Come
And See For Yourself The Buddhist Path To Happiness 2006
Nguyên
tác Đức ngữ ‘Komm Und Sieh Selbst’ @ Jhana Verlag 1998
Bản
Anh ngữ ‘Come And See For Yourself’ @ Windhorse Publications
2002 ISBN 1 899579 45
Việt
dịch từ Anh ngữ và ấn tống với sự đồng ý của Buddha
Haus e..V./Jhana Verlag, Germany
Tác
Giả
AYYA
KHEMA sinh năm 1923 trong một gia đình người Do Thái tại Bá
Linh. Bà trốn khỏi Đức sang Tô Cách Lan (Scotland) năm
1938, cùng với 200 trẻ em khác. Sau đó được đoàn tụ
với cha mẹ bà tại Trung Hoa. Khi chiến tranh thứ hai bùng
nổ, bà và gia đình bị đưa vào các trại giam tù binh của
Nhật. Sau chiến tranh, bà di cư sang Mỹ và lập gia đình
tại đó. Vào khoảng đầu những năm 1960, bà chu du nhiều
nơi khắp châu Á, và sau 10 năm hành thiền, bà bắt đầu dạy
thiền và thuyết giảng về Phật giáo ở châu Âu, Bắc Mỹ
và Úc.
Ni Sư Ayya Khema đã góp công lớn vào việc gầy dựng lại
ni đoàn Phật giáo. Ni Sư thọ giới vào năm 1979, theo
truyền thống Nguyên thủy tại Sri Lanka. Tại đó Ni Sư
đã thiết lập Trung Tâm Nữ Phật tử Quốc tế và Đảo
Parappuduwa dành cho Ni chúng và nữ cư sĩ. Vào năm 1987
Ni Sư phối hợp tổ chức một hội thảo về Ni đoàn Phật
giáo Quốc tế lần đầu tiên, mà kết quả là ni đoàn
Sakyadhita, một tổ chức nữ Phật giáo quốc tế được thành
hình.
Ni Sư đã viết hơn 20 đầu sách về thiền và Phật giáo bằng
tiếng Anh và Đức, tác phẩm nổi tiếng nhất của Ni Sư là
Being Nobody, Going Nowhere (Việt dịch: Vô Ngã Vô Ưu, Diệu Liên
Lý Thu Linh), đã được giải thưởng Christmas Humphreys
(Christmas Humphreys Memorial Award). Các tác phẩm của Ni Sư
đều thể hiện được sự nhận thức sâu xa trong thực hành,
sự lợi ích của thiền tập, và lời kêu gọi đơn giản
hóa cuộc sống hàng ngày của chúng ta, cũng như thanh tịnh
hóa thân tâm bằng cách ứng dụng những lời dạy của
Đức Phật vào cuộc sống.
Bên cạnh việc thành lập Wat Buddha Dhamma (Ngôi Nhà Phật Pháp)
ở Úc, một lâm tự viện theo truyền thống Nguyên thủy, Ni
Sư còn là Giám đốc đỡ đầu cho Buddha-Haus (Ngôi Nhà Phật)
ở Đức, nơi Ni Sư viên tịch vào năm 1997.
(ND:
Bạn đọc có thể tìm hiểu thêm về cuộc đời của Ni Sư
Ayya Khema qua bản dịch Quà Tặng Cuộc Đời (I Give You My Life).
Lời Nói Đầu
Ni Sư Ayya Khema sinh ra là người theo Do Thái giáo nhưng lại
là người Phật tử khi từ giã cõi đời. Gần cả cuộc
đời bà du hành khắp nơi trên thế giới cùng với gia đình,
và chỉ trở về Đức vào những năm cuối đời. Một
số chuyến phiêu lưu của bà được kể lại trong quyển hồi
ký thú vị, I Give You My Life (Quà Tặng Cuộc Đời).
Lần đầu tiên tôi nhìn thấy Ni Sư là trên một phóng sự
của đài truyền hình về một cộng đồng Phật giáo ở Uttenbuehl,
dưới chân của rặng núi Alps ở phía nam nước Đức.
Phóng sự đó gây nhiều xúc động cho tôi và vài năm sau đó
tôi rất vui mừng được có thể giúp dịch một trong những
số sách của Bà.
Khoảng thời gian đó tôi đã chuyển qua Anh quốc, và đang
ở một giai đoạn trong cuộc đời khi tôi cảm thấy rất
khó khăn để hành thiền. Đối với tôi, quyển sách này giống
như một khóa Phật học cơ bản, dựa trên những bài giảng
của Ni Sư Ayya Khema trong những buổi thuyết pháp vào
ngày thứ Tư hằng tuần tại Ngôi Nhà Phật (Buddha-Haus) ở
Uttenbuehl, và đã xuất bản lần đầu tiên năm 1994. Tôi
rất thích các bài giảng này vì chúng được dựa trên các
kinh điển truyền thống của Đức Phật. Ni Sư Ayya Khema
đọc vài kệ từ trong kinh Pháp Cú hay một số kinh, luận
ngắn khác, rồi giải thích, giảng rộng ra thêm. Ni Sư
rất hoan hỷ giảng giải kinh cho bất cứ ai thích tu thiền
và tìm hiểu về Phật giáo. Với sự hiểu biết, và
kinh nghiệm trong việc chuyên tu thiền định của bản thân,
Ni Sư Ayya Khema thường giảng về thiền một cách đầy nhiệt
tình. Thật vậy, Ni Sư luôn nhấn mạnh đến việc làm
thế nào để áp dụng việc hành thiền trong đời sống hằng
ngày.
Ni Sư Ayya Khema không hề e dè khi trao đổi với các 'đồng
nghiệp' Thiên Chúa giáo của mình, so sánh các kinh nghiệm thiền
định của Ni Sư với unio mystica (tạm dịch, một huyền bí)
của những người như Eckhart (Meister Eckhart), và Ni Sư cũng
hướng dẫn các khóa tu thiền trong các tu viện Thiên Chúa
giáo.
Chính Dhammaloka, là người đầu tiên đề nghị với nhà xuất
bản Windhorse dịch quyển Komm Und Sieh Slebst (Come And See For Yourself),
xuất bản lần đầu năm 1994, sang tiếng Anh. Jayachitta
bắt đầu công việc dịch thuật, và tôi tiếp tục sau đó.
Jinananda sau đó biên tập lại bản dịch và Punyamati tỉ mỉ
xem lại bản thảo lần cuối. Xin chân thành cảm ơn mọi
sự đóng góp của họ. Portia Howe và những người còn
lại trong nhóm ở nhà xuất bản Windhorse Publications, cũng đóng
góp nhiều công sức. Nhiều người khác cũng đã góp
tay bằng nhiều cách khác nhau, nhất là tăng đoàn (Sanghamitta)
ở Ngôi Nhà Phật (Buddha-Haus), Ulrike Harris, Asanga, Vassika, Ratnaprabha,
Shantiprabha, và người cộng sự của tôi, Martina.
Tôi xin hồi hướng công sức dịch quyển sách này đến tất
cả Phật tử ở Tây phương, và mong rằng tất cả mọi độc
giả đều đón nhận được một thoáng hào quang ấm áp chiếu
soi từ Đức Phật.
Michael
Etzold
Oxford
Tháng
12, 2001
Lời
Người Dịch
Dầu tâm nguyện được có duyên lành để dịch tất cả các
sách tiếng Anh của Ni Sư Ayya Khema, nhưng để đạt được
tâm nguyện đó là bao thử thách đối với tôi.
Trước hết là quỹ thời gian của tôi ngày càng cạn kiệt,
nhưng khó khăn nhất vẫn là sự hiểu biết rất giới hạn
về Phật pháp nói chung, và các kinh nghiệm thiền định nói
riêng. Nhưng tôi cố gắng không bỏ cuộc và tôi đã
cầu nguyện đến sự gia hộ của chư Phật, của Ni Sư Ayya
Khema, cũng như sự rộng lượng của quý độc giả. Suy
cho cùng, tôi là người được nhiều nhất trong việc làm
này: được thấm nhuần thêm những giáo lý cao siêu mà gần
gũi biết bao của Đức Phật. Chỉ mong mọi người tha
thứ cho sự mạo muội này.
Lần nầy khi quyết định chuyển ngữ quyển Come and See for
Yourself, từ bản tiếng Anh, tôi đã may mắn được hai đạo
hữu Chơn Minh Nguyễn Văn Phú và Tịnh Nghiêm Nghiêm Xuân Cường,
hoan hỷ giúp dịch từ chương 1 đến chương 5 của quyển
sách, xem như đã giảm được nửa gánh nặng cho tôi.
Nhờ thế quyển sách dịch Come and See for Yourself (Hãy Đến
Để Thấy) đã sớm được hoàn thành để đến tay bạn đọc,
những độc giả rất rộng lượng của chúng tôi, những người
không kể đến các sơ sót của chúng tôi, luôn khuyến khích
chúng tôi tiếp tục công việc dịch thuật, và cũng đầy
lòng ngưỡng mộ đối với Ni Sư Ayya Khema như chính bản thân
chúng tôi.
Xin có đôi lời giới thiệu về hai đạo hữu đồng dịch
giả:
-Chơn Minh Nguyễn Văn Phú, sinh quán tại Nha Trang, Khánh Hòa,
là cựu học sinh trường Võ Tánh, Nha Trang; cựu sinh viên Khóa
8, Cao Đẳng Thủy Lâm, Trung Tâm Quốc Gia Nông Nghiệp, Saigon;
đã tốt nghiệp tại Duke University, North Carolina, Hoa Kỳ.
Hiện đang làm việc với Michigan State University, ngành Thủy
Lâm.
-Tịnh Nghiêm Nghiêm Xuân Cường, nguyên quán tại Tây Mỗ,
Hà Đông, hiện sinh sống và hành nghề Dược tại tiểu bang
Michigan, Hoa Kỳ với gia đình. Ông cũng là tác giả của
một tập thơ đạo và thiền với tựa đề Trở Về và một
tuyển tập nhạc thiền Như Mây Trôi Đi.
Quyển Hãy Đến Để Thấy (Come and See for Yourself), gồm có
12 chương. Mỗi chương dựa trên một hay nhiều bản kinh
về nhiều đề tài khác nhau. Có những đề tài quen thuộc,
dễ hiểu, nhưng cũng có những đề tài gây cho chúng tôi nhiều
bối rối. Thí dụ chương 11 nói về các tầng thiền
định, thiền tuệ, và chương 12 bàn về tính Không trong Kinh
Bát Nhã. Chúng tôi đã hết sức cố gắng trong khả năng
giới hạn của mình để phần nào chuyển tải những lời
giáo huấn của Ni Sư Ayya Khema dựa trên Kinh điển của Đức
Phật. Tuy nhiên như chính Ni Sư đã nói, trong chương 11:
'. . . Thật rất khó giải thích. Chỉ có người chứng
nghiệm mới thật sự hiểu được." Thật vậy,
với những điều được nói đến trong các chương này, chúng
tôi, nếu có thể, cũng chỉ dịch được lời chứ không được
ý, hiểu được từ chứ không chuyển được nghĩa câu.
Ngoài ra, cũng xin lưu ý độc giả rằng, vì Ni Sư Ayya Khema
tu theo Nguyên Thủy, nên Ni Sư có cái nhìn riêng đối với
một số kinh điển Đại thừa, thí dụ như Bát Nhã Tâm Kinh.
Chắc chắn là quyển sách dịch này không thể tránh được
nhiều sai sót, mong quý tôn sư, các bậc uyên thâm, thiện trí
thức, chỉ dẫn cho, để lần tái bản sau được hoàn thiện
hơn (xin liên lạc về ltl3107@yahoo.com).
Lần nữa xin chân thành cảm niệm công đức của Ni Sư Ayya
Khema đã để lại cho đời những bài thuyết pháp xúc tích
về giáo lý của Đức Phật mà đối với chúng tôi là những
bài Phật học hữu ích.
Với sự đồng ý của hai đạo hữu đồng dịch giả, tôi
xin được hồi hướng công đức dịch thuật này đến hương
linh của Mẹ tôi là cụ bà Lý Thị Lăng, Pháp danh Diệu Thọ,
tạ thế ngày 27 tháng 3, năm 2006. Xin chân thành cảm ơn
tất cả bạn bè, thân quyến đã đóng góp để ấn tống
quyển sách dịch này.
Ngưỡng cầu Hồng ÂnTam Bảo hỗ trợ cho chúng con luôn được
gặp Phật pháp trong nhiều đời, nhiều kiếp về sau.
Diệu
Liên Lý Thu Linh
Tháng
7, 2006
Chương
1
Hiểu
Biết Về Vô Thường Dẫn Đến Hạnh Phúc
Người
luôn luôn chánh niệm,
Sự
sanh diệt các uẩn,
Được
hoan hỷ, hân hoan,
Chỉ
bậc bất tử biết.
