28
TÔN GIÁO TRONG
THỜI ÐẠI KHOA HỌC
Hòa Thượng
Tiến Sĩ K. Sri Dhammananda
Ngày nay chúng ta
sống trong thời đại khoa học, hầu hết mọi khía cạnh của
cuộc đời đều bị ảnh hưởng bởi khoa học. Từ cuộc
cách mạng khoa học vào thế kỷ thứ Mười Bảy, khoa học
tiếp tục ảnh hưởng lớn lao đến những gì chúng ta nghĩ
và làm.
Sự va chạm của khoa học đặc
biệt mạnh mẽ với niềm tin truyền thống tôn giáo. Nhiều
quan tôn giáo niệm căn bản đang bị vỡ tan dưới áp lực
của khoa học hiện đại và không còn được chấp nhận đối
với người trí thức và người am hiểu. Không còn có thể
khẳng định chân lý chỉ bắt nguồn do ức đoán thần học
hay căn cứ vaò uy thế của kinh thánh biệt lập với nghiên
cứu khoa học. Thí dụ, những khám phá của những nhà tâm
lý hiện đại cho thấy tâm con người, giống như thân vật
chất, hành động theo luật nhân quả tự nhiên không cần
phải có sự hiện diện của một linh hồn bất biến như
dạy bởi một số tôn giáo.
Một số nhà tôn giáo thích không
đếm xỉa đến những khám phá khoa học vì những khám phà
này mâu thuẫn với giáo điều của họ. Tập quán tinh thần
ngoan cố này đương nhiên là một trở ngại cho sự tiến
bộ của loài người. Vì người hiện đại từ khước tin
tưởng bất cứ điều gì một cách mù quáng và cả đến
điều được truyền thống chấp nhận, những nhà tôn giáo
như thế chỉ làm tăng hàng ngũ những người không tin tưởng
tôn giáo bởi lý thuyết sai lầm của họ.
Mặt khác, một số các nhà tôn
giáo lại thấy cần thiết đem thích nghi những lý thuyết
khoa học được chấp thuận bằng cách đưa ra những lời
giải thích mới với niềm tin tôn giáo của họ. Một trường
hợp đáng kể là Thuyết Tiến Hóa của Darwin. Một số các
nhà tôn giáo xác nhận con người trực tiếp được tạo ra
bởi Thượng Ðế. Darwin, mặt khác, cho là con người tiến
hóa từ vượn người, một lý thuyết đảo lộn học thuyết
sáng tạo thiêng liêng và sự xuống thế của con người. Vì
tất cả những nhà tư duy sáng suốt đã chấp nhận thuyết
của Darwin, các nhà thần học không còn gì hơn để chọn
lựa ngoại trừ đưa ra một sự giải thích mới về học
thuyết của họ hầu phù hợp với lý thuyết này mà từ lâu
họ chống đối.
Dưới ánh sáng của những khám
phá khoa học hiện đại, không khó khăn gì hiểu rằng quan
điểm của nhiều tôn giáo về vũ trụ và đời sống chỉ
thuần là những tư tưởng qui ước và đã được thay thế
từ lâu. Thật ra mà nói là tôn giáo đã đóng góp vĩ đại
cho sự phát triển và tiến bộ của nhân loại. Tôn giáo đã
đặt ra những giá trị và tiêu chuẩn và hình thành những
nguyên tắc để hướng dẫn đời sống con người. Nhưng dù
cho tất cả những điều thiện đã làm, tôn giáo không thể
tồn tại trong thời đại khoa học hiện đại nếu những
tín đồ cứ bị bưng bít sự thật trong những khuôn mẫu
và giáo điều, khuyến khích nghi thức và một số lối tu
tập đã gần như mất hết ý nghĩa nguyên thủy.
Phật Giáo và Khoa Học
Cho tới đầu thế kỷ vừa qua,
Phật Giáo vẫn còn hạn chế tại những nước không dính
líu gì đến khoa học hiện đại. Tuy nhiên, ngay từ lúc khởi
đầu, giáo lý của Ðức Phật luôn luôn rộng mở cho sự
suy nghĩ của khoa học.
