của chúng ta cộng
thêm những quan niệm sai lầm, chúng ta thường hay phân biệt:
“Đây là bạn thân của tôi, tôi chỉ muốn cô ta thuộc về
tôi, tôi không muốn ai nhìn cô ta.” Người tu tập Phật Pháp
quan niệm ngược lại, yêu thương đồng đều muôn loài chúng
sinh. Mục đích tối thượng là đạt giác ngộ. Nói một cách
vắn tắt, khi Đức Phật dậy bảo chúng ta, Ngài nhấn mạnh
đến việc tìm hiểu tâm bản nhiên là để chúng ta nhận
thức được tất cả những vấn đề anh vừa đề cập đến.
Hỏi:
Nhưng cái gì được coi là quan trọng nhất mà Đức Phật
nhắm tới?
Lạt
ma: Mục đích tối thượng là đạt giác ngộ và phát
triển tâm từ bi. Một cái tâm hẹp hòi không thể nhận thức
được, không thể kinh nghiệm được sự thật.
Hỏi:
Trong những bức tranh của Tây Tạng, màu sắc ảnh hưởng
đến thiền định và tâm lý như thế nào?
Lạt
ma: Tâm khác nhau cho những nhận thức khác nhau về màu
sắc. Thí dụ, khi giận dữ, tức bực ta thấy màu đỏ. Tâm
trong trạng thái khác nó sẽ nhận thức mầu khác. Trong vài
trường hợp, một người bị rối loạn tinh thần, không còn
khả năng sinh hoạt, mầu sắc có thể giúp họ lấy lại trạng
thái bình thường. Nếu chúng ta hiểu biết về lãnh vực này,
chúng ta sẽ thấy rằng mầu sắc cũng do tâm của chúng ta.
Khi tức giận, chúng ta thấy màu đỏ, nó từ bên trong hay
bên ngoài? Qúy vị hãy thử tìm hiểu xem.
Hỏi:
Trong thực tế, những vấn đề liên quan đến đời sống
thường ngày, có phải ngài nói rằng để có được những
tư tưởng tốt, chúng ta cũng phải có trong tâm những tư tưởng
xấu?
Lạt
ma: Tôi nói rằng khi chúng ta diễn tả một sự vật tốt
hay xấu là do tâm của chúng ta diễn dịch ra. Cái gì xấu
đối với anh chưa chắc đã xấu với tôi.
Hỏi:
Nhưng cái xấu của tôi vẫn là cái xấu của tôi.
Lạt
ma: Cái xấu của anh nó xấu cho anh bởi vì tâm của anh
cho cái đó là xấu.
Hỏi:
Tôi có thể thoát ra khỏi tình trạng này không?
Lạt
ma: Có. Anh có thể thoát ra khỏi nó. Anh hãy tự hỏi
và tự trả lời, “ Tại sao tôi lại cho cái này xấu?”
Chúng ta phải đặt câu hỏi cho cả hai phía, cho cả chủ thể
(người hỏi) lẫn đối tượng (vật bị hỏi), cho cả bên
ngoài lẫn bên trong. Hỏi như vậy, chúng ta sẽ khám phá ra
sự thật nằm ở giữa hai bên, cái khoảng không ở giữa
chính là cái tâm thống nhất. Đó chính là trí tuệ.
Hỏi:
Khi vào tu viện, ngài bao nhiêu tuổi?
Lạt
ma: Sáu tuổi.
Hỏi:
Niết bàn là gì?
Lạt
ma: Khi chúng ta đã chuyển hóa những ý niệm sai lầm,
tâm rối loạn và đạt sự toàn mãn, đó là lúc chúng ta đạt
niết bàn.
Hỏi:
Hầu như tất cả các tôn giáo đều nói, chỉ có một con
đường đi đến giác ngộ. Phật giáo có đồng ý tất cả
mọi tôn giáo đều từ một nguồn mà ra không?
Lạt
ma: Có hai cách để trả lời câu hỏi này, tuyệt đối
và tương đối. Hầu như tất cả mọi tôn giáo đều giống
nhau ở chỗ đạt giác ngộ, ở mục đích, nhưng khác nhau
ở cách tiếp cận với sự việc và phương pháp được dùng
để đi đến mục đích. Tôi cho rằng điều này rất tốt.