Kinh
Pháp Cú - Câu 374 (1)
Dhammapada
stanza 374
Từ Pali Dhammapada có thể được dịch là ‘Những bước trên
con đường giáo pháp’. Tác phẩm nổi tiếng nầy được
chia làm nhiều phần, mỗi phần có nhiều đoạn kệ: là những
câu kệ được Đức Phật nói ra vào những dịp khác nhau,
nhằm giáo huấn về các đề tài khác nhau. Tuy nhiên, những
lời dạy nầy thật xúc tích, cô đọng nên mỗi đoạn kệ
tự nó là một bài tiểu luận.
Để diễn giải đoạn kinh được trích dẫn ở trên, tôi
(Ni Sư Ayya Khema) muốn trước hết phân tích nghĩa của một
số từ trong câu đó. Đức Phật nói về khả năng đạt
được an vui hạnh phúc của chúng ta và đó là điều mà tất
cả chúng ta đều muốn đạt được. Nhân loại tìm cầu
hạnh phúc bằng nhiều cách, qua nhiều thứ khác nhau, thường
là ở các đối tượng bên ngoài. Chúng ta cố gắng,
bằng đủ mọi cách, để đạt được hạnh phúc, và khi có
rồi thì ta muốn giữ chặt lấy nó. Ta nghĩ rằng mình
sẽ luôn được hạnh phúc nếu có thể giữ chặt một cái
gì đó, một người nào đó hoặc một sự kiện gì mà đã
có lần đem lại cho ta hạnh phúc. Thế nên ta thường
cố tìm hạnh phúc trong của cải vật chất, hay làm một việc
gì đó mà ta nghĩ sẽ làm mình thỏa mãn. Nhưng từ thuở
khai thiên lập địa, chưa ai là người có thể giữ được
hạnh phúc luôn bên mình.
Đức Phật dạy là để tìm được hạnh phúc chúng ta phải
tu tập. Ta có thể nói nghề nghiệp đem lại cho ta hạnh
phúc, nhưng dù cố gắng tự nhủ mình đến mấy là ta cảm
thấy mãn nguyện vì đã làm được nhiều việc ích lợi cho
đời, nhưng khi nhìn kỹ lại ta thấy thứ hạnh phúc nầy
không trường cửu và trong thâm tâm ta vẫn bồn chồn, bất
ổn. Khi mang tâm trạng buồn chán như thế, người ta
lại thường nghĩ rằng có gì đó không ổn ở bên ngoài -
họ không nhận ra được rằng điều mà họ đang cảm nhận
đến từ nội tâm của mình.
(1)
Kinh Pháp Cú (Dhammapada), Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch, NXB.
Tôn Giáo – Hà Nội 2000
Cách suy nghĩ thông thường của ta luôn là muốn được một
cái gì đó. Ngay cả khi cái mà chúng ta muốn là một
điều lành mạnh, tốt đẹp, ta cũng thấy là dù có cố gắng
cách mấy, ta không thể lúc nào cũng an vui, do đó ta lại muốn
một cái gì mới hơn, khác hơn. Đức Phật chỉ cho chúng
ta một phương cách khác hẳn. Ngài muốn dạy ta những
cách suy nghĩ mới, chỉ cho ta bước lên một tầng cao hơn,
dựa trên thực tế chứ không phải ở sự mong cầu.
Thí dụ như nếu ta đã thử đủ mọi cách và nhận ra rằng
của cải vật chất không làm ta hạnh phúc, chính kiến thức
đó cũng mang đến cho ta đôi chút hạnh phúc rồi. Trong
đoạn kinh nầy, Đức Phật dạy:
Người thường suy gẫm trong tâm
Sự sanh diệt của các uẩn, . . .
Uẩn là các thành phần của cái ta. Trước nhất
là thân, cái mà ta tự đồng hóa khi ta nghĩ "Đây là ta".
Sau đó là tâm, cái mà Đức Phật chia làm bốn phần: Trước
tiên, thức – mà chúng ta cảm nhận được qua tiếp xúc với
các giác quan của cái nhìn, nghe, ngửi, nếm, hay xúc; thứ
hai là thọ, hoặc vui hoặc buồn, phát sinh dựa vào sự xúc
chạm của các giác quan, kể cả các tình cảm; thứ ba, tưởng
theo sau các cảm giác; thứ tư, hành là phản ứng đối với
tưởng -cũng được gọi là tâm hành.
Chúng ta có thể phân tích tâm sâu hơn, để bao gồm, thí dụ,
ý chí như là một trong những thành phần của tâm. Tuy
nhiên, chúng ta thường chỉ chú tâm vào bốn phần nầy: thức,
thọ, tưởng và hành.
Chúng ta cần chú ý đến năm uẩn, ít nhất là đến sự phân
chia của tâm và thân, bốn phần kia là những phương tiện
qua đó chúng ta có thể giải đáp câu hỏi tâm thực sự là
gì. Ta có thể kiểm nghiệm việc này ngay tức khắc:
giờ phút này những cái bạn đang cảm nhận được gồm có
thấy, xúc chạm và nghe. Bạn có thể không nếm hay ngửi
cái gì ngay lúc nầy, nhưng ba trong năm giác quan của bạn đang
có sự tiếp xúc với thế giới bên ngoài và qua đó chúng
để lại một cảm thọ mà ta sẽ không nhận biết được
nếu ta không thực tập chánh niệm. Cái cảm giác ban
sơ rất vi tế, nên thay vào đó chúng ta thường vướng vào
các phản ứng, mạnh mẽ hơn nhiều. Giữa hai cảm
nhận này (thọ và hành) là tưởng, và điều này thì cũng
tùy thuộc vào mỗi cá nhân. Mặc dầu hai người có thể cùng
nhìn một vật, mỗi người có thể cảm nhận khác nhau và
phản ứng tùy theo đó; khi một người nhìn cái gì đó thấy
đẹp, người khác có thể cảm thấy dửng dưng hoặc cho là
nó xấu xí là đằng khác. Đây là lý do tại sao ít khi
chúng ta để ý đến cảm giác hoặc nhận thức của mình.
Khi nghe ai nói điều gì, ta có thể tự nhủ ‘thật vô lý,’
hoặc ‘thật là hay,’ hoặc ‘tôi không cần biết,’ hay
‘tôi đã biết rồi.’ Ta quá bận rộn với những phản
ứng của mình nên khó mà thấy được giữa sự xúc chạm
và phản ứng còn có những cảm giác và nhận thức.
Do đó, trước hết ta phải kiểm nghiệm thật kỹ các cảm
quan của mình cũng như những phản ứng phát sinh từ đó.
Ta có thể dễ dàng nhận ra các phản ứng nầy và quá trình
nhận thức đó sẽ giúp ta làm quen với sự có mặt của các
uẩn.
Thông thường thì chúng ta hành động theo các phản ứng của
mình và tìm cách hoàn thiện chúng bằng cách chuyển hóa các
cảm quan của mình. Ta tìm cách nghe, nếm, ngửi, hoặc
xúc chạm thứ gì khác hơn những cái thường làm, nhưng ta
luôn bị các thói quen đã huân tập đưa vào đường cũ.
Thật ra ta phải thấy ngay rằng đây là một phương cách không
hiệu quả và chẳng lâu bền. Thế nhưng ta vẫn tiếp
tục tìm đủ mọi cơ hội để thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc
chạm những thứ mới lạ khác. Tuy nhiên, ta có thể đi
theo một con đường mới. Trên con đường nầy, thay vì
đồng hóa với các phản ứng của bản thân thì ta có thể
quán sát chúng.
Điều này nói thì dễ nhưng khó làm. Và chắc chắn là
cần có sự thực tập vì chúng ta thường theo cách suy nghĩ
cho các phản ứng là ta và xem đó là đúng. Vì xét cho cùng,
đó là các phản ứng của ta. Nếu ta xem các tư tưởng
của mình, ngay cả những tư tưởng tiêu cực là chính xác,
chỉ vì chúng là của mình, thì lẽ tự nhiên ta sẽ tiếp
tục chờ đợi hạnh phúc đến từ thế giới bên ngoài.
Và vì thế, ta tránh né những gì có thể đem lại cho ta những
phản ứng khó chịu, rồi tiếp tục đi tìm những gì mà ta
cho rằng sẽ đem lại cho mình lạc thú. Lẽ đương nhiên
là, dù có cố gắng đến đâu, ta cũng không thể có được
một cuộc đời chỉ toàn là lạc thọ, nhưng vì quá mải
mê theo đuổi con đường nầy mà ta chẳng nhận ra được
là ta cũng có thể tìm được hạnh phúc bằng một con đường
hoàn toàn khác. Dù không kiếm tìm chúng ta cũng có lúc
có lạc thọ. Một trong những lợi lạc của kiếp sống
con người là sẽ không thiếu những cơ hội để ta được
hưởng những hạnh phúc đó. Hầu hết chúng ta đều
có đồ ăn và thức uống thích hợp, hưởng thời tiết tốt,
được xem hoa nở và có người để trò chuyện. Những
điều này tự chúng không có gì là xấu, song nếu ta bám theo
các cảm thọ nầy và dốc hết sức lực để đuổi theo các
lạc thọ, ta sẽ đi từ thất vọng này đến thất vọng khác.
Ta sẽ chẳng bao giờ tìm được hạnh phúc cho tâm hồn mình
bằng con đường đó. Chính vì lẽ này mà trong đoạn
kệ nói trên, Đức Phật dạy chúng ta hãy quán sát sự sinh
diệt của các uẩn, xem chúng đến và đi như thế nào.
Điều nầy có thể được thực hiện một cách đơn giản
bằng sự chú ý quan sát bản thân. Vì quá để ý đến
người khác, ta quên mất một điều là trước khi hiểu được
người, ta phải biết rõ chính mình. Cái mà chúng ta nhận
ra được ở người khác chỉ là cái mà chúng ta đã tự khám
phá ra ở ngay nơi mình.
Ta có thể quán sát sự sinh diệt của các ý nghĩ, các cảm
thọ; chúng đến và đi như thế nào thật rõ ràng và rành
mạch; điều này không có gì khó. Thế nhưng vì quá đắm
chìm trong các cảm thọ của mình, mà ta không nhận thấy chúng
biến đi nhanh thế nào. Một ý nghĩ thường biến mất
ngay khi nó vừa khởi sinh, trừ trường hợp một ý tuởng
mới lại phát sinh dựa vào nó trong một chuỗi tư tưởng
– ngay chính như thế ý nghĩ ban đầu cũng đã biến mất.
Hiển nhiên là ta có thể ghi chép lại ý tưởng nầy ngay khi
nó phát khởi, song vì dòng tư tưởng thay đổi không ngừng
nên chưa chắc là nó có ích lợi gì cho ta.
Ít người muốn đối diện với sự thật là các ý nghĩ và
cảm nhận của họ đều vô thường. Tuy nhiên, một khi
đã biết được như thế rồi thì ít ai có thể phủ nhận
sức mạnh của sự thật nầy, vì tất cả chúng ta ai cũng
có thể chứng nghiệm được điều đó ngay bản thân. Tính
phù du nầy là một thách đố cho cái nhìn của ta về bản
ngã, khiến nó trở nên bớt cụ thể, nền tảng của nó bớt
vững chắc, và như thế là ta phải đối mặt với một vấn
đề trọng đại, đó là việc ta tự xem mình như một thực
thể vững chắc, bất biến trong cái ta gọi là con người
với những quan điểm, ý kiến cá nhân tạo thành một ‘bản
ngã’. Cái nhìn của ta về bản thân, và ngã tưởng
bị lung lay khi ta nhận ra rằng các quan điểm, ý tưởng và
cảm nhận của mình, kỳ thật luôn đến và đi trong từng
giây phút.
Càng ít chấp ngã thì ta càng dễ có hạnh phúc. Ta không
nhất thiết phải đồng ý ngay với câu nầy, song cũng không
có một lý do gì để phủ nhận nó ngay, bởi ta có thể tự
kiểm nghiệm nó. Càng muốn chứng tỏ cho mọi người
biết ta là một ‘ai đó’ với một số quan điểm, một
hệ thống niềm tin riêng của mình và một cương vị đặc
biệt thì ta lại càng phải bám chặt vào những thứ khiến
chúng ta trở thành con người đó, cố gắng biến tất cả
trở thành vững bền. Tuy nhiên, vì mọi sự luôn luôn
sinh diệt đổi thay, nên chúng ta phải đối mặt với một
nhiệm vụ gần như không thể thực hiện. Đây là
lý do tại sao con người không có hạnh phúc.
Tất cả chúng ta đều ở trong tình trạng khó xử này.