Một lý do tại sao giáo lý này lại
được dễ dàng chấp nhận bởi tinh thần khoa học là do Ðức
Phật không bao giờ khuyến khích niềm tin giáo điều cứng
nhắc. Ngài không cho rằng căn bản giáo lý của Ngài là do
tín ngưỡng, niềm tin, hay khải huyền nhưng cho phép được
uyển chuyển rộng rãi và tự do tư tưởng.
Lý do thứ hai là vì tinh thần khoa
học có thể tìm thấy trong cách giải quyết của Ðức Phật
về Chân Lý vũ trụ. Phương pháp khám phá và thử nghiệm
Chân Lý rất tương tự với phương pháp của khoa học. Khoa
học gia quan sát một cách khách quan thế giới bên ngoài, và
chỉ thiết lập lý thuyết khoa học sau nhiều lần thực nghiệm
có kết quả.
Sử dụng cách giải quyết tương
tự từ 25 thế trước đây, Ðức Phật quan sát thế giới
bên trong với tâm không luyến chấp, và khuyến khích đệ
tử không chấp nhận bất cứ giáo lý nào cho đến khi giáo
lý ấy được điều tra kỹ lưỡng và được tự mình kiểm
chứng sự thật. Giống như nhà khoa học hiện đại không
cho rằng sự thử nghiệm của mình không thể sao chép lại
bởi người khác, Ðức Phật không cho rằng kinh nghiệm giác
ngộ là độc quyền của Ngài. Vậy nên trong vấn đề tìm
cầu Chân Lý, Ðức Phật làm việc phân tích như khoa học
gia ngày nay làm. Ngài thiết lập một phương pháp thực tiễn,
khoa học tiến tới Chân Lý tối thượng và kinh nghiệm của
Giác Ngộ.
Trong khi Phật Giáo đi cùng đường
hướng với tinh thần khoa học và không làm sứt mẻ gì bề
mặt của thế giới bên trong con người, khoa học thì vẫn
không đúng khi đem đặt Phật Giáo ngang hàng với khoa học.
Quả đúng là những áp dụng thực tiễn của khoa học giúp
cho nhân loại sống cuộc đời tiện nghi hơn và đạt được
những điều kỳ lạ mà trước đây chỉ là điều mơ ước.
Khoa học đã làm cho con người bơi nhanh hơn cá, bay cao hơn
chim, và đi trên cung trăng. Tuy nhiên phạm vi kiến thức chấp
nhận được đối với trí tuệ khoa học qui ước bị giới
hạn vào bằng chứng theo lối kinh nghiệm. Và chân lý khoa
học lcũng bị thay đổi không ngừng. Khoa hoc không thể giúp
con người kiểm soát tâm mình được và cũng không thể cho
kiểm soát đạo đức và mục đích cuộc đời. Mặc dù có
tạo những sự kỳ diệu, đương nhiên khoa học có nhiều
giới hạn nhưng Phật Giáo vượt qua những giới hạn đó.
Giới Hạn Của Khoa Học
Ta thường nghe thấy rất nhiều
về khoa học và điều khoa học có thể làm được, và rất
ít về điều mà khoa học không làm được. Kiến thức khoa
học bị giới hạn vào dữ kiện nhận được do giác quan.
Khoa học không công nhận sự thực vượt qua dữ kiện giác
quan. Chân lý khoa học được xây dựng trên sự quan sát hợp
lý của giác quan - sự kiện luôn luôn thay đổi. Chân lý khoa
học, cho nên, chỉ tương đối đúng không đứng vững với
thời gian. Và khoa học gia nhận thức được sự kiện này,
lúc nào cũng muốn loại bỏ một lý thuyết và thay thế vào
một lý thuyết tốt hơn.
Khoa học cố gắng tìm hiểu thế
giới bên ngoài và hầu như không chạm đến thế giới bên
trong con người. Ngay cả đến khoa học tâm lý cũng không thực
sự thăm dò nguyên nhân nằm sau tinh thần lo âu của con người.
Khi một người bị dao động và chán ghét cuộc sống, và
thế giới bên trong của người ấy tràn ngâp những xáo trôn
và bất an, khoa học ngày này không trang bị gì để giúp người
ấy. Khoa học xã hội phục vụ cho môi sinh con người có thể
mang lại một mức độ hạnh phúc nào đó. Nhưng không giống
như con vật, con ngư?i cần nhiều hơn không chỉ là tiện nghi
vật chất mà cần sự giúp đỡ để đương đầu được
với dao động, đau khổ phát sinh từ kinh nghiệm hàng ngày.
