20
CÓ PHẢI NGƯỜI
PHẬT TỬ SÙNG BÁI THẦN TƯỢNG KHÔNG?
Tiến Sĩ
K. Sri Dhammananda
Ðối Tượng Của Sự Tôn Kính.
Trong mọi tôn giáo,
có một số đối tượng hay biểu tượng về mục đích tôn
kính. Trong Phật Giáo có ba đối tượng tôn giáo chính về
mục đích này:
* Saririka (Xá Lợi) hay di
vật (tro cốt) xác thân Ðức Phật;
* Uddesika hay biểu tượng tôn giáo
như hình ảnh Ðức Phật, Tịnh Xá hay Chùa;
* Paribhogika hay những vật dụng
cá nhân Ðức Phật sử dụng.
Truyền thống của người Phật Tử
trên khắp thế giới bầy tỏ lòng tôn kính với những vật
thể này. Cũng có một truyền thống Phật Giáo là xây dựng
hình ảnh của Ðức Phật, Tịnh Xá, hay Chùa, trồng cây Bồ
Ðề tại mỗi Chùa dùng làm đối tượng tôn giáo để tôn
kính.
Nhiều người có cảm tưởng người
Phật Tử cầu nguyện thần tượng. Ðiều này là do sự thiếu
hiểu biết giáo lý của Ðức Phật, thiếu kiến thức về
tập tục và truyền thống Phật Giáo.
Thần tượng có nghĩa là xây dựng
hình ảnh một sồ thần hay nữ thần dưới nhiều hình thức
bởi người mộ đạo để cầu nguyện, để được ban phước
che chở, sức khỏe, của cải, thịnh vượng, một sự thực
hành thấy có trong một số tôn giáo hữu thần. Một số cầu
xin với thần tượng ban cho một số ưu đãi cá nhân thậm
chí ở mức phạm các hành vi bất thiện. Họ cũng xin được
tha thứ những tội lỗi họ vi phạm.
Sự thờ cúng Phật là một khía
cạnh khác hẳn. Thậm chí từ "thờ cúng" hoàn toàn không thích
đáng theo quan điểm Phật Giáo. Bày tỏ lòng tôn kính mới
thật đúng. Người Phật Tử thường không cầu nguyện hình
ảnh và thần tượng; điều họ làm là bày tỏ lòng tôn kính
với vị đại đạo sư đáng được tôn vinh. Những hình ảnh
được tạo dựng biểu hiện sự kính trọng và cảm kích
trước sự đạt được giác ngộ cao và toàn hảo nhất của
một đạo sư phi thường. Với người Phật Tử, hình ảnh
chỉ là một biểu hiện, một biểu tượng, một tượng trưng
giúp cho họ nhớ đến hay tưởng nhớ Ðức Phật.
Người Phật Tử quỳ trước hình
ảnh và tỏ lòng tôn kính cái mà hình ảnh ấy tượng trưng.
Họ không tìm cầu ân huệ trần tục từ hình ảnh ấy. Họ
suy ngẫm và thiền định để được sự cảm hứng từ cá
tính cao thượng của Ngài. Họ cố gắng tích cực kiện toàn
bằng cách theo giáo lý cao thượng của Ngài. Người Phật
Tử kính trọng đức hạnh vĩ đại và tính cách thiêng liêng
của vị đạo sư như hình ảnh tượng trưng. Thực ra tín
đồ của mỗi tôn giáo tạo những hình ảnh của các đạo
sư tôn giáo của họ hoặc trong dạng thức thị giác hay dạng
hình ảnh tinh thần để tôn thờ; cho nên không hẳn đúng
hay chính đáng khi phê bình người Phật Tử thờ cúng thần
tượng.
Hành động bày tỏ tôn kính Ðức
Phật, không phải là một hành động căn cứ vào sợ hãi,
hay một hành động van xin của cải trần tục. Người Phật
Tử tin đó là một hành động đáng khen và một phước đức
nếu họ tôn vinh và kính trọng những đức hạnh vĩ đại
của người thầy thông thái của họ. Người Phật Tử cũng
tin tưởng chính họ chịu trách nhiệm sự giải thoát của
họ và không nên tùy thuộc vào bên thứ ba. Tuy nhiên có những
người khác tin tưởng họ có thể đạt giải thoát qua ảnh
hưởng của một hình ảnh và đây chính là những người
tạo cảm tưởng cho những người khác nhận xét châm biếm
hạ thấp người Phật Tử cho rằng họ tôn thờ thần tượng,
cầu nguyện một người đã chết và ra đi từ lâu. Xác thân
của một người có thể tan rã và và hòa tan vào bốn yếu
tố (đất, nước, gió, lửa) nhưng đức hạnh của người
ấy vẫn còn mãi mãi. Người Phật Tử đánh giá cao và tôn
trọng những đức hạnh đó. Cho nên, luận điệu chống lại
người Phật Tử quả là đáng tiếc, hoàn toàn sai và không
đáng.
