26
NGUYÊN THỦY
- ÐẠI THỪA PHẬT GIÁO
Hòa Thượng
Tiến Sĩ W. Rahula
Hãy để cho chúng
ta bàn luận về câu hỏi thường được hỏi bởi nhiều người:
Sự khác biệt giữa Ðại Thừa và Nguyên Thủy Phật Giáo
như thế nào? Muốn nhìn sự vật theo đúng toàn cảnh, chúng
ta hãy quay về lịch sử Phật Giáo và truy nguyên sự hình
thành và sự phát triển của Ðại Thừa và Nguyên Thủy Phật
Giáo.
Ðức Phật sanh vào thế kỷ Thứ
6 trước Công Nguyên. Sau khi đạt giác ngộ vào năm 35 tuổi
cho đến khi Ngài Nhập Niết Bàn vào năm 80 tuổi, Ngài thuyết
giáo và giảng dạy suốt những năm tháng đó. Chắc chắn
Ngài là một trong những người nhiều nghị lực nhất chưa
từng thấy: 45 năm trường Ngài giảng dạy ngày đêm, và chỉ
ngủ khoảng 2 giờ một ngày.
Ðức Phật tiếp xúc với tất cả
mọi hạng người, vua và hoàng tử, Bà La Môn, nông dân, kẻ
ăn xin, người học thức người bình thường. Giáo lý của
Ngài được thực hiện theo kinh nghiệm, mức hiểu biết và
khả năng tinh thần của người nghe Pháp. Ðiều Ngài dạy
gọi là Vicana hay lời Phật dạy. Không có cái gì gọi là
Nguyên Thủy hay Ðại Thừa thời bấy giờ.
Sau khi thành lập Ðoàn Thể Chư
Tăng và Chư Ni, Ðức Phật đặt ra một số luật lệ gọi
là Giới Luật để hướng dẫn các Ðoàn Thể này. Phần còn
lại giáo lý của Ngài gọi là Pháp gồm có những bài giảng,
những bài thuyết pháp cho các tăng, các ni và người cư sĩ.
Ðại Hội Kiết Tập Lần Thứ
Nhất
Sau khi Ðúc Phật nhập Niết Bàn
được ba tháng, những đệ tử thân cận của Ngài triệu
tập một hội nghị tại Rajagaha (Thành Vương Xá). Ngài Ma
Ha Ca Diếp, người được trọng vọng nhất mà cũng là bậc
trưởng lão, là chủ tịch Hội Nghị. Hai nhân vật quan trọng
chuyên về hai lĩnh vực khác nhau - Pháp và Luật - đều có
mặt. Một người là Ngài Ananda (A Nan), người đệ tử thân
cận nhất (thị giả) của Ðức Phật trong suốt 25 năm. Thiên
phú với một trí nhớ xuất sắc, Ngài A Nan có thể đọc
lại những gì Ðức Phật nói. Nhân vật kia là Ngài Upali (U
Bà Li) nhớ được tất cả những Giới Luật.
Chỉ hai phần - Pháp và Luật được
đọc lại tại Ðại Hội Lần Thứ Nhất. Tuy không có nhiều
ý kiến dị biệt về Pháp (không nói đến Vi Diệu Pháp),
có một số thảo luận về Luật. Trước khi Ðức Phật nhập
Niết Bàn, Ngài có nói với Ngài A Nan nếu Ðoàn Thể Tăng
Già muốn tu chính hay thay đổi một số luật thứ yếu, họ
có thể làm được. Nhưng vào lúc đó, Ngài A Nan vì quá lo
lắng vì Ðức Phật sắp ra đi nên không hỏi những luật
thứ yếu ấy là gì. Vì các thành viên trong Hội Nghị không
đi đến thỏa thuận những luật nào là luật thứ yếu nên
Ngài Ma Ha Ca Diếp quyết định không có luật lệ nào đặt
ra bởi Ðức Phật được thay đổi, và cũng không luật lệ
mới nào được đưa ra. Không có lý do thực chất nào được
đưa ra. Tuy nhiên Ngài Ma Ha Ca Diếp có nói một câu: "Nếu
ta thay đổi luật, người ta sẽ nói đệ tử của Ðức Cồ
Ðàm thay đổi luật lệ trước khi ngọn lửa thiêu Ngài chưa
tắt".
Tại Hội Nghị này, Pháp được
chia ra làm nhiều phần và mỗi phần được trao cho một vị
trưởng lão cùng với đệ tử của vị ấy để ghi nhớ.
Pháp được truyền khẩu từ thầy đến trò. Pháp thường
được tụng niệm hàng ngày bởi một nhóm người thường
được phối kiểm lẫn nhau để bảo đảm không có sự thiếu
sót cũng như không có gì thêm vào. Các sử gia đều đồng
ý truyền thống truyền khẩu đáng tin cậy hơn văn bản của
một người viết lại vài năm sau Hội nghị dựa theo trí
nhớ của mình.