Ngày nay nhiều người bị hành hạ
bởi sợ hãi, bồn chồn và bất an. Nhưng khoa học thất bại
không cứu giúp được họ. Khoa học không thể dạy một người
bình thường kiểm soát tâm, khi bị lôi cuốn bởi bản chất
thú tính thiêu đốt trong lòng họ.
Có thể nào khoa học làm con người
tốt hơn không? Nếu có thể được, tại sao những hành vi
bạo động và vô luân đầy dẫy tại các nước rất tiến
bộ về khoa học? Phải công bằng mà nói mặc dầu tiến bộ
khoa học đạt được, và những lợi nhuận ban cho con người,
khoa học vẫn không thay đổi nội tâm con người một cách
căn bản; nó chỉ làm tăng cường cảm nghĩ ỷ lại và thiếu
thốn? Thêm vào thất bại trong việc đem an ninh đến cho loài
người, khoa học làm mỗi người cảm thấy bất an bởi sự
đe dọa thế giới có thể toàn bộ bị tiêu diệt. Khoa học
không thể cung cấp mục đích cuộc đời có ý nghĩa. Nó cũng
không thể cho con người những lý do rõ ràng về cuộc sống.
Thực ra, khoa học rất thế tục do bản chất và không quan
tâm gì đến mục tiêu tinh thần của con người. Duy vật chủ
nghĩa vốn gắn liền với tư tưởng khoa học bác bỏ mục
tiêu tâm linh cao hơn sự thỏa mãn vật chất. Bởi lý thuyết
chọn lựa và chân lý tương đối, khoa học không để ý đến
những vấn đề thiết yếu nhất và để lại nhiều câu hỏi
không được trả lời. Chẳng hạn, khi hỏi tại sao có sự
bất bình đẳng vật chất và tinh thần hiện hữu giữa những
con người, không có câu giải nghĩa khoa học nào có thể trả
lời câu hỏi đó, câu hỏi này vượt qua giới hạn chật
hẹp của nó.
Ngu Có Học
Tâm siêu việt mở mang bởi Ðức
Phật không bị giới hạn vào giác quan - dữ kiện và vượt
qua cái hợp lý vương mắc trong phạm vi giới hạn của sự
nhận thức tương đối. Trí thông minh của con người, trái
lại, hoạt động trên cơ sở thông tin, nó thâu thập và tàng
trữ ở bất cứ lãnh vực tôn giáo, triết lý, khoa học hay
nghệ thuật. Thông tin cho tâm được thu thập qua giác quan,
giác quan này thấp kém trong nhiều đường lối. Thông tin giới
hạn nhận được làm sự hiểu biết của chúng ta về thế
giới bị bóp méo. Trong cuốn sách, Ngu Có Học, một học giả
người Pháp tên Nicholas tại Cusa nhận định:
"Tất cả kiến thức khoác lác của
chúng ta căn cứ trên giác quan quả thật là ngu dốt, và kiến
thức thực sự chỉ có thể đạt được bằng cách lột bỏ
tất cả hết điều này cho đến khi chúng ta suy nghĩ mà không
sử dụng ý kiến giác quan."
"Chân lý không lệ thuộc vào những
vấn đề bên ngoài mà chính trong phạm vi chúng ta. Chúng ta
không thể hy vọng tìm chân lý bằng thử nghiệm và nhận
thức giác quan và cả đến lý luận và lý lẽ. Có những
dụng cụ đạt kiến thức nhưng không phải là sự thật -
Chân lý. Chân lý phải đến từ sự nhận thức bên trong.
Sách vở chỉ có thể kích thích tư tưởng và cho bạn kiến
thức. Còn để tìm kiếm Chân lý bạn phải quay vào bên trong,
trong phạm vi của bạn. Cho nên, sự tìm kiếm kiến thức là
một việc, và sự tìm kiếm Chân lý lại là một việc khác."
Lời nói là sản phẩm của trí
óc có giới hạn và tất cả kiến thức của tâm chúng ta
tùy thuộc vào kinh nghiệm của giác quan. Những giác quan này
đôi khi không tin tưởng được; một việc xẩy ra chứng kiến
bởi nhiều người có thể giải thích nhiều cách khác nhau".