Từ giáo lý, chúng ta biết Ðức
Phật là một vị thầy đã chỉ con đường chính đáng để
giải thoát nhưng việc này tùy thuộc tín đồ có sống một
cuộc đời đạo lý và thanh tịnh tâm trí hay không để đạt
được tình trạng ấy mà không tùy thuộc vào bậc đạo sư.
Theo Ðức Phật, không có Thượng Ðế hay một đạo sư nào
khác có thể đưa người lên thiên đường hay xuống địa
ngục. Con người tạo thiên đường hay địa ngục cho chính
mình do tư tưởng, lời nói và hành động của mình. Cho nên
cầu nguyện bên thứ ba để được giải thoát mà không loại
bỏ những tư tưởng tội lỗi trong tâm cũng chẳng ích lợi
gì. Tuy nhiên có những người ngay cả những người Phật
Tử, trong khi cầu nguyện theo truyền thống trước hình ảnh,
đem những khó khăn, bất hạnh và trở ngại cầu xin Ðức
Phật giúp họ thoát khỏi vấn đề.
Mặc dù không phải là một sự
tu tập thực sự Phật giáo, nhưng những hành động mộ đạo
như vậy cũng đạt được một tâm trạng khuây khỏa và cảm
hứng cho người cầu xin khiến họ có can đảm và quyết tâm
giải quyết khó khăn. Việc này cũng là một lệ thường ở
nhiều tôn giáo khác. Nhưng với những người có thể hiểu
biết nguyên nhân căn bản của vấn đề, họ không cần cầu
đến những sự thực hành như vậy. Khi người Phật Tử tỏ
bày lòng tôn kính Ðức Phật, họ tôn vinh Ngài bằng cách
tụng một số câu kệ dẫn giải những đức hạnh thuở xưa
của Ngài. Những câu kệ này không phải là lời cầu nguyện
trong ý nghĩa cầu Thượng Ðế hay thần thánh rửa sạch tội
lỗi cho họ. Những câu kệ này có ý nghĩa đơn giản là tỏ
bày lòng tôn vinh bậc đạo sư vĩ đại đã đạt giác ngộ
và giải phóng nhân loại đi tới một lối sống đặc biệt
vì lợi ích của toàn thể nhân loại. Người Phật Tử tôn
kính vị đạo sư của họ để bày tỏ lòng tri ân trong khi
những người khác cầu nguyện và van vái vì lợi lộc và
của cải. Ðức Phật khuyên chúng ta "hãy vinh danh những người
đáng tôn kính". Cho nên người Phật Tử kính và vinh danh bất
cứ vị đạo sư nào đáng được tôn kính.
Thay vì cầu nguyện, người Phật
Tử tu tập thiền định để huấn luyện tâm và kỷ luật
tự giác. Về mục đích của thiền định, đối tượng rất
cần thiết; không có đối tượng không dễ dàng gì có thể
tập trung được. Ðôi khi người Phật Tử dùng hình ảnh
Ðức Phật như một đối tượng để có thể tập trung hầu
huấn luyện tâm.
Trong những đối tượng về thiền
định, đối tượng thị giác có một tác động tốt hơn
cho tâm. Trong năm giác quan, đối tượng đư?c hiểu qua nhãn
thức có ảnh hưởng lớn vào tâm hơn những đối tượng
được hiểu qua các giác quan khác. Cho nên đối tượng được
hiểu qua cơ quan mắt giúp thành tựu tốt hơn và tập trung
dễ dàng hơn.
Hình ảnh là tiếng nói của tiềm
thức. Cho nên nếu hình ảnh của Ðấng Giác Ngộ được phản
ảnh trong tâm như hiện thân của người toàn hảo, phản ảnh
như vậy sẽ đi sâu vào tiềm thức và nếu nó đủ mạnh
sẽ hành hoạt như cái thắng (phanh) tự động chống lại
những thôi thúc tội lỗi.
Hình ảnh của Ðức Phật là một
đối tượng thị giác có một tác động mạnh vào tâm: sự
nhớ lại những thành quả của Ðức Phật tạo niềm vui,
làm cho tâm hăng hái khiến con người thoát khỏi tình trạng
bồn chồn, căng thẳng và thất vọng.