Một khi ta còn cố gắng để khẳng định mình, và bám víu
vào người hay vật mà ta gắn bó, thì ta không thể có tự
do và hạnh phúc. Bởi lẽ đó - cho dù ta đang bận rộn
hoặc hoàn toàn rảnh rỗi - ta luôn cảm thấy bức xúc,
cái mà ngày nay chúng ta gọi là căng thẳng thần kinh (stress).
Kỳ thực thì nỗi bức xúc mà ta tự tạo cho mình, lúc nào
cũng đã có mặt, vì nó hỗ trợ cho cái cảm nhận về ngã,
và nhu cầu muốn tự khẳng định là lý do khiến nó phát
sinh trước hết. Ta muốn tự nhủ rằng ta là những con
người có thực thể và bền vững với những cá tính riêng
biệt, nên ta thường nói những câu như "Xin lỗi tôi đến
trễ, nhưng tính tôi quen vậy rồi" hoặc "Những phim buồn
làm tôi phải khóc – tôi là vậy đó".
Những câu nói như vậy không có nghĩa gì cả vì không có
một vật thể hay cá tính nào mà không thể thay đổi được.
Từng ý nghĩ, từng cảm giác đến rồi đi. Ta chỉ cần
nghĩ lại xem các ý nghĩ hay cảm giác mình đã có trong ngày
hôm nay có còn ở với ta hay không. Khi nhìn lại, ta thấy
là những ý nghĩ ta vừa có cách đây vài phút đã biến mất
hẳn rồi. Thật ra không có gì - kể cả cuộc đời ta-
mà ta có thể cầm chắc trong tay. Mặc dù ta già đi trong
từng phút giây, nhưng vẫn có nhiều người không thể chấp
nhận được điều nầy. Tệ hơn nữa, họ còn không
biết là họ không thể chấp nhận được sự thực đó.
Ta giữ mãi những ký ức về chính mình đến nỗi ta không
thể để ý thấy là mình đang già đi, và tất cả những
ký ức ta có về mình tạo thành một cái ta ảo tưởng. Bằng
cách này chúng ta đã tạo dựng cho mình một ý niệm càng
vững chắc hơn về bản ngã.
Những bằng chứng phủ nhận cách suy nghĩ của ta về thực
tại cuộc sống có thể tìm thấy ở khắp mọi nơi.
Giả thử như trời đang mưa: mỗi giọt nước rơi xuống và
thấm vào lòng đất rồi biến mất hẳn. Ta cũng thế.
Ta cũng như những giọt mưa, nhưng ta muốn quên đi định luật
về sinh và diệt nầy.
Ta không bắt buộc phải tin những điều Đức Phật thuyết,
song ít nhất ta cũng không quay lưng với Ngài và đồng ý kiểm
nghiệm sự thật của định luật này. Luôn ghi nhớ đến
nó trong tâm để có thể thấu triệt nó và đạt được an
lạc, hạnh phúc là một nỗ lực lớn. Chúng ta có thể
đạt được niềm an lạc trong thiền định, nhưng cái hạnh
phúc nội tại mà mỗi chúng ta luôn cố gắng kiếm tìm phải
đến từ trí tuệ. Trí tuệ có thể phát khởi qua cuộc
sống thiền và tỉnh thức, nhưng ngay cả thiền định cũng
vô thường: ngay khi ta vừa rời khỏi chiếu thiền thì
trạng thái thiền định dễ chịu cũng đã biến mất.
Trước khi giác ngộ, Đức Phật đã là một thiền giả tinh
tấn. Ngài rất tinh thông tám tầng thiền định và qua
đó chứng nghiệm được cảm giác khinh an, hạnh phúc, thanh
tịnh vô biên. Tuy nhiên, sau khi đạt được những cảm
giác an lạc đó Ngài lại cảm thấy bất như ý vì muốn giữ
lại những lạc thọ đó. Vì thế, Ngài muốn giữ vững tâm
trí của mình như thế nào để cho hoàn cảnh bên ngoài không
thể quấy nhiễu mình nữa. Nói tóm lại, con đường
tâm linh phải là con đường làm phát triển hạnh phúc nội
tâm của ta cho đến khi nó trở thành hoàn toàn độc lập
và không còn bị chi phối bởi những hoàn cảnh bên ngoài.
Con đường còn dài trước mắt. Tuy nhiên cuộc hành trình
dài nhất cũng phải bắt đầu bằng một bước chân.
Còn nhiều bước chân phải đi, nhưng tiên quyết là bước
đầu tiên, mà ở đây là tâm thực tập quán tưởng về vô
thường. Ta không chỉ quan tâm về tính vô thường của
những của cải vật chất. (Ở những xã hội dư thừa,
ít ai bận tâm đến điều này; khi vật dụng bị hư gãy,
họ mua ngay cái khác). Chúng ta cũng phải quán về sự
vô thường của bản thân. Ta có thể thực tập điều
nầy bằng cách quán về các uẩn -sắc, thọ, tưởng, hành,
thức- và nhận diện sự sinh diệt của chúng. Ta phải
nhận rõ sự lệ thuộc của mình vào các cảm nhận bên ngoài
- như nếu nghe thấy điều gì trái tai có thể làm ta bực
dọc cả ngày, hoặc nếu không được như ý thì ta sẽ cảm
thấy thất vọng, bực tức. Chẳng có ai lại không
muốn tránh các cảm giác khó chịu ấy, song nếu chỉ nghe
những điều ta muốn nghe, thấy những gì ta muốn thấy, được
những gì ta muốn được, thì mới có hạnh phúc thì thật
là kỳ quặc, một việc làm hoàn toàn vô vọng. Phương
cách hợp lý duy nhất để nhận diện và đối phó với vấn
đề nầy là quán tưởng về sự vô thường của vạn vật.
Tất cả chúng ta đều có thể nhớ về thời thơ ấu của
mình cùng với một số sự kiện trong giai đoạn đó.
Dường như nó chỉ mới đây. Thế nhưng đã bao nhiêu
nước chảy qua cầu. Và vì sao bây giờ ta phản ứng
thật khác với hồi ấy? Ta muốn nghĩ rằng mình vẫn
như xưa, nhưng không có gì trong ta còn nguyên vẹn. Tất
cả các ý nghĩ, các cảm giác của ta đều đã thay đổi về
bản chất, cùng với những thay đổi rõ ràng về diện mạo.
Cho dù một số dấu vết của thời xa xưa vẫn còn trong ta,
nhưng những gì tạo ra ta của thời đó đã hoàn toàn khác
xa với cái tạo ra ta của ngày hôm nay.
Sự chuyển hóa này thực sự xảy ra từ ngày này qua ngày
khác - nói chính xác hơn thì nó xảy ra trong từng giây phút.
Ta không thể bám víu vào bất cứ cảm nhận nào của ta, và
nếu
ta cố gắng giữ lại một người hay sự việc nào đó chắc
chắn ta sẽ bị thất vọng bởi đây là một việc không thể
nào làm được. Sự thật đơn giản và chắc chắn là
ta không thể níu giữ được đời mình, cũng như ý nghĩ và
cảm nhận của mình; các xúc chạm giác quan của ta cũng thay
đổi từng giây phút một. Ta có thể thành công đôi
chút trong việc giữ lại bản thảo của ý nghĩ hay cảm nhận
của mình qua sách vở hay băng ghi âm - song đó không phải
là những ý nghĩ ban đầu của ta. Bạn có thể quán sát
đời mình ngay bây giờ và thấy nó đang trôi qua như thế
nào. Nếu biết cách nhìn, bạn sẽ dễ dàng làm được
việc nầy. Khi quán sát đời mình trải ra trước mắt,
bạn sẽ thấy nó không ngừng thay đổi.
Bản chất con người không thích nhìn thấy sự thay đổi và
hoại diệt này, vì thế ta tạo ra thói quen: ta chủ tâm làm
cùng một việc vào những giờ nhất định trong ngày. Càng
có nhiều thói quen, chúng ta càng ảo tưởng về một sự cố
định, một cái gì bền chắc, và kèm theo đó là sự đảm
bảo an toàn trong việc thường xuyên lập lại chúng. Tuy nhiên,
đây là một ước đoán hết sức bấp bênh, vì thói quen chỉ
là thói quen, không thể nào thay thế cho một ‘cái tôi’
bền chắc độc lập. Ta tìm kiếm không ngừng các cảm giác
vững chắc để phù hợp với cái khung mà chúng ta đã dựng
lên qua các thói quen của mình. Tuy nhiên, bất cứ thứ
gì mà chúng ta tìm được trong cái khung hạn hẹp đó, cũng
không thể giúp ta tìm được thứ hạnh phúc mà ta hằng mong
mỏi, là hạnh phúc nội tại không phụ thuộc vào hoàn cảnh
bên ngoài.
Các yếu tố bên ngoài thường không ở trong tầm kiểm soát
của ta. Thường thì chúng thình lình ập đến trước
khi ta có thể trở tay. Tuy nhiên, chúng ta không thích chấp
nhận sự thật đắng cay nầy. Chúng ta muốn làm chủ
cuộc đời mình, cũng như hưởng một hạnh phúc nội tâm,
độc lập với các hoàn cảnh bên ngoài, nhưng điều này thật
vô vọng. Ta ở trong cùng một hoàn cảnh như anh chàng
"Hans in Luck" trong câu chuyện cổ tích cùng tên của anh em nhà
Grimm. Anh chàng này, sau nhiều năm phục vụ đắc lực
được chủ thưởng cho một thỏi vàng và trên đường về
thăm mẹ, anh ghé vào một nơi để đổi vàng lấy những thứ
thực dụng hơn, rồi về đến nhà mang theo trong túi một thỏi
khác: một hòn đá vô giá trị. Sau cùng, anh liệng hòn
đá ấy đi và cảm thấy như thoát một gánh nặng lớn.
Đó cũng là những điều xảy ra cho chúng ta trên cuộc hành
trình tâm linh. Trong khi đi tìm kiếm một thứ không có
trên đời nầy, giải pháp duy nhất là phải vứt bỏ đi những
thứ ta vẫn luôn mang theo bên mình. Hòn đá mà chúng ta
hằng mang, gánh nặng trên vai bấy lâu nay là ngã chấp, sự
đồng hóa của ta với những gì mà ta coi là bền vững, bất
biến, là cái mà ta gọi là ‘ngã’ hay ‘cái tôi’, đã
hiển nhiên là sự ăn sâu, bám rễ của hành động và tư
tưởng của ta vào một cái gì bền vững, mạch lạc.
Nhưng các thành quả của ta sẽ kéo dài được bao lâu?
Chúng chỉ hiện hữu trong quá khứ xa vời. Bây giờ ta
chỉ sống với kết quả của các hành động ấy. Mọi việc
chỉ đến rồi đi - không có gì trong sự hiện hữu của ta
là lâu bền.
Thế giới, và ngay cả vũ trụ nầy, cũng chẳng bao giờ làm
thỏa mãn được ước vọng sâu xa nhất của ta. Sự
thỏa mãn không bao giờ đến từ bất cứ thứ gì ở bên
ngoài –nó từ nội tâm ta. Đây là sự khác biệt chính
yếu giữa đời sống tâm linh và cuộc sống đời thường:
sự tự tại ở ngay trong ta. Khi ta ngưng tìm kiếm hạnh
phúc ở thế giới bên ngoài để quay về nhìn sâu trong thiền
định, ta sẽ khám phá ra là mình vốn sẵn có tất cả những
điều kiện hạnh phúc mà xưa nay mình bôn ba kiếm tìm.
Ta chỉ cần học cách chú tâm - một điều không khó như ta
tưởng - và ta có đủ phương tiện để liên hệ với đời
sống nội tâm bất cứ lúc nào. Vấn đề chỉ là ngồi
xuống và thực tập hằng ngày. Giống như mỗi ngày ta
nuôi dưỡng thân thế nào, thì ta cũng cần chăm sóc cho sức
khỏe tinh thần của ta thế ấy. Không ai thắc mắc vì
sao ta cần nuôi thân, tuy thế ta phải nhấn mạnh là mình cũng
cần nuôi dưỡng tâm y hệt như thế. Khi ngồi thiền,
tâm ngưng chú ý đến những gì xảy ra chung quanh. Nhờ
đó, nó trở nên lắng đọng, kết quả là, các khía cạnh
của những kinh nghiệm đã có sẵn trong ta ở một trạng thái
thô sơ nay có cơ hội hiển bày. Thoạt tiên, ta có thể
thấy thoải mái, yếu tố báo hiệu tầng thiền đầu tiên.
Cảm giác dễ chịu nầy ai cũng có thể đạt được, song
nó thường bị tư tưởng của ta che khuất, vì vậy ta cần
phải ngưng dòng tư tưởng bằng cách tập trung tâm trí trong
thiền quán. Nếu tiếp tục hành thiền như thế, sẽ
có lúc ta nhận ra là tâm có thể ngừng suy nghĩ lăng xăng.