Một số người hãnh diện về việc
họ biết rất nhiều. Thực ra, chúng ta càng biết ít bao nhiêu,
chúng ta càng chắc chắn ở sự giải thích của chúng ta bấy
nhiêu; chúng ta càng biết bao nhiêu chúng ta càng nhận thức
thấy giới hạn của chúng ta bấy nhiêu.
Một học giả xuất sắc viết một
tác phẩm mà ông coi là một công trình tuyệt tác. Ông cảm
thấy cuốn sách của ông chứa tất cả những hạt ngọc văn
chưong và triết lý. Rất hãnh diễn về thành quả của mình,
ông đưa tác phẩm cho người bạn đồng nghiệp của ông,
vị này cũng là môt học giả lẫy lừng như ông, và yêu cầu
người đồng nghiệp hiệu đính lại cho ông. Thay vì kiểm
lại, ngươi đồng nghiệp yêu cầu tác giả viết xuống giấy
tất cả những gì ông biết và tất cả những gì ông không
biết. Tác giả ngồi xuống và bắt đầu suy nghĩ, nhưng sau
một hồi lâu ông không thể viết được gì về những điều
ông biết. Ông bèn quay về với câu hỏi thứ hai, và cũng
vậy, ông cũng khổng thể viết gì về những điều ông không
biết. Cuối cùng, khi cái tôi của ông đã hạ xuống, ông
đầu hàng, và biết rằng tất cả những gì ông biết thực
ra chỉ là ngu xuẩn.
Về phương diện này, Socrates, nhà
hiền triết Athenian nổi tiếng về thời cổ, đã nói như
sau khi được hỏi về điều ông biết: "Tôi chỉ biết một
điều - đó là điều tôi không biết".
Vượt Qua Khoa Học
Phật Giáo vượt qua khoa học hiện
đại trong việc chấp nhận lãnh vực kiến thức rộng lớn
hơn kiến thức được chấp nhận phép bởi trí tuệ khoa học.
Phật Giáo chấp nhận kiến thức phát xuất từ giác quan cũng
như từ kinh nghiệm bản thân đạt được do sự rèn luyện
tinh thần. Bằng cách tập luyện và phát triển tâm trí tập
trung cao độ, kinh nghiệm tôn giáo có thể được hiểu biết
và kiểm chứng. Kinh nghiệm tôn giáo không phải là điều
có thể hiểu được bằng cách thử nghiệm trong một ống
nghiệm hay quan sát dưới kính hiển vi.
Chân lý khám phá ra bởi khoa học
chỉ tương đối và lệ thuộc vaò sư thay đổi, nhưng Chân
lý khám phá ra bởi Ðức Phật là không thể thay đổi được
nữa và tuyệt đối. Chân lý của Pháp không thay đổi theo
thời gian và không gian. Hơn nữa trái với lý thuyết chọn
lựa của khoa học, Ðức Phật khuyên người trí không nên
bám víu vào lý thuyết, khoa học hay lãnh vực nào khác. Thay
vì lý thuyết, Ðức Phật khuyên nhân loại làm sao sống một
cuộc đời chính đáng bằng cách làm lắng dịu giác quan,
quẳng đi những ham muốn, Ðức Phật nhấn mạnh vào phương
cách mà ta có thể tự khám phá ra bản chất của đời sống.
Và mục đích thực sự của đời sống có thể tìm ra được.
Tu tập rất quan trọng trong Phật
Giáo. Một người học nhiều nhưng không thực hành thì chẳng
khác gì đọc được công thức từ một cuốn gia chánh to
lớn mà không cố gắng nấu một món nào. Cái đói của người
ấy không hết được chỉ bằng kiến thức trên sách vở.
Thực hành là sự tiên quyết quan trọng cho giác ngộ trong
một số trường phái Phật Giáo, như Thiền (Zen), tu tập phải
đặt trước kiến thức.