Một trong những ý muốn của Như
Lai Thiền về Ðức Phật là tạo một cảm nghĩ thành sùng
bái và tin tưởng nơi Ðức Phật bằng nhận thức và cảm
nhận sự vĩ đại của Ngài. Cho nên, thờ cúng hình ảnh Ðức
Phật là để tập trung và không nên coi là sùng bái thần
tượng mà là một hình thức lý tưởng của thờ cúng.
Kính Chào
Một vài câu kệ mà người Phật
Tử tụng để tưởng nhớ đến vị đại đạo sư của họ
để tỏ niềm cung kính tri ân, tán thán Ðức Phật như sau:
Namo Tassa Bhagavato Arahato Samma
Sambudhassa -
"Vinh Danh Ngài, Ðấng Thiện Thệ,
Ðấng Thế Tôn, Ðấng Ðại Giác"
Thêm nữa họ tụng một vài câu
kệ giải thích những đức tính và đức hạnh vĩ đại của
Ðức Phật như:
"Iti pi so Bhagava Araham Samma Sambuddho
Vijjacarana-sampanno Sugato Lokavidu Anuttara Purisa Damma-sarathi Sattha
Deva Manussanam Buddho Bhavaga ti"
Những câu tụng này bằng tiếng
Pali, bạn có thể tụng bằng bất cứ ngôn ngữ nào mà bạn
có thể hiểu được. Chuyển ngữ sang Việt Văn có nghĩa là:
"Như vậy, đương nhiên Như Lai
là Ðấng Thiện Thệ, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh
Túc, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu,
Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn".
Một Câu Chuyện Phật Giáo
Ðây là một câu chuyện giúp chúng
ta hiểu tại sao hình ảnh Ðức Phật lại quan trọng để
gây cảm hứng và hồi tưởng Ðức Phật trong tâm ý. Câu
chuyện này được tìm thấy trong tài liệu Phật Giáo nhưng
không phải trong Tam Tạng Kinh Ðiển.
Vài trăm năm sau khi Ðức Phật nhập
diệt, có một thầy tu sùng đạo tại Ấn Ðộ tên là Upagupta.
Ngài là một nhà thuyết giảng rất nổi tiếng thời bấy
giờ. Bất cứ lúc nào Ngài thuyết pháp, hàng ngàn người
tụ tập đến nghe Ngài giảng.
Một ngày nọ, Mara, ma vương ganh
ghét về sự nổi tiếng của Hòa Thượng Upargupta. Mara biết
Upagupta nổi tiếng trong việc hoằng dương giáo lý của Ðức
Phật. Mara không vui khi thấy lời dạy của Ðức Phật tràn
ngập trong lòng và tâm trí của mọi người. Cho nên Mara đã
dùng một phương pháp xảo quyệt nhằm ảnh hưởng người
nghe. Ma vuơng lập kế hoạch để không cho người dân đến
nghe Ngài Upagupta thuyết pháp. Một hôm, khi Ngài Upagupta bắt
đầu thuyết pháp, Mara tổ chức diễn kịch ngay kế chỗ Ngài
Upagupta thuyết pháp. Một sân khấu đẹp đẽ đư?c dựng lên.
Có những vũ nữ rất đẹp và những nhạc sĩ chơi nhạc sống.
Những người nghe thuyết pháp không
bao lâu quên những lời giảng và chạy sang chỗ trình diễn
để thưởng ngoạn. Upagupta thấy đám đông tan rã. Ngài quyết
định theo đám người này. Sau đó Ngài quyết định dạy
Mara một bài học.
Khi cuộc trình diễn chấm dứt,
Upagupta tặng Mara một vòng hoa.
"Upagupta nói: "Ông đã tổ chức
một buổi trình diễn tuyệt vời.
Ðương nhiên, Mara rất sung sướng
và hãnh diện về thành quả của mình. Mara nhận vòng hoa do
Upagupta trao tặng và kiêu căng ngẩng cao đầu.
Ðột nhiên việc xẩy ra: vòng hoa
biến thành một cuộn dây như con rắn cuộn tròn. Từ từ
cuộn dây này quấn lấy cổ Ma Vương và siết chặt. Bị siết
chặt cổ, ma vương đau quá muốn gỡ cái dây ra. Dù đã hết
sức cố gắng, nhưng hắn không làm sao tháo được dây ra.