Khi ta đã có thể bước vào đời sống tâm linh bằng cách
nầy, khi đã chứng nghiệm được tầng thiền thứ nhất,
ta biết chắc chắn là thế giới nội tâm không thể nào thấy
được ở ngoài ta mà chỉ có thể thấy qua thiền tập.
Ta thấy rõ là có một con đường có thể đưa ta đến điều
mà xưa nay ta vẫn đi tìm, điều mà thế giới bên ngoài không
thể cho ta. Từ nay hạnh phúc của ta sẽ tùy thuộc vào
các phản ứng của ta đối với mọi việc, bởi chúng luôn
đến và đi, nhưng nằm ngay trong cái đến và đi ấy.
Nói một cách tổng quát, con người chúng ta luôn chìm đắm
trong các phản ứng của mình đối với sự việc, và ta đôn
đáo tìm khắp nơi cho một hoàn cảnh lý tưởng trong đó các
phản ứng nầy sẽ được hoàn hảo theo ý mình. Song
một khi đã kinh nghiệm được sự an lạc trong thiền, ta sẽ
không mải mê tìm lạc thú cuộc đời nữa bởi ta biết -không
mảy may nghi ngờ gì nữa - là chỉ cần hướng về nội tâm
là ta sẽ tìm được những thứ mà ta vẫn thường tưởng
chỉ có ở bên ngoài. Lúc đó ta sẽ sẵn sàng chú tâm
hơn đến sự sinh diệt của các sự kiện, thay vì chỉ chú
tâm đến các phản ứng của ta về chúng.
Khi bắt đầu thực tập, ta thường đánh mất chánh niệm
về vô thường; mọi thứ khác dường như quan trọng hơn nhiều
và sự vật không thay đổi gì nhiều. Phải cần nhiều
cố gắng mới có thể hiểu đúng tính vô thường của vạn
vật. Tâm cần được khuyến khích để chấp nhận nguyên
lý nầy không chỉ về mặt tri thức -trên phương diện nầy
chắc ta đủ sức hiểu rõ nó - mà còn về mặt tình cảm.
Lúc ấy đột nhiên ta thấy mình nhìn sự vật như sự vật
đang biến mất dần.
Khi ta thực sự cảm thấy là mọi vật luôn không ngừng thay
đổi, ta sẽ không còn chống lại sự thật đó nữa.
Khi thấy được mọi vật như chúng là, tức là vạn vật
luôn thay đổi, ta không còn mơ ước chúng có thể khác bản
chất của chúng. Ta cũng sẽ mất cái cảm giác bực tức
khi gặp phải những điều bất như ý hay không muốn trải
qua, và cảm giác hối hận hay luyến ái đối với những gì
ta muốn kinh qua. Lúc đó, khi những xung đột nội tâm
dừng lại, ta sẽ ngưng không đi tìm hạnh phúc ở bên ngoài,
và nhận thức rõ ràng là ta đã là chủ của kho báu mà ta
kiếm tìm.
Có rất nhiều những câu chuyện cổ tích từ nhiều truyền
thống văn hóa khác nhau về một người đi tìm vàng, đôn
đáo khắp nơi để tìm đúng chỗ đào vàng. Sau cùng
người ấy được một nhà hiền triết dạy rằng -thể theo
cổ tích Do Thái – ‘Con hãy về nhà, kho tàng ở ngay dưới
bàn trong bếp nhà con.’ Người ấy về nhà và sửa soạn
đào dưới bàn ăn trong bếp song chợt hiểu ra rằng: ‘Báu
vật ấy ở ngay trong tâm ta, có đâu ở dưới cái bàn nầy!
Ta chỉ cần ngồi ung dung để chân dưới bàn là kiếm được
nó ngay’. Ta ruổi rong tìm kiếm khắp nơi, có ngờ đâu
bảo vật ở ngay nơi mình.
Tất nhiên đây là điều mà mỗi chúng ta sẽ phải tự tìm
ra cho mình. Chỉ muốn khám phá ra những kho tàng tâm linh
thôi không đủ; ta phải thực sự bắt tay vào việc.
Nếu ta vẫn sống theo các thói quen cũ và không cố gắng gì
để thay đổi, ta vẫn tùy thuộc vào con người cũ của mình,
vẫn đồng hóa với những phản ứng nhất thời của mình
đối với sự việc.
Một điều mà Đức Phật đã dạy là nếu chúng ta có thể
đạt được sự nhận thức rõ ràng, sâu sắc về sự đến
và đi của năm uẩn, thì chúng ta có thể tự quan sát bản
thân cũng như thế - như một chuỗi nhân và quả liên tục.
Khi đã hiểu mình như những hiện tượng nhân quả, cái ngã
sẽ chấm dứt, vì chúng ta là nhân mà cũng là quả và cả
hai đều có gốc rễ trong sự chấp ngã không dừng dứt của
ta.
Nếu, trong lúc thiền tọa, ta cảm nhận rõ ràng được sự
đến và đi của các uẩn qua từng giây phút, không dừng dứt,
ngay lúc đó, trở lại quán tưởng về vô thường, ta sẽ
vào được cõi vô diệt. Đây là lời hứa của Đức
Phật.
Câu cuối cùng của đoạn kinh nói: ‘Người mà biết gọi
đó là cõi vô diệt’. Thay vì cụm từ ‘người mà biết’
ta có thể nói ‘người trí tuệ’. Xét cho cùng, chỉ
biết thôi chưa đủ, ta phải đưa cái biết đó vào thực
hành. Hiểu biết về một điều gì đó và có thể thực
hành nó là hai điều hoàn toàn khác nhau. Nói là mọi
vật đều vô thường thì chẳng có gì là mới mẻ cả -biết
vô thường không thành vấn đề đối với chúng ta. Nhưng
để là đòi hỏi trí tuệ hiện hữu -phải thực sự là cái
ta biết. Đây là điểm khác biệt chính yếu giữa nhà
học giả và hành giả. Nhà học giả biết tất cả mọi
thứ về vô thường, song chỉ có hành giả là kẻ sẽ có
ngày đạt được nó. ‘Người mà biết’ do đó là người
trí tuệ và điều mà người trí tuệ biết là ‘cõi vô diệt’,
một từ đồng nghĩa với niết bàn.
Niết bàn là một ý niệm khó hiểu và khó thể được diễn
tả chính xác. Thí dụ ta có thể cho nó là sự thể hiện
của thượng đế ở trong ta -không phải là một thượng đế
dưới hình dạng nào, nhưng là một nền tảng căn bản cho
tất cả những gì đang hiện hữu. Điều đó, ta có thể gọi,
là niết bàn. Điều đáng tiếc là ý nghĩa của từ ‘thượng
đế’ quá phức tạp nên mỗi người sẽ nghĩ về một thứ
khác nhau khi nói đến từ này -do đó nó không còn ý nghĩa
gì mấy. Cũng thế, có rất nhiều sự ngộ nhận về
từ ‘niết bàn’.
Tốt nhất là ta nên tránh tạo những khái niệm liên hệ với
từ ‘niết bàn.’ Tuy nhiên, tôi muốn đưa ra vài khái
niệm về ý nghĩa của nó để người đọc có thể hiểu
cụm từ ‘cõi vô diệt’ (deathless realm) muốn diễn tả gì.
‘Vô diệt’ có nghĩa là không có gì tịch diệt -nhưng trước
khi có vô diệt thì phải có vô sinh. Căn bản rốt ráo
của mọi hiện hữu không có sinh cũng không có diệt.
Để chứng ngộ được sự thật nầy, ta phải tiếp cận
nó một cách hết sức từ tốn. Nó không liên hệ gì
đến niềm tin vào một thực tại bên ngoài, những nghi thức
bên ngoài, hay những ảnh hưởng bên ngoài nào đối với ta.
Nếu ta tương đối may mắn sống ở một nơi thoải mái, có
đủ ăn, đủ mặc,có nơi tránh gió mưa bão táp, có thuốc
men khi ốm đau, ta đã có đủ mọi thứ ta cần từ thế giới
bên ngoài. Tất cả chúng ta đều có thể chứng ngộ
sự thật tối thượng vì nó ở ngay trong ta. Từ trong
tiềm thức, ta biết rằng đây chính là điều mà ta hằng
tìm kiếm, nhưng người ta chẳng bao giờ bàn về điều nầy
và cũng không muốn tự thú nhận điều đó. Sự thật
này không nhất thiết phải có một cái tên, dù đó là ‘niết
bàn’, ‘cõi vô diệt’ hay là ‘thượng đế’. Có
một thực tại ở đó ta có thể tìm được sự nghỉ ngơi,
an tịnh, nhưng ta chỉ có thể tìm được nó trong nội tâm
ta. Tiếng nói của nội tâm cũng cho ta lời khuyên.
Vậy mà ta mãi kiếm tìm ở những chỗ đâu đâu.
Trạng thái nghỉ ngơi này là gì? Có phải là khi ta về
hưu? Hầu hết những người về hưu không nghỉ ngơi mà trái
lại còn bận rộn hơn bao giờ hết, nếu không họ sẽ thấy
buồn chán. Nghỉ ngơi của đời thường chỉ có nghĩa
là thay đổi công việc làm chúng ta bận rộn. Tìm được
sự nghỉ ngơi nghĩa là tìm được bản chất của ta, căn
bản của hiện hữu, và chứng ngộ nó. Căn bản nầy
có mặt ở trong mỗi chúng ta. Nó đem ta vào đời, giữ
ta sinh tồn và đem ta về cõi chết. Chứng ngộ nó có
nghĩa là buông xả hết tất cả những bám víu, mong cầu được
hiện hữu, hay được là ‘một ai đó’. Do đó, chỉ
khi nào chúng ta thôi không bám víu, khát khao hiện hữu và
khẳng định bản ngã, thì ta mới thực sự tìm được sự
nghỉ ngơi. Ở đây không nói là ta phải khinh rẻ hoặc
ruồng bỏ bản thân -vì điều này cũng tệ chẳng khác sự
luyến ái cái ngã. Mà đúng ra là, qua thiền định ta
sẽ dần nhận ra sự hình thành của bản ngã như thế nào
bên trong ta.
Ngay khi chúng ta có thể ngưng các vọng niệm, ta sẽ có cơ
hội để cảm nghiệm một tầng thức mới của cuộc sống
nội tại -có nghĩa là cuộc sống nội tại mà chúng ta đang
theo đuổi là một chứng nghiệm sống chứ không phải là
một quá trình tư duy. Việc ngưng các vọng niệm là bước
đầu tiên, chỉ cho ta nơi đâu để tìm ra được sự thật
sâu xa hơn. Đồng thời ta cũng có thể chuẩn bị cho
sự chứng nghiệm đó bằng cách hướng dẫn tư tưởng của
ta đến sự thật là tất cả những gì đang xảy ra cho ta
và quanh ta đều vô thường. Bằng cách kiên trì tự nhủ
mình như vậy, dần dà ta có thể cảm nghiệm được sự đến
và đi của mọi việc.
Để nhớ những gì ta biết thì cũng đơn giản thôi. Nhưng
làm chủ được nó có nghĩa là ta phải kinh qua những gì ta
biết, thì không đơn giản như thế -dù là trên đời luôn
có một số người có khả năng siêu việt này. Ta không
cần phải chuyên tâm vào một niềm tin, một tôn giáo, triết
lý hay tâm lý nào, ta chỉ cần để ý chính mình thôi.
Có gì đơn giản hơn thế phải không? Tưởng là như
vậy song thực ra đây lại là một điều rất khó làm.
Còn gì thú vị hơn là tự quan sát mình phải không? Nhưng
phần đông đều thích dòm ngó người khác. Nếu ta xem
những gì ta quán sát được như đang xem một cuốn phim thì
việc quan sát chính mình chắc chắn là một cuốn phim đáng
xem hơn là lấy máy ảnh ghi lại những sự kiện bên ngoài
một cách không ý thức.
Như vậy ta đã có lới hứa khả của Đức Phật là ta sẽ
đạt được hạnh phúc nội tâm, bất kể hoàn cảnh bên ngoài.
Ta cũng có những quy luật riêng cho con đường ta phải theo
để tự chứng nghiệm được hạnh phúc đó. Sự lợi
ích và quan trọng vô cùng của giáo lý của Đức Phật không
chỉ nằm trong những lời hứa, mà còn ở chỗ nó chỉ cho
ta cách chứng nghiệm sự thật và những gì ta có thể chờ
đợi trên con đường tu tập.
Chương
2
Ba
Mươi Tám Phước Báu
Như
vầy tôi nghe. Một lần Thế Tôn đang cư ngụ tại Xá Vệ,
trong vườn Kỳ Đà tại Tu Viện Cấp Cô Độc. Một đêm
tối một vị trời hiện ra với hào quang rực rỡ tỏa
sáng cả vườn cây. Vị ấy đứng qua một bên và cung
kính đảnh lễ Thế Tôn: ‘Bạch Thế Tôn, nhiều vị trời
và người khi tìm kiếm hạnh phúc đã quán tưởng về những
điều có thể đem lại sự giải thoát. Bạch Thế Tôn,
xin Ngài hãy nói về sự giải thoát tối thượng!’