Ðại Hội Kiết Tập Lần Thứ
Hai
Một trăm năm sau, Ðại Hội Kiết
tập lần thứ hai đẻ bàn luận về một số giới luật.
Không cần thiết phải thay đổi những giới luật ba tháng
sau khi Ðức Phật nhập Niết Bàn vì lẽ không có gì thay đổi
nhiều về chính trị, kinh tế và xã hội trong khoảng thời
gian ngắn này. Nhưng 100 năm sau, một số các thầy tu nhận
thấy cần phải có sự thay đổi với một số giới luật
thứ yếu. Những nhà sư chính thống nói không có gì phải
thay đổi trong khi những nhà sư khác khăng khăng xin thay đổi
một số giới luật. Cuối cùng, một số nhà sư bỏ Ðại
Hội và thành lập Mahasanghika - Ðại Chúng Bộ. Dù được
gọi là Mahasanghika, cũng không phải là Mahayana (Ðại
Thừa). Trong Ðại Hội Kiết Tập lần thứ hai, chỉ có những
vấn đề liên quan đến giới luật được đem bàn cãi và
không có gì tranh cãi về Pháp như đã được ghi nhận.
Ðại Hội Kiết Tập Lần Thứ
Ba
Vào thế kỷ thứ ba trước Công
Nguyên, trong thời Hoàng Ðế A Dục, Ðại Hội Kiết Tập lần
thứ ba được triệu tập để bàn thảo về những ý kiến
dị biệt giữa những tỳ-kheo của nhiều phái khác nhau. Tại
Ðại Hội này những dị biệt không chỉ hạn hẹp trong Giới
Luật mà cũng liên quan tới Pháp nữa. Lúc kết thúc Hội Nghị,
Ngài Moggaliputta Tissa, tổng hợp vào một cuốn sách gọi là
Kathavatthu bác bỏ những quan điểm và lý thuyết dị giáo
và sai lầm của một số giáo phái. Giáo lý được phê chuẩn
và chấp thuận bởi Ðại Hội được biết là Theravada (Nguyên
Thủy). Vi Diệu Pháp được bao gồm trong Ðại Hội này.
Sau Ðại Hội Kiết Tập lần thứ
ba, người con Vua A Dục, Ngài Hòa Thượng Mahinda, mang Tam Tạng
Kinh Ðiển đến Sri Lanka, cùng với những lời bình luận được
đọc tại Ðại Hội này. Những kinh điển được mang về
Sri Lanka vẫn được gìn giữ cho tới ngày nay không mất một
trang nào. Những kinh điển này được viết bằng tiếng Pali
căn cứ vào ngôn ngữ của Magadhi (xứ Ma Kiệt Ðà) là ngôn
ngữ của Ðức Phật. Không có cái gì gọi là Ðại Thừa
vào thời bấy giờ.
Ðại Thừa Xuất Hiện
Giữa thế kỷ thứ nhất truớc
Công Nguyên và thế kỷ thứ nhất sau Công Nguyên, hai cụm
từ Mahayana (Ðại Thừa) và Hinayana (Tiểu Thừa) xuất hiện
trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa hay Kinh Pháp Hoa.
Vào khoảng thế kỷ thứ hai sau
Công Nguyên, Mahayana (Ðại Thừa) được định nghĩa rõ ràng
. Ngài Long Thọ triển khai triết học tánh "Không" của Ðại
Thừa và chứng minh tất cả mọi thứ đều là "Không" trong
một bộ luận ngắn gọi là Madhyamika-Karika (Trung Quán Luận).
Vào khoảng thế kỷ thứ tư, Ngài Vô Trước và Thế Thân
viết nhiều tác phẩm về Ðại Thừa. Sau thế kỷ thứ nhất
sau Công Nguyên, những nhà Phật Giáo Ðại Thừa, giữ vững
lập trường rõ ràng này, và rồi cụm từ Ðại Thừa và
Tiểu Thừa được nói đến.
Chúng ta không nên lẫn lộn Hinayana
(Tiểu Thừa) với Theravada (Nguyên Thủy) vì những từ ngữ
này không đồng nghĩa. Theravada (Nguyên Thủy) Phật Giáo nhập
vào Sri Lanka vào thế kỷ thứ ba trước Tây Nguyên lúc đó
không có Ðại Thừa gì cả. Phái Tiểu Thừa phát triển tại
Ấn Ðộ có một bộ phận độc lập với dạng thức Phật
Giáo tại Sri Lanka. Ngày nay không có phái Tiểu Thừa hiện
hữu tại nơi đâu trên thế giới nữa. Cho nên, vào năm 1950
Ðại Hội Phật Giáo Thân Hữu Thế Giới khai mạc tại Colombo,
đồng nhất trí quyết định bỏ hẳn từ ngữ Hinayana (Tiểu
Thừa) khi nói đến Phật Giáo hiện hữu tại Sri Lanka, Thái
Lan, Miến Ðiện, Cao Miên, Lào vân vân... Trên đây là sơ lược
lịch sử Nguyên Thủy, Ðại Thừa và Tiểu Thừa.