Hắn quyết định tìm đến Sakka, Vua của các thần để nhờ
tháo cái dây ra. Sakka cũng không lấy được cuộn dây ra khỏi
cổ hắn. Sakka nói: "Ta không thể lấy ra được người hãy
tìm đến Maha Brahma, một người có sức mạnh nhất".
Mara bèn tìm đến Maha Brahma và xin
giúp đỡ nhưng Maha Brahma cũng không thể làm gì được. Maha
Brahma khuyên Mara: "Ta cũng không thể lấy cuộn dây ấy ra được,
chỉ có người đã đặt cuộn dây này vào cổ ngươi, người
ấy mới lấy ra được."
Mara đành quay trở về tìm gặp
Ngài Upagupta.
Mara van xin: "Xin Ngài làm ơn gỡ
cuộn dây này ra cho tôi, tôi đau đớn quá "
"Upagupta trả lời: "Ðược ta sẽ
cởi cuộn dây đó cho ngươi nhưng với hai điều kiện " Ðiều
kiện thứ nhất là người phải hứa từ nay không được
quấy nhiễu những người Phật Tử sùng đạo nữa. Ðiều
kiện thứ hai là ngươi phải chỉ cho ta coi hình ảnh thực
sự của Ðức Phật. Vì lẽ ta biết ngươi có nhiều lần
được nhìn thấy Ðức Phật, nhưng ta chưa bao giờ được
thấy Ngài. Ta muốn nhìn thấy hình ảnh thực sự của Ðức
Phật đúng giống y như Ngài với 32 vẻ đẹp"
Mara vui mừng và đồng ý với Upagupta.
Mara nói: "Nhưng có một điều, nếu tôi biến thành Ðức Phật,
Ngài phải hứa với tôi là Ngài đừng lạy tôi, vì tôi không
phải là người thánh thiện, tôi cũng giống như Ngài thôi."
Upagupta hứa: "Ta sẽ không lễ lạy
ngươi".
Ðột nhiên Mara biến thành y như
Ðức Phật. Khi Upagupta nhìn thấy hình ảnh Ðức Phật, tim
Ngài tràn đầy cảm hứng phấn khích, lòng thành kính sâu
xa phát xuất từ con tim. Ngài chắp tay lại và lạy hình ảnh
Ðức Phật.
Mara la lên: "Ông đã không giữ lời
hứa" Ông hứa ông không lễ tôi bây giờ ông lại lễ tôi?"
Upagupta trả lời: "Ta không lễ ngươi,
ngươi phải hiểu, ta lễ Ðức Phật đấy chứ".
Từ câu chuyện này, chúng ta có
thể hiểu được hình ảnh của Ðức Phật quan trọng như
thế nào đ? chúng ta cảm hứng và hồi tưởng Ðức Phật
tối thượng trong tâm để tôn thờ. Những người Phật Tử
chúng ta không lễ lạy biểu tượng hay hình thái vật chất
tượng trưng Ðức Phật. Chúng ta bày tỏ lòng tôn kính với
Ðức Phật.
Cảm Hứng Từ Hình Ảnh Ðức
Phật
Ðức Phật đã nhập diệt và nhập
Niết Bàn. Ngài không cần thờ cúng và lễ vật, tuy kết quả
của sự thờ cúng sẽ đồng hành và người ta được lợi
lạc khi theo gương Ngài và suy nghĩ về sự hy sinh cao cả và
những đức tính vĩ đại của Ngài.
Người Phật Tử không dâng cúng
các con vật hiến tế dưới danh nghĩa Ðức Phật.
Khi người Phật Tử nhìn thấy hình
ảnh của Ðức Phật, lòng mộ đạo và niềm vui xuất hiện
trong tâm. Lòng mộ đạo này và niềm vui này tạo tư tưởng
đáng khen trong tâm người Phật Tử thuần thành. Hình ảnh
của Ðức Phật giúp người ta quên đi lo âu, thất vọng và
khó khăn khiến người ta có thể kiểm soát được tâm mình.
Một số các triết gia, sử gia và
học giả nổi tiếng trên thế giới thường giữ hình ảnh
của Ðức Phật trên bàn làm việc trong phòng đọc sách để
có cảm hứng về cuộc sống và tư tưởng cao cả. Nhiều
những người không phải là Phật Tử. Nhiều người vinh danh
cha mẹ quá cố, thầy giáo, anh hùng vĩ đại, vua và các nữ
hoàng, những nhà lãnh đạo quốc gia và chính trị, và các
người thân yêu bằng cách giữ giữ hình ảnh của các người
ấy để ấp ủ những kỷ niệm của họ. Họ đặt những
vòng hoa để bày tỏ cảm nghĩ thương yêu, biết ơn, tôn kính,
cảm nhận lòng thành kính. Họ nhớ lại những đức tính
vĩ đại của những người ấy và hồi tưởng với niềm
kiêu hãnh về những sự hy sinh, phục vụ bởi những người
ấy khi còn sống.