Không
thân thiện kẻ ngu. Kết bạn với thiện tri thức.
Tôn kính bậc đáng kính. Đây là những phước báu lớn.
Có
chỗ ở thuận tiện, tích đức trong quá khứ, theo đuổi những
hạnh lành: đây thật là những phước báu lớn!
Giàu
kiến thức và khả năng chuyên môn, hành trì miên mật các
giới luật, chỉ nói lời chân chất. Đây thật là những
phước báu lớn!
Phá
ngã và thanh tịnh hóa tâm, tuệ giác về tứ đế, sau cùng
đạt Giác Ngộ, đây thật là những phước báu lớn!
Một
trái tim vững chãi - không phiền muộn, trong sạch và an trụ
- dù khi gặp bát trược. Đây thật là phước báu lớn!
Những
ai đạt được vậy là kẻ chiến thắng, ở mọi lúc mọi
nơi. Họ tìm được hạnh phúc ở khắp cùng các chốn,
và đây là phước báu tối thượng.
Mahamangala
Sutta, Sutta Nipata 258-69
Kinh
Đại Phước Đức, Bộ Pháp 258-69
Trong bài thuyết pháp này, Đức Phật giải thích thế nào
là hạnh phúc thật sự của nhân loại. Bài pháp này
càng có ý nghĩa vì nó liên quan đến cuộc sống thường nhật
của ta. Bài pháp bắt đầu như sau:
Như vầy tôi nghe. Một lần Thế Tôn đang cư ngụ tại Xá
Vệ, trong vườn Kỳ Đà tại Tu Viện Cấp Cô Độc. Một
đêm tối một vị trời hiện ra với hào quang rực rỡ
tỏa sáng cả vườn cây. Vị ấy đứng qua một bên và
cung kính đảnh lễ Thế Tôn: ‘Bạch Thế Tôn, nhiều vị
trời và người khi tìm kiếm hạnh phúc đã quán tưởng về
những điều có thể đem lại sự giải thoát. Bạch Thế
Tôn, xin Ngài hãy nói về sự giải thoát tối thượng!’
Vị trời này có thể được xem như một hình ảnh trong tâm
trí của Đức Phật, hoặc một biểu hiện ngoại tại như
là sự hiện hình của Đức Mẹ Đồng Trinh trong truyền thống
Ky Tô Giáo, hoặc một nhân vật tôn giáo nào khác. Nhưng
vị trời này đã nói: nhiều vị trời và người khi tìm kiếm
hạnh phúc đã quán tưởng về những điều có thể đem lại
sự giải thoát. Hiển nhiên là ít nhiều gì tất cả
chúng ta đều đã nghĩ về những điều làm chúng ta được
hạnh phúc tột cùng. Thế thì vị trời này định nói gì
khi dùng từ giải thoát?
Khi hỏi Đức Phật nghĩ gì về giải thoát, vị trời dùng
từ ấy để ám chỉ những sự kiện bên ngoài, những hiện
tượng có tính cách thần bí, những thứ bùa ngải. Chúng
ta cũng thường có thói quen tìm hạnh phúc qua bói bài, tử
vi, đoán số, v.v.. Nhưng ở đây từ Pali mangala có hai
nghĩa, nó có thể được dùng như nghĩa vị trời đó dùng
ở đây, để chỉ ‘sự giải thoát’, song nó cũng có thể
có nghĩa là 'phước báu'. Ở đây, cũng như thường lệ,
Đức Phật không dùng định nghĩa đã được hàm ý trong câu
hỏi; thay vào đó Ngài giảng cho chúng ta phước báu thật
sự là gì và mô tả toàn bộ ba mươi tám phước báu
mà ta có thể đạt được bằng sự nỗ lực của chính mình.
Sự hiện hình của vị trời này xảy ra khi Đức Phật đang
ở trong tu viện do trưởng giả Cấp Cô Độc cúng dường
cho Ngài. Đây là nơi Đức Phật thường trú ngụ ba tháng
trong các khóa an cư mùa mưa. Mặc dù vị trời này hiện
ra với vẻ đẹp không thể tưởng tượng được và với
hào quang thanh tịnh tỏa sáng cả vườn Kỳ Đà, nhưng vị
ấy không có điều gì để chia sẻ với Đức Phật.
Ngược lại, vị ấy lại nhờ Đức Phật giảng pháp.
Đức Phật đã giải thích về ba phước báu đầu tiên như
sau:
Không thân thiện kẻ ngu. Kết bạn với thiện tri thức.
Tôn kính bậc đáng kính. Đây là những phước báu lớn.
Hai phước báu đầu tiên có liên hệ với nhau và nhấn mạnh
về những người mà ta nên thân cận: những người mà trí
tuệ của họ có thể đem lại lợi lạc cho ta. Vì kế
sinh nhai, không phải lúc nào ta cũng có thể lựa chọn những
người mà chúng ta gặp gỡ trong cuộc sống hàng ngày.
Do đó chúng ta phải cố hòa đồng với tất cả những người
mà ta gặp. Nhưng may mắn thay, ngày nay chúng ta có khá
nhiều thì giờ rảnh để làm theo sở thích của mình.
Có những câu châm ngôn như: ‘Hãy nói cho tôi bạn của anh
là ai, tôi sẽ biết anh là hạng người nào’ hoặc ‘ngưu
tầm ngưu, mã tầm mã’ để nhắc chúng ta về quy luật này
-điều mà Đức Phật cũng nhấn mạnh trong nhiều bài thuyết
giảng- về phước báu được làm bạn với các thiện tri
thức và sự vô phước phải chung đụng với những kẻ ngu
và người ác. Nhưng làm sao ta biết được ai là những
kẻ ngu? Theo lời Đức Phật dạy, đó là những người
không chú trọng đến đời sống tâm linh và tin rằng họ
có thể tìm thấy hạnh phúc qua của cải vật chất.
Hầu hết mọi người đều đồng ý là ta không thể tìm được
chân hạnh phúc trong của cải vật chất mà thôi. Tất
cả mọi tôn giáo đều nói đến chân lý ‘con người ta không
chỉ sống bằng thức ăn.’
Kẻ ngu hoặc vô minh là kẻ tin là chỉ những điều mắt ta
thấy, tai ta nghe, mũi ta ngửi, lưỡi ta nếm, thân thể ta xúc
chạm, tâm ta nghĩ tưởng -là tất cả những thứ ở trên
đời. Cách nhìn này hết sức giới hạn tiềm năng của
chúng ta. Tâm trí ta có khả năng nhìn sâu, thấy xa và
trong tiềm thức chúng ta cũng biết đến điều này, nếu không
ta chẳng bao giờ mơ tưởng đến việc nhọc công ngồi trên
tọa cụ thiền tập để đạt đến những tâm sở cao cả
hơn. Thế nên, nếu ta lệ thuộc vào các giác quan của mình,
hoặc nghĩ là mình chỉ có thể đạt được hạnh phúc trong
thế giới vật chất bên ngoài, Đức Phật gọi ta là kẻ
ngu. Để xác quyết mình không phải là kẻ ngu, ta phải
tự hỏi là mình có nỗ lực kết bạn với các thiện tri
thức không.
Thiện tri thức không phải là người học rộng hiểu nhiều
mà là người sống trong một thế giới thiện mỹ mà họ
tìm thấy ngay nơi nội tâm mình. Đó là những người
ta cần thân cận bởi họ có thể giúp ta trên con đường
tâm linh.
Phước báu thứ ba là 'tôn kính bậc đáng kính'. Điều
này hơi khó làm ở xã hội Tây phương bởi lẽ ta khó biết
được ai thật sự là bậc đáng kính. Tại Á châu, chúng
ta vẫn thấy nhiều bậc được kính trọng - phần lớn vì
truyền thống. Ở Tây phương, người ta thường hay nghi
kỵ. Hay nghi thì cũng tệ chẳng kém gì khi phạm lỗi
ngược lại -sự cả tin. Tuy nhiên, dù cả tin thiếu sự
phê phán, nhưng ít nhất nó cũng giúp ta cảm nhận và bộc
lộ điều gì đó từ trái tim mình. Lòng tôn kính và
thương yêu đều đến từ một chỗ.
Ở những nơi mà tôn giáo và cuộc sống tâm linh được tôn
vinh trong xã hội, người ta thường bày tỏ lòng tôn kính
những bậc đã hy sinh cả cuộc đời mình cho đạo pháp như
các thầy tu, các vị nữ tu, các vị thiền sư hay lạt ma.
Thật sự họ có phải là các bậc đã đạt giác ngộ cao
hay không, lẽ dĩ nhiên chúng ta không thể nào biết; ta chỉ
có thể nhận ra ở người khác những đức tính mà ta cũng
có. Nói cách khác, những gì ta thấy được ở người
khác là sự phản chiếu của các đức tính bên trong ta.
Để gieo trồng những tình cảm tích cực, chúng ta không nên
ngần ngại bày tỏ lòng tôn kính các bậc đáng tôn kính,
dù ta không biết chắc rằng đối tượng có thực sự thuần
khiết về tâm linh hay không. Thói quen hay phân tích người
khác dễ dàng làm tiêu tan bất cứ cảm giác tôn kính nào.
Thật vậy, Đức Phật thường khuyên chúng ta là thay vì phân
tích người khác, ta hãy tự phân tích bản thân, và Ngài đã
chỉ bày cho ta nhiều phương cách khác nhau để làm việc này.
Một khi đã nhận Đức Phật là bậc đạo sư của mình, chúng
ta phải hết lòng tôn kính Ngài và bày tỏ lòng tôn kính ấy
bằng cách lễ Phật. Ta còn phải tỏ lòng tôn kính bằng
cách cố gắng ghi nhớ giáo lý để sự thanh khiết của Pháp
được tỏa sáng trong ta. Lòng tôn kính giúp ta cảm thấy
gần gũi với lý tưởng cao đẹp nhất và nhờ vậy mà ta
đạt được một sự an nhiên tự tại mà không một phần
thưởng vật chất nào của thế tục có thể so sánh được.
Có thể có nhiều tên gọi khác nhau cho lý tưởng cao đẹp
nhất này của sự Giác Ngộ, nhưng tinh hoa của giác ngộ,
dù ta có đạt được cho mình hay không, là Đức Phật.
Nếu ta có thể tỏ lòng tôn kính cho lý tưởng như thế, bằng
cách tôn kính bậc đáng kính, Đức Phật gọi đó là một
phước báu chân thực.
Có chỗ ở thuận tiện, tích đức trong quá khứ, theo đuổi
những hạnh lành: đây thật là những phước báu lớn!
Phước báu đầu tiên trong ba phước báu nói trên là một
cái gì hết sức cụ thể: chỗ ở (trú xứ) thuận tiện,
theo lời Đức Phật dạy, là nơi không có chiến tranh hay người
láng giềng thù địch. Trong khung cảnh an bình, ta có thể
thư giãn và có nơi tĩnh tọa. Nếu được ở một chỗ
như vậy ta có thể coi là mình hết sức may mắn. Đức
Phật gọi đó là một trong ba mươi tám phước báu.
Phước báu kế tiếp, ‘tích đức trong quá khứ’ là phước
báu đã tạo thiện nghiệp qua sự thương yêu, sẵn lòng giúp
đỡ người khác và bố thí. Ta thường hay quên là tất
cả những gì ta nói, nghĩ và làm đều mang theo hậu quả của
nó và chẳng có gì bị mất cả. Nghiệp quả của những
ý định và hành động của chúng ta có thể hiển bày trong
một ngày, đôi khi chỉ trong một giây, hoặc nó có thể hiện
ra sau một thời gian khá lâu. Cuộc đời ta là bổn phận
của riêng ta. Cũng có câu nói: 'Bạn chính là người
tạo nên đời mình.' Ta có thể cho rằng hoàn cảnh chung
quanh khiến ta vui hay buồn, song những hoàn cảnh ấy lại tùy
thuộc vào chủ đích của ta. Hạnh phúc nằm trong tay
ta. Nghiệp tốt đến từ nhân tốt, nghiệp xấu đến
từ nhân xấu. Đây là luật nhân quả.