Nhưng cũng phải công nhận rằng có những tôn giáo đặt căn
bản trên những quan niệm sai lầm. Tuy thế, tôi không chống
đối họ. Thí dụ, một vài ngàn năm trước đây, có truyền
thống Aán độ giáo tin rằng mặt trời và mặt trăng là thần
thánh, có truyền thống vẫn còn tồn tại. Theo tôi, quan
niệm đó là sai lầm, nhưng với tôi họ là những người
tốt. Tại sao? Bởi vì mặc dầu triết thuyết của họ sai
nhưng họ vẫn dạy bảo những căn bản đạo đức tốt cho
con người và không bao giờ làm buồn lòng người khác. Điều
căn bản này giúp cho tín đồ của họ có khả năng đạt
đến đích là có thể khám phá ra chính họ, “ Ồ, tôi vẫn
thường tin rằng mặt trời là thượng đế, nhưng bây giờ
tôi mới biết mình sai.” Do đó, tất cả mọi tôn giáo đều
tốt, chúng ta không nên phê phán, “ Đạo này hoàn toàn đúng,
đạo kia hoàn toàn sai.”
Hỏi:
Theo ngài, đời sống của dân Tây Tạng ngày nay ra sao? Họ
có được tự do theo đạo Phật như xưa không?
Lạt
ma: Họ không được tự do và hoàn toàn không được
thực hành tôn giáo. Chính quyền Trung cộng ngăn cấm tất
cả những hoạt động về tôn giáo. Các tu viện bị phá hủy,
các thánh vật bị đốt bỏ.
Hỏi:
Sách đạo bị đốt, nhưng những bậc trưởng lão vẫn giữ
Đạo Pháp trong tâm của họ hay họ đã quên hết rồi?
Lạt
ma: Không thể quên được, không thể tách rời tâm ra
khỏi năng lực của trí tuệ. Vì thế, Đạo Pháp vẫn được
giữ trong trái tim của họ.
Hỏi:
Tất cả các tôn giáo, ví dụ như Aán Độ giáo, đều dạy
tín đồ thực hiện điều lành trách điều ác để tạo những
thiện nghiệp, để mang lại những kết qủa tốt trong đời
sống. Theo Phật giáo, việc tích lũy những thiện nghiệp này
giúp một người đạt giác ngộ như thế nào?
Lạt
ma: Việc phát triển tâm linh không xảy ra khi có sự thay
đổi nguồn gốc. Ô nhiễm (ô trược) được tẩy trừ dần
dần, dần dần. Có một sự tiến bộ từ từ. Cần thời
gian. Thí dụ, có những người không chấp nhận những điều
Phật giáo dạy về tình thương bao la, như chúng ta nên muốn
cho người khác cũng được hạnh phúc mà chúng ta đang muốn
cho chúng ta. Họ nghĩ rằng, “ Tôi không thể yêu thương những
người khác như tôi thương tôi được.” Họ cần phải có
thời gian để nhận ra được giá trị của lòng từ bi hay
của sự giác ngộ, bởi vì tâm của họ còn bận rộn, còn
đầy ắp những quan niệm sai lầm thành ra không còn chỗ cho
trí tuệ. Nhưng hãy để từ từ, từ từ qua việc thực hành
đạo giáo của họ, họ sẽ được hướng dẫn đến trí
tuệ. Đó là lý do tôi nói rằng chúng ta cần nhiều tôn giáo
khác nhau cho con người. Thân xác thay đổi dễ dàng nhưng vấn
đề phát triển tâm linh phải cần thời gian. Hãy lấy một
thí dụ, một vị bác sĩ có thể khuyên một bệnh nhân, “Nhiệt
độ của anh cao qúa, không nên ăn thịt mà chỉ nên ăn bánh
trong vài ngày.” Khi bệnh nhân khỏi, bác sĩ mới từ từ
cho ăn thức ăn nặng. Đó là phương pháp bác sĩ hướng
dẫn một bệnh nhân lấy lại sức khỏe.
Hỏi:
Khi một vị sư hay một ni cô qua đời, thân xác của họ có
biến mất không, hay họ mang theo với họ?