Ðại Thừa và Nguyên Thủy
Bây giờ, sự khác biệt giữa Ðại
Thừa và Nguyên Thủy như thế nào?
Tôi đã nghiên cứu nhiều năm Ðại
Thừa và càng nghiên cứu bao nhiêu tôi lại càng thấy khó
có khác biệt giữa Ðại Thừa và Nguyên Thủy khi nhìn vào
giáo lý căn bản.
* Cả hai đều công nhận
Ðức Phật Thích Ca là Bậc Ðạo Sư.
* Tứ Diệu Ðế đếu đúng như
vậy với cả hai trường phái.
* Bát Chánh Ðạo cũng y như nhau
ở hai trường phái.
* Lý Duyên Sinh hay Lý Duyên Khởi
cũng y như nhau tại hai trường phái.
* Cả hai đều bác bỏ ý kiến
về một đấng tối thượng sáng tạo và thống trị thế
giới này.
* Cả hai đều công nhận Vô thường,
Khổ, Vô Ngã, và Giới, Ðịnh, và Huệ như nhau không có gì
khác biệt.
Trên đây là những giáo lý quan trọng
nhất của Ðức Phật và đều được chấp nhận bởi cả
hai trường phái không thắc mắc.
Cũng có một vài điểm khác biệt.
Một điều dị biệt ấy là lý tưởng Bồ Tát. Nhiều người
nói rằng Ðại Thừa chỉ con đường Bồ Tát Ðạo đẫn đến
Thành Phật (Giác Ngộ) trong khi Nguyên thủy dẫn đến A La
Hán. Tôi phải nhấn mạnh là Ðức Phật cũng là một A La
Hán. Bích Chi Phật cũng là một A La Hán. Một đệ tử có
thể trở thành bậc A La Hán. Kinh Ðiển Ðại Thừa không bao
giờ dùng cụm từ Arahant-Yana, Cỗ xe A La Hán. Kinh Ðiển Ðại
Thừa dùng ba từ: Bodhisatvayana (Bồ Tát Thừa), Prateka-Buddhayana
(Duyên Giác Thừa), và Sravakayana (Thinh Văn Thừa). Trong truyền
thống Nguyên Thủy, ba từ trên được gọi là Bodhis (Giác
ngộ).
Một số người nghĩ rằng Nguyên
Thủy ích kỷ vì Nguyên Thủy dạy ta nên tìm kiếm sự giải
thoát cho chính mình. Nhưng một người ích kỷ làm sao có thể
đạt giác ngộ? Cả hai trường phái đều chấp nhận ba Thừa
hay Giác Ngộ nhưng coi Bồ Tát là lý tưởng cao nhất. Ðại
Thừa tạo nhiều Bồ Tát huyền bí trong khi Nguyên Thủy coi
Bồ Tát như một người như chúng ta nhưng hiến dâng cả đời
mình để đạt toàn thiện, chủ yếu trở thành một Ðức
Phật giác ngộ hoàn toàn cho phúc lợi và hạnh phúc của thế
giới.
Tam Ðẳng Phật
Có ba đẳng Phật: Samma Sambuddha
(Ðức Chánh Ðẳng Chánh Giác) đạt giác ngộ hoàn toàn bằng
nỗ lực của chính mình, Pacceka Buddha (Bích Chi Phật) phần
đức hạnh kém hơn Ðức Phật Chánh Ðẳng Chánh Giác, và
Savaka Buddha (Thinh Văn Phật), môn đồ của A La Hán thành Phật.
Ðạt Niết Bàn giữa ba đẳng Phật này hoàn toàn giống nhau.
Ðiều khác biệt duy nhất là Ðức Phật Chánh Ðảng Chánh
Giác có nhiều Ðức Tính và khả năng hơn hai Ðức Phật kia.
Một số người nghĩ rằng tánh
Không hay Sunyata bàn luận bởi Ngài Long Thọ là giáo
lý hoàn toàn Ðại Thừa. Nó căn cứ vào tư tưởng vô ngã
hay không có cái ta, trong Lý Duyên Sinh hay Lý Duyên Khởi, tìm
thấy trong những Kinh Ðiển Nguyên Thủy bằng tiếng Pali. Một
dịp Ngài A Nan hỏi Ðức Phật: "Người ta nói tiếng Không,
Vậy Không là gì, thưa Ðức Thế Tôn?" Ðức Phật trả lời
"Này A Nan, không có cái ta, không có gì của ta trên thế giới
này. Cho nên, thế giới rỗng không". Ngài Long Thọ lấy ý
kiến này khi Ngài viết tác phẩm nổi tiếng, bộ "Trung Quán
Luận". Ngoài ra tư tưởng tánh Không là quan niệm "A lại gia
thức" của Phật Giáo Ðại Thừa mà mầm giống của nó từ
những kinh điển Nguyên Thủy. Những nhà Ðại Thừa đã triển
khai tư tưởng này thành một tâm lý và triết lý sâu sắc.