Tất nhiên, sự việc ít khi đơn giản như thế. Nếu
ta có ý định tốt song thiếu khả năng thực hành điều ấy,
ta sẽ gặt một số quả tốt, và một số quả không tốt
mấy. Đức Phật dạy rằng nhân quả giống như một
lưới nhện, những sợi tơ chằng chịt lẫn nhau, chẳng biết
đâu là đầu, đâu là đuôi. Cũng vậy, ta không biết
nhân nào đã đưa ta đến quả hiện tại, hoặc ngọn ngành
lý do nào khiến ta là ta. Song điều ta có thể làm được
là trân quý những gì tốt đẹp mà ta có được mỗi ngày
trong cuộc sống. Sự biết ơn tạo cho ta đức tính tích cực,
thương yêu, đầy nhân nghĩa, và cương quyết; và tất cả
những đức tính ấy sẽ hỗ trợ ta trong việc tiếp tục
hành thiện.
Việc hành thiện bắt đầu trong tâm ta từ những ý nghĩ tốt,
được diễn tả qua chánh ngữ, rồi được bộc lộ qua hình
thức của những hành động tích cực. Ba cánh cửa của
nghiệp, do đó, là ý nghĩ, lời nói và hành động. Chính
qua ba cánh cửa này mà tất cả mọi người trên đời tạo
ra nghiệp lành hay nghiệp dữ. Nếu ta đã tạo nghiệp
lành trong quá khứ, quả thật đó là một phước báu bởi
nghiệp lành ấy đang hỗ trợ chúng ta và ta có thể tránh
nghiệp dữ bằng cách luôn thận trọng giữ gìn ý nghĩ, lời
nói và hành động của mình. Xét cho cùng chẳng ai trong
đời này lại không tạo nghiệp, ngoại trừ Bậc Giác Ngộ.
Phước báu kế tiếp là ‘theo đuổi những hạnh lành’.
Điều này cũng có thể được gọi là ‘có lý tưởng sống
trong đời’. Ở đây ta lại đối diện với sự thật
là của cải vật chất không thể làm thỏa mãn bất cứ một
ai. Nếu ta quán sát các người thân, người quen, và bạn
bè, và nếu tự quán sát chính mình, chúng ta sẽ thấy
rất rõ ràng là cuộc đời là một sự pha trộn của những
niềm vui và nỗi khổ, của những sự hạnh phúc và phiền
não.
Ta thường nghĩ rằng phiền não là do những việc bất như
ý bên ngoài đem đến cho ta và vì thế bằng mọi cách, ta
cố gắng thay đổi hoàn cảnh ấy. Song sẽ đến
một lúc, ta nhận ra rằng dù ta có cố gắng hết sức mọi
việc sẽ không bao giờ suông sẻ như ý ta muốn. Thứ
nhất, là vì có những hoàn cảnh ta không thể nào thay đổi
được. Tuy nhiên, ta vẫn thấy có những ngoại lệ, có
những lúc khi các hoàn cảnh bên ngoài đã được giải quyết
thì mọi thứ cũng sẽ đâu vào đó. Nhưng sự thật là
vấn đề không nằm ở các yếu tố bên ngoài. Nếu quyết
tâm theo đuổi lý tưởng cao đẹp nhất và đi theo con đường
tâm linh, ta có thể bắt đầu bằng cách chấm dứt đổ lỗi
cho hoàn cảnh không thuận tiện bên ngoài.
Con đường của Đức Phật gồm có thiền quán và sự thanh
tịnh hóa tâm, và hai phần này lệ thuộc vào nhau. Nếu
lơ là một trong hai hoặc cả hai ta sẽ không có sự cân bằng
vững chãi trong cuộc sống tâm linh. Để đạt đến mục
tiêu cao đẹp nhất ta cần phải thực hiện cả hai. Thiền
định giúp chúng ta nhận diện được những điều đang xảy
ra trong tâm và không biết được điều ấy thì không thể
nào thanh lọc được tư tưởng và cảm xúc của mình.
Phát triển sự tĩnh lặng của tâm qua thiền định bằng sự
chú tâm, biến nó trở thành một dụng cụ có giá trị.
Đức Phật ví tâm ta như một cái rìu đã được mài sắc;
ta biết là đối với các việc khó khăn một cái rìu cùn
không thể nào kham nổi; cũng vậy, chỉ có một tâm đã được
tôi luyện mới có thể hấp thụ được những điều thật
quan trọng trong đời.
Chúng ta thường để tâm bị bấn loạn và kích thích bởi
những điều nhỏ nhặt, mặc dù chúng chẳng có ý nghĩa gì
hơn là giúp cho ta qua ngày đoạn tháng. Qua thiền định
ta biết phân biệt giữa những giá trị tạm bợ và giá trị
nội tâm chân thật. Tất nhiên, khi còn có thân, ta còn
cần phải thỏa mãn những đòi hỏi của cuộc sống.
Ta phải ăn ngủ và làm việc. Tuy nhiên đến cuối ngày
xem lại thì những hoạt động ấy tự chúng có giá trị gì?
Và có phải chúng chỉ là phương tiện giúp ta quên đi để
không thấy là cuộc sống của ta không thực sự hạnh phúc?
Chẳng
thiếu gì những thứ làm ta phân tâm. Trong xã hội kỹ
thuật tân tiến của chúng ta, chỉ cần nhấn một cái nút
là ta có thể tìm quên trong chốc lát. Thế nhưng việc
ấy đem lại an lạc gì cho tâm ta. Hướng đi mà ta muốn
chọn cho cuộc đời mình là một vấn đề quan trọng.
Những việc mà ta luôn phải bận rộn, luôn ngự trị tâm
ta, những việc mà ta trăn trở, tổn phí thì giờ, chúng quan
trọng đến thế nào? Chúng có giá trị nội tâm hay bên
ngoài? Chúng có đem lại an lạc và hạnh phúc cho ta và
tha nhân? Đây là những câu hỏi mà ta phải tự đặt
ra cho mình nếu chúng ta muốn vạch ra những nguyên tắc chỉ
đạo để giúp đem lại ý nghĩa cho cuộc sống của mình.
Giàu kiến thức và khả năng chuyên môn, hành trì miên mật
các giới luật, chỉ nói lời thuần nhã. Đây thật là
những phước báu lớn!
Phước báu đầu tiên trong ba phước báu kế tiếp: ‘giàu
kiến thức chuyên môn và khả năng’ - kết hợp hai yếu tố
thật khác biệt trong thực tế. Kiến thức làm phong phú
cuộc sống của ta, song ta có thực hành được những điều
mình biết không? Chúng ta ai cũng biết câu châm ngôn ‘Thương
người như thể thương thân’, song ta có thể sẵn sàng làm
theo lời dạy ấy chăng? Đây là những câu hỏi quan trọng
mà mỗi chúng ta phải suy nghĩ kỹ càng.
Trong gia đình, nơi trường học, hay ở các khóa huấn luyện
ta học được nhiều khả năng chuyên môn giúp ta kiếm sống.
Đức Phật đặc biệt nhấn mạnh thủ công nghệ bởi vì
nó giúp ta tự lập. Trong thời của Ngài, các nghề này
được đánh giá hết sức cao, hơn thời nay rất nhiều.
Chúng ta đã xem thường các kỹ năng này, nhiều nghề chỉ
còn tồn tại như những sở thích riêng, nhiều nghề hoàn
toàn biến mất vì hầu hết mọi đồ dùng đều được làm
bằng máy móc và nếu cần thứ gì thì ta có thể đi mua ngay.
Chúng ta có nhiều khả năng mà tự bản thân cũng không hề
biết đến bởi ta không có cơ hội để thử tài mình - song
biết chế tạo một vật gì bằng đôi tay mình quả là một
phước báu lớn. Những món đồ mà ta sản xuất giúp
ta sống tự lập cũng như giúp ta làm vui lòng người khác,
và đây cũng có thể là phương kế sinh nhai thích đáng cho
ta. Việc phát triển và áp dụng những kỹ năng thủ
công có thể giúp ta có một cuộc sống vững vàng, trở thành
một người tự tin, một thành viên hữu dụng của cộng đồng.
Tuy nhiên câu hỏi tất yếu là ta đã sử dụng được kiến
thức và kỹ năng của mình như thế nào trong việc tìm kiếm
sự an lạc cho tâm, bởi lẽ một phước báu phải thật sự
đưa ta đến tâm bình an, bằng không thì nó không phải là
phước báu. Nếu chúng ta nghĩ là nền hòa bình thế giới
phải cần đến nỗ lực của người khác thì ta cần xem xét
lại niềm tin ấy. Hòa bình thế giới tùy thuộc vào
việc mỗi người chúng ta có tìm được an lạc cho bản thân
không. Đây là con đường duy nhất dẫn đến hòa bình
thế giới.
Việc đặt kiến thức (học) và nghề nghiệp (hành) song song
với nhau đặc biệt quan trọng đối với những người học
Phật, tuy quen thuộc với giáo lý của Đức Phật và nội
dung của nó nhưng lại gặp khó khăn khi đưa vào thực hành.
Người thông minh như chúng ta không gặp khó khăn mấy khi muốn
học hỏi điều gì. Ta hiểu những điều mình đọc,
và còn có thể học thuộc lòng chúng. Những điều mà
ta học ở trường vẫn còn đó, song sau khi đã đóng sách
lại hoặc trả bài xong, bao nhiêu phần đó thực sự vẫn
sống đọng trong ta? Khi Đức Phật nói ‘học và hành’,
Ngài muốn dạy ta là phải quan tâm đến cả hai.
Chắc chắn là đoạn kinh này có những ứng dụng thực tiễn
trong đời thường, song nó nhắm đến kiến thức tâm linh
và những hạnh nguyện cao quý nhất nhằm đạt đến kiến
thức ấy. Nếu chúng ta không thấm nhuần lời kinh - tức
là nhập tâm nó và y giáo phụng hành - thì làu thông kinh đến
mấy cũng là vô dụng. Đức Phật mô tả nhiều câu chuyện
của những người thô thiển chỉ thuộc một bài kinh hoặc
một câu kinh mà vẫn tìm ra được con đường thanh tịnh hóa
tâm. Ngài thường nói rằng chỉ thuộc lòng các ngôn
từ và kinh điển thì cũng chẳng ích lợi gì. Chỉ một
lời chỉ dẫn nếu thực hành chuyên cần vẫn có thể đưa
ta đến hỷ lạc. Thật vậy, Kinh Đại Phước Đức là
kinh về sự giải thoát tối thượng, tự nó có đủ tất
cả những điều cần thiết để hướng dẫn cuộc sống của
ta. Những điều quan trọng nêu ra trong kinh không khó nhớ;
song cuộc sống thường có nhiều thứ làm ta phân tâm: những
việc làm thường ngày dường như quá quan trọng đến nỗi
ta không thấy có con đường nào khác hơn, giống như nó là
cái gì tuyệt đối không thể không theo.
Một điều có thể giúp ta có một cái nhìn đúng đắn hơn
là việc nhận thức rằng tất cả chúng ta sẽ phải chết.
Điều này không liên hệ gì tới việc ta bao nhiêu tuổi.
Đời người có thể dài ngắn khác nhau song chắc chắn là
mỗi chúng ta đều phải chết. Nếu suy nghĩ đúng đắn
về cái chết của chính mình ta sẽ không trì hoãn nhiều việc
như ta thường nói, “khi tụi nhỏ đã lớn, khi tôi trả hết
nợ nhà cửa, khi thời tiết tốt hơn,...”. Những việc mà
ta có thể chờ đợi dài vô tận. Song ta chỉ có thể
sống ngay bây giờ, ngay trong giây phút hiện tại. Ngày
mai là một ngày khác mà ta chưa chắc sẽ sống để thấy.
Nếu không làm những điều ta biết là mình nên làm hôm nay
thì ta đã bỏ phí ngày hôm nay vậy.
Phước báu tiếp theo - ‘hành trì các giới luật’ - nói
về ngũ giới mà ít nhiều gì ta đã biết từ khi còn thơ
ấu. Đó là: không sát sanh, không lấy của người, không
tà dâm, không nói dối hoặc dùng lời thô lỗ, không dùng
rượu hoặc các thứ độc hại.
Lẽ dĩ nhiên là học các giới này thì dễ hơn là hành.
Không sát sinh có nghĩa là không sát hại bất cứ sinh vật
nào, chứ không chỉ là cấm giết người, và chúng ta nên
tự vấn lương tâm về điều này. Với giới cấm không
lấy của người nếu người không cho, đối nghịch lại một
cách tích cực là thực hành hạnh bố thí. Cũng vậy,
không tà dâm không chỉ có nghĩa là không xâm phạm đến người
khác mà còn có nghĩa là trung thành với người hôn phối,
với bạn bè, cũng như có trách nhiệm với người, hòa hợp
với mọi sinh vật. Hạnh cao đẹp của chánh ngữ là
đề mục của phước báu tiếp theo mà chúng ta sẽ bàn dưới
đây. Vì rượu và các loại độc hại khác làm tâm ta
điên đảo hơn thế nữa, nên Đức Phật khuyên ta tránh các
thứ đó.