Lạt
ma: Phải rồi, họ sẽ mang theo với họ trong cái túi
vải sang bên kia thế giới....Tôi nói đùa vậy thôi. Không,
không thể có chuyện đó. Nhưng cũng có những vị hành gỉa
đã tự tiêu hóa thân xác của họ trong trí huệ, hoàn toàn
biến mất. Điều này đã xảy ra. Nhưng họ không mang cái
xác này đi với họ.
Hỏi:
Vì tâm của chúng ta có thể lừa dối chúng ta, không có thầy
chỉ dẫn chúng ta không thể khám phá ra sự thật, có phải
trong các tu viện của Phật giáo các vị thầy thường hướng
dẫn đệ tử của mình đạt trí tuệ rất nhanh theo một truyền
thống không? Có phải bây giờ ngài đang thực hiện chuyện
đó và ngài đang dạy như vậy?
Lạt
ma: Phải, thường thường trong các tu viện đều sinh
hoạt như vậy, tôi đã học những điều mà tôi đang dạy.
Tại sao chúng ta cần phải có thầy? bởi vì lý thuyết trong
sách vở thường rất khô khan, nó được để lại như vậy
cũng giống như gió thổi qua cành cây. Chúng ta cần phải có
chìa khóa để chuyển chúng thành kinh nghiệm sống, để hòa
nhập chúng vào tâm của chúng ta. Rồi kiến thức này sẽ
chuyển hóa thành trí tuệ để giải quyết tất cả mọi vấn
đề. Thí dụ, Kinh Thánh chứa đựng rất nhiều phương pháp
tuyệt hảo, nhưng nếu chúng ta không có chìa khóa để mở,
làm sao nó nhập tâm chúng ta được. Một cuốn sách tuyệt
hảo không có nghĩa là chúng ta chỉ đọc nó mà tiêu hóa được
những gì chứa đựng ở trong đó. Một con đường duy nhất
mà nó có thể xẩy ra cho chúng ta là chúng ta phải trau dồi
và phát triển trí tuệ trước.
Hỏi:
Thưa ngài, ngài nói rằng con đường giác ngộ là một tiến
trình phát triển từ từ, nhưng ngài có chắc chắn rằng sự
giác ngộ và sự không giác ngộ sẽ không thể xảy ra cùng
một lúc không? Do đó, không có nghĩa là sự giác ngộ sẽ
đến bất ngờ?
Lạt
ma: Dĩ nhiên, anh nói rất đúng. Chúng ta không thể vừa
giác ngộ vừa vô minh. Đạt giác ngộ là một tiến trình
xẩy ra từ từ, nhưng một khi đã đạt được, chúng ta sẽ
không đi trở lại; khi chúng ta đạt đến tình trạng tâm
toàn giác thì ngay lúc chúng ta kinh nghiệm nó, nó sẽ ở với
chúng ta mãi mãi. Nó không giống như sự huyễn ảo của cần
sa ma túy, khi đã “phê” họ có cảm giác tuyệt vời nhưng
khi thuốc không còn ảnh hưởng, họ lại trở về đời sống
bất an.
Hỏi:
Và như vậy chúng ta sẽ kinh nghiệm được sự giác ngộ thường
hằng này ngay trong cuộc sống của chúng ta, trước khi chúng
ta chết?
Lạt
ma: Đúng. Điều này có thể có. Ngay trong cuộc đời
này, nếu chúng ta có đủ trí huệ.
Hỏi:
Ồ, .... nếu chúng ta có đủ trí huệ?
Lạt
ma: Phải... đó là sự đạt đạo: nếu chúng ta có đủ
trí huệ.
Hỏi:
Tại sao chúng ta cần phải có thầy?
Lạt
ma: Tại sao anh cần một ông thầy dạy Anh ngữ? Để
nói chuyện. Cũng giống như chuyện giác ngộ. Giác ngộ cũng
giống như sự truyền thông. Ngay trong thế giới trần tục
này, khi đi chợ chúng ta cũng cần phải có một thứ ngôn
ngữ để nói chuyện với những người bán hàng chứ. Nếu
chúng ta cần thầy cho vấn đề này thì dĩ nhiên trên con đường
tâm linh chúng ta cũng cần phải có thầy để chúng ta có thể
đối diện được với những điều không biết trong đời
quá khứ, tương lai và trong những cấp độ sâu thẳm của
tâm thức. Hoàn toàn là những kinh nghiệm mới mẻ, chúng ta
không biết đi đâu, chuyện gì sẽ xẩy ra. Chúng ta cần người
chỉ dẫn để biết rằng chúng ta đang đi đúng đường mà
không lạc vào huyễn ảo.