Phương pháp khoa học chỉ hướng
về bên ngoài, và những khoa học gia hiện đại khai thác thiên
nhiên và những yếu tố tự nhiên để phục vụ tiện nghi
của họ, đôi khi không để ý gì đến nhu cầu hòa hợp với
môi trường, và do đó làm ô nhiễm thế giới Trái lại, Phật
Giáo hướng vào bên trong, quan tâm đến sự phát triển nội
tâm. Ở mức độ thấp hơn, Phật giáo dạy một cá nhân làm
sao điều chỉnh và đương đầu với những biến cố và hoàn
cảnh trong đời sống hàng ngày. Ở mức độ cao hơn, Phật
Giáo tượng trưng sự nỗ lực phát triển vượt qua bản thân
nhờ sự tu tập trau dồi tinh thần hay phát triển tâm trí.
Phật Giáo có hệ thống huấn luyện
tinh thần đầy đủ liên quan với việc đạt tuệ giác đối
vào bản chất của sự vật dẫn đến sự chứng đắc hoàn
toàn Chân Lý Tối Thượng: Niết Bàn. Hệ thống này vừa thực
tiễn vừa khoa học, nó đòi hỏi sự quan sát vô tư trạng
thái xúc cảm và tinh thần. Giống như một khoa học gia hơn
là một quan tòa, người tu thiền quan sát thế giới bên trong
với sự chú tâm.
Khoa Học Không Tôn Giáo
Không có lý tưởng đạo đức,
khoa học là mối nguy cho nhân loại. Khoa học làm ra máy móc,
máy móc trở thành chúa tể. Ðạn và bom là tặng phẩm của
khoa học. Có một số có quyền uy mà số phận của thế giới
tùy thuộc vào. Trong khi phần nhân loại còn lại chờ đợi
trong thống khổ và sợ hãi, không biết khi nào những vũ khí
nguyên tử, hơi độc, những vũ khí giết người - tất cả
những thành quả nghiên cứu khoa học được thiết kế để
giết chóc cho hữu hiệu - sẽ được sử dụng với họ. Khoa
học không thể hướng dẫn tinh thần cho nhân loại, khoa học
còn đổ dầu vào ngọn lửa tham dục của con người.
Khoa học không đạo đức chỉ có
nghĩa phá hoại: nó trở thành quái-vật tàn bạo do con người
khám phá ra. Và bất hạnh thay, con quái vật này càng ngày
càng mạnh hơn chính con người. Trừ phi con người học hỏi
cách kiềm chế và ngự trị con quái vật ấy qua thực hành
luân lý tôn giáo, nếu không con quái vật ấy sẽ áp đảo
con người. Không có hướng dẫn đạo giáo, khoa học đe dọa
tiêu diệt thế giới. Trái lại, khoa học đi đôi với một
tôn giáo như Phật Giáo có thể thay đổi thế giới này thành
thiên đường hòa bình, an ổn và hạnh phúc.
Không lúc nào bằng lúc này, sự
hợp tác giữa khoa học và tôn giáo lại cần thiết đến
thế cho lợi ích và phục vụ tốt nhất cho nhân loại. Tôn
giáo không khoa học thì mù quáng, trong khi khoa học không tôn
giáo thì khập khiễng.
Tán Thán Phật Giáo
Trí tuệ Phật Giáo xây dụng trên
từ bi có một vai trò sống còn trong việc sửa lại mục tiêu
nguy hiểm khoa học hiện đại đang hướng về. Phật Giáo
có thể cung cấp sự lãnh đạo tinh thần để hướng dẫn
nghiên cứu khoa học và phát minh hứa hẹn một tương lai rực
rỡ. Phật Giáo có thể cung cấp mục tiêu có giá trị cho
khoa học tiến bộ hiện đang phải đối đầu với một ngõ
cụt vô vọng của sự bị bị nô dịch hóa bởi những phát
minh.
Albert Einstein tán thán Phật Giáo
khi ông nói: "Nếu có một tôn giáo nào có thể đáp ứng với
nhu cầu khoa học hiện đại, thì tôn giáo đó phải là Phật
Giáo" Phật Giáo không cần phải xét lại để cập nhật hóa
với những khám phá mới của khoa học.
Phật Giáo không cần phải đầu
hàng quan điểm cho khoa học vì Phật Giáo bao gồm cả khoa
học cũng như vượt qua khoa học. Phật Giáo là cây cầu nối
tư tưởng đạo lý và tư tưởng khoa học bằng cách khuyến
khích con người khám phá ra tiềm năng tiềm ẩn trong tâm và
môi trường chung quanh. Phật Giáo lúc nào cũng hợp thời!