Hành trì các giới đòi hỏi ta phải có một mức độ kỷ
luật cá nhân nào đó. Ngày nay chúng ta không coi trọng
việc này như thời trước. Ta cho việc quan trọng nhất
trong đời là phải có một cuộc sống thoải mái, và nhà
cửa cũng như tất cả mọi sở hữu khác đều nhằm đạt
được mục đích ấy. Song sự thoải mái là một giá
trị tương đối và tự nó không tạo ra hạnh phúc.
Chúng ta cần sự tự kỷ luật, nếu muốn đạt được ý
niệm thực sự về giá trị của cuộc sống hay duy trì việc
hành thiền mỗi ngày. Sự tự kỷ luật có nghĩa là từ
bỏ những thói quen chỉ nhằm thỏa mãn các ham muốn của
ta, chứ tự chúng không có một giá trị nào cao đẹp hơn.
Việc tự kỷ luật này có thể đòi hỏi rất nhiều nỗ lực.
Không dùng lời thô lỗ, hiển nhiên, là nhắm vào lời ăn
tiếng nói của ta với người khác. Đối nghịch với
giới này là dùng lời thuần nhã với người. Điều
này không có nghĩa là nói những lời mà ta nghĩ là người
khác muốn nghe -một phần của cái thói xấu thường thấy
ở nhiều người là luôn mong nghe những lời khen. Lời
thuần nhã ở đây là những lời liên hệ đến Pháp, làm
cho người phấn khởi và hướng thượng và giúp người sẵn
lòng đi trên con đường hành thiện. Những lời ấy xuất
phát từ tận sâu thẳm đáy lòng ta, khác hẳn với những
lời trò chuyện hời hợt hàng ngày. Đây chính là điều
mà Đức Phật thường khuyên nhủ, ta nên có những ‘lời
lành’ với các bạn ‘lành’.
Dĩ nhiên, ngay cả một lời nói lành cũng có thể hàm chứa
một thiện ý. Song điều thiết yếu là những lời nói
thuần nhã là những lời nâng cao ý thức của ta, đưa ta vượt
ra khỏi cái nhìn vị kỷ và cho ta thấy bản chất hạn hẹp
của cái ngã. Nó đưa ta đến cảm giác hòa đồng với
tất cả nhân loại và giúp ta nhận thức được sự đồng
thể tính của vạn vật. Khi giúp ta có cảm giác là một
với tất cả sinh linh, nó cho ta một cảm giác bình an, thoát
khỏi sợ hãi và lo âu. Ta không thể tránh nói về cuộc
sống hàng ngày, song nếu ta không có đề tài gì khác -nếu
ta chưa bao giờ nói đến những đề tài hướng về một sự
thật sâu xa nào hơn là ngã tưởng của mình- thì đời ta
quả thật là nghèo nàn.
Để chuẩn bị cho những sự đàm luận như thế, ta phải
bồi dưỡng tâm qua việc nghe, đọc và thảo luận về Phật
Pháp. Ta phải nuôi dưỡng tâm còn kỹ càng hơn việc
nuôi thân mình. Kích thích tâm bằng truyền hình, báo
chí thường không có lợi và ta chớ nên chú ý nhiều tới
những thứ đó. Có nhiều sách và bài luận giảng về
giáo lý của Đức Phật mang đến cho ta những phương pháp
mới để đạt đến sự tỉnh thức cao hơn mà chúng ta nên
đọc và tìm hiểu. Khi càng tôi luyện cho mình về chân lý
của Pháp, tâm ta lại càng tự nhiên hướng về phía ấy.
Ta phải cố gắng tận dụng cuộc đời ngắn ngủi của thân
này để đạt đến tiềm năng cao nhất của mình. Tất
cả chúng ta đều có khả năng đạt Giác Ngộ tức là vô
nhiễm tối thượng và dứt sạch tất cả mọi khổ đau.
Song ta phải tiến bước trên con đường tỉnh thức trước
tiên bằng cách nhận ra rằng những điều chúng ta làm thường
ngày không có mục đích gì hơn là chỉ giúp chúng ta duy trì
mạng sống, nhưng vì tất cả chúng ta đều sẽ chết, nên
việc ấy cũng không thể nào quan trọng đến thế.
Điều mà chúng ta thật sự ý thức và đạt được nơi bản
thân, không lệ thuộc vào các yếu tố bên ngoài. Thiền
quán là một phương tiện cho cứu cánh này, song nó chỉ là
một điều kiện cần chứ không đủ. Tất cả ba mươi
tám phước báu trong kinh này bắt đầu bằng những phước
báu hàng ngày, và đưa chúng ta trọn đường đến Giác Ngộ,
đó là những phước báu mà ta có thể đạt được ngay trong
đời này bằng nỗ lực của chính mình. Tất cả quá
trình chỉ cho ta cách tận dụng các khả năng của mình.
Phụng dưỡng cha mẹ thật chu toàn, chăm lo cho gia đình, có
nghề nghiệp tốt lành. Đây thật là những phước
báu lớn!
Điều này có nghĩa là khi cố hết sức mình, ta sẽ được
hưởng phước báu tối thượng ngay trong hiện tại. Khi
ta cảm nhận được những trạng thái tâm linh thật sảng
khoái và dễ chịu đó là kết quả của một quá trình vững
chắc trong việc thanh tịnh hóa lời nói và hành động.
Về việc phụng dưỡng cha mẹ, phước báu này nằm ở chỗ
ta sẵn lòng làm việc này, không cần biết là cha mẹ có cần
hoặc có biết ơn ta. Phụng dưỡng mẹ cha thì luôn luôn
được lợi lạc, dù phụng dưỡng về vật lực, hay về tinh
thần. Nếu ta có thể giúp bằng một tâm hoàn toàn trong
sáng ta sẽ luôn đạt kết quả tốt. Hành thiện là một
việc tốt, nhưng lại càng tốt hơn nếu ta làm với tâm thiện:
việc làm được thực hiện với tâm miễn cưỡng mang lại
kết quả không rõ ràng; còn việc làm với tâm bất thiện
chắc chắn sẽ dẫn đến những kết quả xấu hơn.
Đức Phật thường khuyên nhủ ta là phải hết sức biết
ơn cha mẹ bởi không có cha mẹ thì ta đâu có mặt trên đời
này. Cha mẹ đã chăm sóc ta lúc ta còn thơ dại và đã
cố gắng với hết khả năng mà họ có được. Ta cũng
đừng quên là chính ta đã chọn cha mẹ mình. Phụng dưỡng
những ai trong lúc tuổi già vì các vị đã lo cho ta khi còn
thơ ấu cũng là một cách tạo thiện nghiệp.
‘Chăm sóc cho gia đình’ chắc chắn là một phước báu quen
thuộc mà ta nên cố gắng chu toàn. Tuy thế, nhiều xung
đột gia đình thường quy về một điều thật rất đơn giản,
đó là ai cũng muốn người khác làm theo ý mình. Trong
thực tế, không có điều gì lại giống như trong ước mơ
của ta. Con người nói chung và đơn vị gia đình nói
riêng, không có gì là trăm phần hoàn toàn. Nhiều
người bỏ cả cuộc đời của mình để tìm kiếm sự hoàn
toàn tuyệt hảo trong cuộc sống thế tục, nhưng đây là sự
tìm kiếm một cái gì không hiện hữu và chỉ gặp thất vọng,
chán nản.
Đổ lỗi cho người hay cho hoàn cảnh là một việc làm vô
ý nghĩa. Không thể trách ai hay điều gì về việc cuộc
đời không hoàn hảo. Trong cuộc sống hàng ngày với
mọi người, thật là một phước báu nếu ta có thể cho mà
không mong sự đáp lại. Làm ơn mà không cần biết đến
sự cảm ơn của người là một điều mà ta có thể học
hỏi trong cuộc sống gia đình. Ngay khi ta chờ đợi sự
trả ơn, tinh thần vị tha đã bị hoen ố bởi lòng mong muốn
một cái gì mà ta nghĩ là người khác nợ ta, và thắc mắc
là không biết khi nào mới nhận được. Điều này làm
mất hẳn niềm hạnh phúc của lòng cởi mở.
Kế đến là ‘có nghề nghiệp tốt lành’. Tuy là một
điều bình thường, nhưng cách chúng ta mưu cầu cuộc sống
là một vấn đề tâm linh quan trọng. Nghề nghiệp của
ta không được làm hại hoặc ảnh hưởng tai hại đến các
chúng sinh khác. Ta cũng cần kiểm điểm xem mình
có hành trì ngũ giới trong công việc của mình không để
được hưởng phước báu của việc giữ giới. Nếu
ta có thể kiếm được một việc làm mà lại giúp người
trong công việc thì lại càng tốt nữa.
Hơn nữa, nghề nghiệp của ta cũng cần vững chắc và nó
cũng cần có yếu tố xã hội trong đó. Thời giờ tại
nơi làm việc của ta là một phần đáng kể trong cuộc đời,
và ta cần giữ các lề luật về đạo đức ở chỗ làm cũng
như trong đời sống cá nhân. Một nghề nghiệp tốt lành
cũng là một nghề nghiệp mà ta không bị quá kích thích hoặc
quá mệt mỏi vì công việc; một công việc mà không có những
sự tỵ hiềm ghen ghét hay lòng ham muốn được một số lương
thật lớn. Ta cũng nên tránh không làm việc quá độ
- tuy cũng nên nói là nhiều người rất dễ trở nên làm việc
quá độ vì, do lý do này hay lý do khác, mà họ không ưa thích
gì công việc của họ.
Phước báu này không chỉ đơn thuần về công ăn việc làm
của ta. Phong cách từ tốn và đều đặn cũng hết sức
cần thiết cho việc thiền tập. Nếu ta không hành
thiền mỗi ngày, không tu tập miên mật, lại thêm vào đó
có vấn đề tại sở làm - ta sẽ gặp khó khăn trên đường
tu tập. Tất cả chúng ta đều có thể hưởng được
những quả lành của các phước báu nói ở đây nhưng chỉ
khi ta hành trì chúng trong đời sống hàng ngày của mình.
Thực hành hạnh bố thí, biết sống theo chánh mạng, biết
tạo các nghiệp tốt - đó thật là phước báu lớn!
Chúng ta đã đến một điểm trong kinh cho ta thấy rõ là trong
một đời sống chỉ quan tâm về vật chất và điều kiện
kinh tế, chúng ta không thể tìm thấy được một số đức
tính tâm linh cần thiết nào đó. Ở đây Đức Phật
điểm qua cho ta thấy những phước báu thuộc một bực cao
hơn trên con đường tâm linh. Chúng ta phải lựa chọn
giữa một cuộc sống vật chất và cuộc sống tâm linh rốt
ráo. Đáng tiếc thay, giải thích sự khác biệt giữa
đời sống hướng về vật chất và đời sống dựa trên
những giá trị tâm linh thì dễ hơn là đưa vào thực hành.
Trong cuộc sống vật chất, người ta muốn có càng nhiều
càng tốt trong khi người sống một cuộc đời tâm linh lại
nhắm vào việc bố thí càng nhiều càng tốt. Ai cũng
biết bố thí là một phước báu lớn hơn là tiếp nhận của
người, song điều này thật khó thực hành.
Phước báu kế tiếp được kể ở đây là hạnh bố thí.
Bố thí có nhiều khía cạnh vì nó tự biểu lộ tùy theo tài
lực và tính khí của mỗi cá nhân. Thí dụ như dành
thời gian cho ai đó, cũng là một cách bố thí đầy lòng từ
ái.
Để đạt được phước báu này, do đó, ta phải tự hỏi
làm sao có thể dùng các khả năng và tài sản của ta một
cách hữu hiệu nhất để giúp ích cho người khác - xét cho
cùng thì, của cải ấy cũng là do vay mượn mà có. Và
có lẽ ta cũng nên tự hỏi mình điều gì giới hạn tâm bố
thí của ta? Ta có thực sự muốn giúp đỡ người khác
không, hay ta muốn để cho những người chuyên môn giải quyết
những vấn đề ấy? Hay là ta tự bảo mình là cuộc
đời toàn là những việc xấu cả và chẳng ai có thể làm
được điều gì để biến nó thành tốt. Điều này
thì chắc chắn là đúng, song không phải vì thế mà ta không
có bổn phận giúp người khác. Nhưng ta sẽ có thể giúp
được đến mức độ nào? Chỉ giúp đến một mức
nào đó hay ta sẵn sàng bố thí vô điều kiện?
Đức Phật nhiều lần nói về bố thí (từ Pali là dàna).
Thực hành hạnh bố thí mỗi ngày đem lại niềm hỷ lạc
cho tâm. Nếu ta có thể bố thí đúng cách cũng như rộng
rãi thì tốt, nên tốt hơn hết là bố thí phải đi đôi với
trí tuệ. Nhưng cho dù ta không chắc là người nhận có
xứng đáng hay không, cho đi vẫn tốt hơn là giữ lại những
gì ta có. Tục ngữ có câu 'càng cho ta càng có'.