Hỏi:
Ai dạy ông thầy đầu tiên?
Lạt
ma: Trí Huệ. Ông thầy đầu tiên chính là trí huệ (Trí
Bát Nhã).
Hỏi:
Nếu ông thầy đầu tiên không có một ông thầy là con người
thì tại sao chúng ta lại cần?
Lạt
ma: Bởi vì không có sự khởi đầu cũng như không có
sự kết thúc. Trí huệ là trí phổ quát (universal), là tâm
thức tổng quát.
Hỏi:
Phát nguyện tâm bồ đề sẽ đem chúng ta đến giác ngộ hay
chúng ta phải giác ngộ trước rồi phát tâm bồ đề sau?
Lạt
ma: Trước tiên phát nguyện tâm bồ đề, rồi tâm
chúng ta mới đạt đến tình trạng an lạc quân bình, ở đó
chúng ta không còn chấp, không còn đối đãi cái này cái kia;
tâm chúng ta ở trong bình đẳng tính, danh từ Phật giáo gọi
là ở bên kia bờ nhị nguyên.
Hỏi:
Tâm chúng ta sẽ dẫn đưa chúng ta đi xa trên con đường tâm
linh, thật như vậy sao? và ở một điểm nào đó, để đi
xa hơn nữa, chúng ta có phải từ bỏ tâm của chúng ta không?
Lạt
ma: Anh bỏ tâm của anh như thế nào? Nói đùa mà chơi
thôi. Không, chúng ta không thể bỏ tâm của chúng ta được.
Trong khi chúng ta còn là con người, đang sống mà chúng ta gọi
là đời sống thường ngày, chúng ta có tâm; khi chúng ta đạt
giác ngộ chúng ta cũng vẫn còn tâm. Tâm của chúng ta luôn
luôn ở với chúng ta. Chúng ta không thể bỏ nó một cách
dễ dàng: “Tôi không muốn có tâm.” Nghiệp lực làm cho
tâm và thân dính liền với nhau. Chúng ta không thể từ bỏ
tâm của chúng ta bằng bất cứ sự thông minh nào. Nếu tâm
của chúng ta là một hiện tượng vật chất thì có thể được,
nhưng điều đó không thể có.
Hỏi:
Những vị lạt ma có bao giờ bệnh không, nếu có, họ dùng
phương pháp nào để chữa bệnh? Ngài có dùng thần lực không?
Lạt
ma: Có, đôi khi chúng tôi dùng thần lực; đôi khi chúng
tôi dùng thần chú; đôi khi chúng tôi thiền định. Có khi
chúng tôi làm puja. Quý vị có biết nó là cái gì không? Người
ta thường nghĩ puja là tụng kinh, hát thánh ca và rung chuông,
nhưng thực ra nó còn hơn thế nữa. Puja là tiếng Phạn có
nghĩa đen là “cúng dường”; nhưng thật nghĩa chính là trí
huệ, một tình trạng thức tỉnh của tâm. Do đó, nếu trí
huệ của chúng ta rung lên “tinh, tinh, tinh” thì thật là
tốt, nhưng nếu trí huệ không rung mà chỉ có tinh, tinh, tinh
từ bên ngoài thì không phải là puja.
Hỏi:
Những gì ngài vừa nói không khác xa việc từ bỏ triết lý
vật chất của người Tây phương. Chúng tôi không đến gần
với đối tượng nhưng đến bằng thái độ của chúng tôi
đối với chúng.
Lạt
ma: Khi anh nói thái độ, có phải anh đề cập đến khuynh
hướng tinh thần muốn nắm giữ hay không muốn nắm giữ đối
tượng vật chất không?
Hỏi:
Đối tượng bên ngoài thực sự hiện hữu, nhưng chúng hiện
hữu ở bên ngoài chúng ta, tâm thức của chúng ta tiếp nhận
chúng trên cùng một bình diện. Tôi tin rằng khi chúng ta chết,
đối tượng vẫn còn tồn tại, nhưng không phải cho chúng
ta, không phải cho một cá nhân.
Lạt
ma: Tôi đồng ý với anh. Khi chúng ta chết, sự vật vẫn
còn, nhưng sự diễn dịch của chúng ta về chúng, sự phóng
tưởng của chúng ta, thì biến mất. Đúng, nó là như vậy.
Hỏi:
Như vậy, trên căn bản, nó chống lại triết lý vật chất
như thế nào? Tại sao ngài lại cho rằng thế giới bên ngoài
là huyễn ảo, trong khi, sau khi tâm thức của chúng ta ra đi,
thế giới vật chất vẫn còn?
Lạt
ma: Tôi nói thế giới vật chất là huyễn ảo vì đối
tượng mà anh nhận thức được chỉ hiện hữu trong cái nhìn
của chính tâm của anh. Hãy nhìn cái bàn này: vấn đề là
anh nghĩ rằng khi anh biến mất, cái nhìn của anh về cái bàn
vẫn còn, anh nghĩ rằng cái bàn này vẫn còn tiếp tục hiện
hữu theo cách mà anh nhìn nó. Điều này không đúng. Cái nhìn
của anh về cái bàn biến mất, nhưng cái nhìn khác về cái
bàn thì tiếp tục hiện hữu.
Hỏi:
Làm sao chúng ta có thể nhận diện được vị thầy thật?
Lạt
ma: Chúng ta có thể nhận diện được thầy của chúng
ta bằng chính tâm thức riêng của chúng ta, đừng theo người
nào một cách mù quáng. Hãy thử ông thầy tương lai của chúng
ta càng nhiều càng tốt. “ Vị này có phải là thầy thật
của tôi hay không?” Hãy kiểm soát, hãy suy nghĩ thật sâu
đậm trước khi chúng ta theo lời khuyên bảo của ông thầy.
Người Tây tạng chúng tôi có một lời chỉ dẫn là đừng
nhận một ông thầy như một con chó say mê miếng thịt. Nếu
chúng ta cho con chó đói một miếng thịt nó sẽ ngoạm ngay
chẳng chần chừ gì cả. Điều căn bản là chúng ta hãy thử
thách, hãy khám nghiệm vị lãnh đạo tinh thần, vị thầy
tâm linh, vị cố vấn tinh thần, hay bất cứ tên gì mà chúng
ta đặt cho họ, chúng ta phải vô cùng, vô cùng thận trọng
trước khi nghe lời họ dạy bảo. Hãy nhớ những điều tôi
trình bày trước đây về những quan niệm sai lầm và những
triết thuyết ô nhiễm, chúng còn nguy hiểm hơn cần sa
ma túy rất nhiều. Nếu chúng ta tuân theo những quan niệm sai
lầm của ông thầy tinh thần giả thì hậu quả chẳng những
rất tai hại cho kiếp này mà còn cho bao nhiêu kiếp sau nữa.
Thay vì giúp chúng ta, nó sẽ tác hại chúng ta. Xin quý vị
hãy vô cùng khôn ngoan trong vấn đề chọn vị thầy tâm linh.
Hỏi:
Vì ngài là một vị sư Phật giáo từ Tây Tạng nên tôi xin
hỏi, ngài có nghe gì về Lobsang Rampa không? Oâng ta viết rất
nhiều sách có vẻ phỉ báng Tây tạng. Oâng ta đã chết rồi,
ông ta viết rằng hồn của một vị lạt ma Tây Tạng đã
nhập vào ông ta nên ông ta có thể viết được như vậy.
Có thật như vậy không thưa ngài, nếu không, làm sao ông ta
viết được những cuốn sách này?
Lạt
ma: Tôi không nghĩ rằng có thể có điều đó. Chúng ta
cũng cần phải kiểm soát lại những gì ông ta đã viết.
Có rất nhiều điều sai lầm trong những sách của ông ta.