Để nhận chân được sự thật này, ta cần phải thực hành
hạnh bố thí. Chẳng bao lâu ta sẽ nhận ra là thật sự
có một nguồn vật chất bất tận, mà trên nguyên tắc ai
cũng có thể được hưởng thụ. Càng cảm thấy được
sự tương quan giữa tất cả chúng sinh, ta càng muốn cho đi
hơn là muốn giữ, và càng nhiều người sẽ được lợi lạc
vì cửa tâm đã rộng mở.
Điều này sẽ không xảy ra nếu ta không có chút can đảm
- nhưng dù gì lòng can đảm cũng cần thiết trong đời sống
tâm linh. Ta phải quán sát bản thân cũng như các giả
định của mình một cách chân thật -tất cả những thứ
mà ta quen thuộc- tự xét xem ta dùng thì giờ như thế nào,
và tự hỏi mình, đời chỉ có như thế thôi sao?
Bố thí là hạnh đầu tiên trong mười hạnh mà Đức Phật
liệt ra ở đây. Điều này không làm cho các hạnh khác
kém quan trọng đi chút nào, song bố thí mở cánh cửa đưa
ta đến các hạnh khác. Qua hạnh bố thí ta tập xả bỏ
cái ngã. Lúc nào cũng nghĩ tới mình thì không thích thú
và cũng chẳng lợi lạc gì. Điều này cũng như một
con rắn tự cắn cái đuôi của mình -một cái vòng khắc nghiệt
vô cùng tận. Nếu muốn dễ dàng chứng nghiệm được
sự liên hệ giữa ta và thế giới chung quanh, ta nên thực
hành hạnh bố thí. Theo sự phân tích của Đức Phật
thì ngã chấp chính là gốc rễ của mọi khó khăn và sầu
khổ của chúng ta. Toàn bộ giáo lý của Ngài nhằm giúp
ta nhận thực được cái ngã là một ảo tưởng mà ta phải
buông bỏ. Hạnh bố thí đứng đầu trong danh sách bởi
nó là bước đầu tiên giúp ta vượt qua ngã chấp. Ta
không thực sự đánh mất cái ngã vì tâm vị tha; ngược lại,
chính là nó đã giữ lại sự quan trọng của mình. Nhưng
ngay trong giây phút đó, ta không cần phải nghĩ đến cái ngã.
Ta cảm nhận được một sự toại nguyện hoàn toàn khác khi
đem lại niềm vui cho người, bằng cách chia sẻ với họ.
Việc ta cảm thấy hỷ lạc từ sự bố thí, trong khi thông
thường ta chỉ cảm thấy toại nguyện khi được nhận những
gì mình thích, cho thấy những gì ta cảm nhận được thực
sự là một sự toại nguyện ở một mức độ hoàn toàn khác.
Kế đến là phước báu của chánh mạng, của đời sống
ngay thẳng, chính trực. Đức Phật chẳng bao giờ nói
tất cả mọi người nên sống đời độc cư thiền định.
Vậy như thế nào là lối sống đúng? Sống đúng có
nghĩa là trước tiên phải chăm sóc lo lắng đầy đủ cho
gia đình mình và sau đó là giúp đỡ kẻ khác. Đức Phật
khuyên các đệ tử tại gia của Ngài nên chia lợi tức của
mình ra làm bốn phần. Một phần dành cho bản thân và
cho gia đình, phần thứ hai để tiếp tục việc kiếm sống,
một phần nữa phòng khi khó khăn, ốm đau, còn phần sau cùng
dành để cúng dường cho các bậc tu hành, kẻ ốm đau và
những người nghèo túng. Việc phân phối lợi tức như
thế bao gồm tất cả các bổn phận của ta. Nhiều ít
ở đây không quan trọng mà điểm chính là chủ ý của ta.
Chánh mạng hay nghề nghiệp chân chính trong đó bao hàm quyết
tâm cư xử đúng với lương tâm con người. Điều này
có nghĩa là ta không được làm hại đến người hay vật,
dù là trong cử chỉ, hành động, lời nói, cảm xúc hay ý
nghĩ của ta. Tai hại ta gây ra có thể do hành động hay
lời nói trong nhất thời, nhưng nó bắt nguồn từ cảm xúc
và ý nghĩ của ta. Cho nên cách cư xử theo đúng lương
tâm có nghĩa là không hàm chứa một ác ý gì với những
sinh linh khác. Ý nghĩ của ta không phải là vô thưởng
vô phạt –chúng luôn ẩn chứa một cái giá mà ta phải trả,
vì chúng huân tập nên những thói quen trong lời nói và hành
động của ta và thực sự là yếu tố tiên quyết đưa đến
sự hiện hữu của ta. Ta chính là cái mà ta nghĩ.
Cho nên không phải chỉ cái ta làm mà các tư tưởng ta gieo
trồng cũng quan trọng không kém. Ta có thể nói là tất
cả tư tưởng của ta đều xứng đáng được gọi là cao
đẹp nhất không?
Một lần nữa, Đức Phật nêu lên phước báu của việc chăm
lo cho người khác, và ở đây là việc chăm lo cho họ hàng,
bạn bè, người thân và đồng nghiệp. Khi đang vun trồng
đức tính này, lòng sẵn sàng muốn giúp đỡ người khác
bằng bất cứ phương tiện gì trở thành một bản tính tự
nhiên thứ hai, để rồi có lúc ta sẽ có thể đối xử với
bất cứ ai mà ta gặp với lòng tử tế. Tuy thế, lúc
đầu ta không nên đòi hỏi quá nhiều từ bản thân, mà cứ
tiếp tục vun trồng đức tính ấy.
Mỗi khi giao tiếp với người, ta hãy tự hỏi có phải ta
thực sự quan tâm đến người ấy hay chỉ cho bản thân chúng
ta. Ta có biết hàm ân vì cuộc sống của mình tốt lành
cũng là nhờ bao người khác không? Ta có thấy được
là đời sống của mình tùy thuộc rất nhiều vào trạng thái
buồn vui, tư tưởng, lời nói và hành động của những người
khác?
Không ai có thể thực sự nói là mình hoàn toàn sống độc
lập với người khác. Đời sống hàng ngày của chúng
ta lệ thuộc vào đủ mọi loại dịch vụ như nước và điện,
thương mại và nông nghiệp. Ta cũng liên hệ với người
khác qua tư tưởng và cảm xúc dù ta có nói ra hay không.
Các tình cảm này vẫn rất thực dù không được nói ra, và
chúng có thể tác động đến tư tưởng, tình cảm của người
khác. Đây là phước báu của sự chăm lo cho tha nhân.
Việc họ có cảm nhận được sự lo lắng ân cần này hay
không là một chuyện khác; điều quan trọng là ta cần phải
nuôi dưỡng những thiện ý ấy.
Tạo thiện nghiệp có nghĩa là luôn cẩn thận đề phòng những
sự tiêu cực len lỏi vào ý nghĩ, lời nói và hành động
của ta. Ta cần đặc biệt chú trọng đến ý nghĩ vì
đây là nơi mọi sự phát khởi. Tất cả mọi hành động
của ta đều đem lại hậu quả, có ảnh hưởng tới ta cũng
như tới người khác, và hầu hết mọi người đều tạo
các nghiệp tốt cũng như xấu. Hiếm khi có ai chỉ tạo
nên ác nghiệp, nhưng quá nhiều ác nghiệp sẽ đưa ta vào
vòng tù tội. Cũng hiếm khi có người chỉ tạo nên thiện
nghiệp trừ khi đó là những Bậc Giác Ngộ, trong trường
hợp đó họ không tạo ra bất cứ ác nghiệp nào bởi họ
không còn sống trong ảo tưởng của một tâm thức dựa trên
bản ngã.
Các tâm sở tiêu cực ảnh hưởng sâu đậm đến đời sống
tình cảm của ta và ta có thể ngăn ngừa chúng phát khởi
chỉ bằng cách chú ý đến các trạng thái tâm đang thay đổi
của mình. Đơn giản như thế, nhưng rất ít người thực
sự chú ý đến đời sống nội tâm của mình. Chỉ khi
nào ta thực sự thực tập chánh niệm một cách miên mật,
ta mới có thể cảm nhận được các trạng thái tâm tích
cực một cách đều đặn. Quán sát các tư tưởng, lời
nói và hành động của mình ngay trong khi ta đang thực hiện
chúng, không cản trở việc ta hoàn tất các bổn phận khác
trong đời sống hàng ngày. Trái lại, càng quán sát bản
thân, ta càng dễ chú tâm vào bất cứ những gì ta đang làm.
Nghiệp quả mà ta cảm nhận ảnh hưởng sâu xa đến những
tình cảm buồn vui của ta, và nếu quán sát chúng kỹ ta sẽ
dễ dàng thấy nguồn gốc chúng từ đâu đến: lý do tại
sao ta lại vui hay buồn. Sau đó, ta có thể thay đổi những
điều bất thiện trong tư tưởng, lời nói và hành động
mà ta đã làm, dẫn đến những trạng thái tiêu cực ấy,
nhưng ta chỉ có thể làm được như thế nếu ta có thể tự
nhìn mình như mình thực sự là mà thôi.
Trong các bài thuyết giảng, Đức Phật nhắc đi nhắc lại
về việc tạo thiện nghiệp. Ngài làm như thế vì, bao
giờ chúng ta còn nghĩ, như tất cả các chúng sinh vô minh khác,
rằng ta có một bản ngã, là ta còn tạo nghiệp với mỗi
niệm khởi lên trong tâm. Nhưng một khi đã hiểu được
điều này, ta sẽ trở nên có chánh niệm hơn với các suy
nghĩ của mình - và đây là điều quan trọng, dù ta không thể
nào kiểm soát được tất cả các niệm khởi lên trong tâm
ta.
Tránh những điều ác, tránh các thứ độc hại, hành thiện
không ngơi nghỉ. Đây thật là những phước báu lớn!
Ở đây kinh lại nói về nghiệp và các giới hạnh. Càng tinh
tấn trong việc tránh những điều mà lương tâm cho ta biết
là ác, và thực hiện các điều mà ta biết là thiện thì
chúng ta càng thọ hưởng được phước báu này. Quả
thật chính ta là kẻ ban cho mình cái phước đó. Và điều
này thật là tuyệt diệu -khi biết là tự mình có thể đạt
được hạnh phúc bằng nỗ lực của chính mình mà không cần
phải chờ đợi ai ban cho, không cần nghĩ là ta phải sở hữu
vật gì đó thì mới được hạnh phúc. Tất cả đều
ở trong ta.
Chúng ta đã có sẵn người hướng dẫn các hành động của
mình trong lương tâm và các cảm thức của ta. Tuy nhiên,
vấn đề phát khởi từ cách suy nghĩ rằng ta có các quyền
hạn đặc biệt, từ thái độ cho rằng, ‘Cái này thuộc
về tôi, nếu tôi không được, tôi cũng lấy’. Để
tránh làm những việc bất thiện, điều đầu tiên mà ta phải
học là phân biệt rõ ràng sự khác biệt giữa những điều
thiện và ác, và càng quán sát bản thân rốt ráo, ta càng
dễ làm việc này hơn.
Ta đã may mắn được sinh ra làm người, với những điều
kiện hết sức thuận lợi vì về phương diện vật chất,
ta chẳng thiếu thứ gì. Với những thuận lợi nhờ may
mắn như thế, ta có bổn phận xem việc phát triển tâm linh
như là một trọng tâm của đời mình thay vì thỏa mãn những
đòi hỏi không ngơi nghỉ của tâm vị kỷ mà hầu hết là
không cần thiết. Đức Phật dạy ta chỉ cần có bốn nhu
cầu căn bản: thức ăn, quần áo, chỗ ở và thuốc men.
Ngoài những thứ đó, mục đích duy nhất của đời người
là tận dụng cơ may này để tu tập phát triển tâm sáng suốt,
phát triển chánh niệm, để đến một ngày ta sẽ không còn
xem mình như một thực thể riêng biệt, một cá nhân độc
lập, mà là một phần của những gì đang đến và đi trong
thế giới quanh ta. Với sự hiểu biết về vai trò thực
sự của mình, ta sẽ thấy thật rõ ràng sự quan trọng của
việc dốc hết tâm trí vào việc phát triển tâm linh trong
kiếp sống này.
Kinh này giới thiệu những nguyên tắc căn bản và rõ ràng
nhất cho việc tu tập của ta. Những điều này chẳng
đòi hỏi khả năng hay tài nghệ gì đặc biệt hoặc mô tả
những gì bí ẩn. Chúng chỉ cho ta thấy cách sống ngày
qua ngày. Còn có gì hơn ngoài cuộc sống ta đang phải
sống hôm nay? Mỗi một ngày ta sống là tấ