Ví dụ, khi viết về các vị lạt ma mở con mắt trí huệ,
ông ta nói họ cần giải phẫu. Điều này không đúng. Con
mắt trí huệ là con mắt của tâm linh, nó được khai mở
bởi các vị lạt ma khi họ có được chiếc chìa khóa tâm
linh. Tuy nhiên, người mở được con mắt này thì không bao
giờ nói còn người không mở được con mắt này thì lại
nói quá nhiều.
Hỏi:
Thưa Lạt ma, ngài có ý nói gì về tâm nhị nguyên? Và “hãy
tự tìm hiểu”, “hãy tự kiểm soát” là có ý gì?
Lạt
ma: Từ khi chúng ta sinh ra đến bây giờ, có hai vấn đề
(cái này cái kia, tốt xấu, trên dưới...vân vân...) luôn luôn
xuất hiện, luôn luôn làm phiền tâm chúng ta; hai sự kiện,
luôn luôn hai, không bao giờ có một. Đó là cái mà chúng tôi
gọi là tâm nhị nguyên. Bất cứ khi nào chúng ta nhìn một
vật, một sự kiện thì tự động, rất tự nhiên, tâm của
chúng ta liền so sánh nó với một cái gì khác: “Cái khác
thì sao?” Hai sự kiện này làm mất sự cân bằng của tâm
chúng ta. Đó là sự hiện hành của tâm nhị nguyên. Về câu
hỏi thứ hai, khi tôi nói hãy tìm hiểu, tôi có ý nói rằng
chúng ta nên tự khám xét, tự khám nghiệm, tự nghiên cứu,
tự điều tra xem tâm của chúng ta có lành mạnh hay không.
Mỗi buổi sáng thức dậy, hãy tự khám nghiệm tình trạng
tinh thần của chúng ta để chắc chắn rằng nó sẽ không
thay đổi bất thường trong ngày. Đó là tất cả những gì
tôi muốn nói về “hãy tự tìm hiểu”.
Hỏi:
Nếu tất cả mọi sự việc đều do nghiệp quyết định,
làm thế nào chúng ta có thể biết được động lực nào
tốt, động lực nào đúng, chúng ta có cơ hội để chọn
lựa một cách vô điều kiện hay không?
Lạt
ma: Một nguyên động lực tinh khiết thì không được
quyết định bởi nghiệp. Một nguyên động lực tinh khiết
được phát khởi từ sự hiểu biết của trí tuệ. Nếu không
có sự hiểu biết trong tâm của chúng ta thì không thể có
được nguyên động lực tinh khiết. Thí dụ, nếu tôi không
hiểu được tính ích kỷ tự nhiên của tôi, tôi không thể
giúp người khác. Cho tới khi nào tôi chưa nhận thức được
hành vi ích kỷ của tôi thì tôi luôn luôn đổ lỗi cho người
khác về những vấn đề của tôi. Khi tôi thấu hiểu được
tâm tôi, tất cả những nguyên động lực trong tôi sẽ trở
nên trong sạch và tôi có thể thành thật chia sẻ những hành
động của thân, khẩu và ý để mang lại an lạc cho người
khác.
Cám
ơn quý vị, đó là một câu hỏi rất hay, tôi tin rằng nguyên
động lực tinh khiết này cho chúng ta dừng lại ở đây. Cám
ơn quý vị nhiều. Nếu chúng ta có những động lực trong
sạch, chúng ta sẽ ngủ ngon, sẽ có những giấc mơ tuyệt
vời, sẽ an hưởng cuộc sống, cám ơn nhiều lắm.
(Lama
Yeshe thuyết giảng tại Assemly Hall, Melbourne, Úc châu. Ngày
27-3-1975)
HÃY
MỞ TÂM BAO LA NHƯ ĐẠI DƯƠNG
Nguyên
tác Make Your Mind an Ocean của Lama Yeshe,
do
Trung Tâm Yeshe Wisdom Archive xuất bản.
Vô
Huệ Nguyên dịch.
Email:
josephdynh@hotmail.com
XIN
HỒI HƯỚNG TẤT CẢ CÔNG ĐỨC ĐẾN MUÔN VÀN CHÚNG SINH TRONG
MƯỜI PHƯƠNG PHẬT VÀ MƯỜI PHƯƠNG BỒ TÁT, CON KHÔNG GIỮ
LẠI MỘT CHÚT GÌ CHO RIÊNG CON.