Người ta cũng xây các tượng đài
để kỷ niệm một số các nhà lãnh đạo chính trị đã giết
hàng triệu người vô tội. Do sự độc ác và tham dục để
đạt uy quyền họ xâm chiếm những quốc gia nghèo khổ và
tạo đau khổ, tàn bạo và lầm than không kể siết bằng lũ
quân cướp bóc của họ. Thế mà họ được coi như những
anh hùng vĩ đại; và những lễ kỷ niệm được tổ chức
để vinh danh họ, những vòng hoa đuợc dâng hiến trên những
huyệt mộ hay nấm mồ của họ. Nếu những việc làm như
vậy được chứng minh là đúng, tại sao một số người lại
nhạo báng những tín đồ của Phật là sùng bái Ðức Phật
như thần tượng khi những người này bày tỏ lòng tôn kính
với vị đại đạo sư đã phục vụ nhân loại, không hại
ai, đã chinh phục toàn thể thế giới bằng tình thương, từ
bi và trí tuệ.
Có thể nào một người nào đó,
theo đúng ý của họ nói là hành động bày tỏ lòng tôn kính
với hình ảnh Ðức Phật là không văn hóa, vô luân hay một
hành động tác hại phá rối hòa bình và hạnh phúc của người
dân không?
Nếu hình ảnh không quan trọng gì
cho một người tu tập tôn giáo thì một số biểu tượng
tôn giáo và những nơi thờ cúng cũng không cần thiết. Người
Phật Tử bị nhạo báng bởi một số người là thờ cúng
cục đá. Nhưng cho dù lời tuyên bố mù quáng đó là đúng,
thờ cúng cục đá vô hại và còn được kính trọng hơn là
ném đá vào những tín đồ của tôn giáo khác.
Tầm Quan Trọng Của Việc Tu Tập
Thực hành giáo lý của Ðức Phật
không phải là ép buộc đối với người bày tỏ lòng tôn
kính hình ảnh Ðức Phật. Người Phật Tử có thể tu tập
tôn giáo của họ không cần đến hình ảnh của Ðức Phật,
họ có thể làm được điều đó vì Ðức Phật không khuyến
khích người ta tùy thuộc vào bất cứ một cá nhân nào. Theo
như lời Phật dạy, người Phật Tử không nên tùy thuộc
vào người khác, cả đến chính Ðức Phật nữa - để được
giải thoát.
Trong thời kỳ Ðức Phật tại thế,
có một thầy tu tên Wakkali. Thầy tu này thường ngồi ngay
trước mặt Ðức Phật để ngắm nghĩa vẻ đẹp hình hài
của Ðức Phật. Thầy tu này nói rằng ông ta tìm thấy niềm
vui và nhiều cảm hứng khi ngắm vẻ đẹp của Ðức Phật.
Ðức Phật đáp lại bằng câu: "Ông không thể nhìn thấy
Ðức Phật thật sự bằng cách ngắm nghía xác thân vật chất.
Ai nhìn thấy giáo lý của ta mới thật nhìn thấy ta".
Khía cạnh quan trọng nhất trong
Phật Giáo là đem thực hành lời khuyên dạy của Ðức Phật.
Trong phương diện này, không có gì khác biệt người Phật
Tử bày tỏ lòng tôn kính hay không bày tỏ lòng tôn kính với
Ðức Phật. Nhưng đối với những người mộ đạo, đó là
một hành động quan trọng. Tuy nhiên, Ðức Phật không nói
là Ngài đang chờ đợi để được kính chào .
Nguồn Gốc Của Hình Ảnh Ðức
Phật
Hình ảnh của Ðức Phật bắt nguồn
như thế nào? Rất khó khăn để tìm ra ý tưởng này phải
hay không phải của Ðức Phật. Không có chỗ nào trong kinh
điển Phật Giáo nói hình ảnh của Ngài phải được làm.
Tuy nhiên, Ðức Phật có cho phép gìn giữ xá lợi của Ngài.
Ðức A Nan có lần muốn biết có
được phép xây dựng một ngôi chùa để kỷ niệm Ðức Phật
như một cách để bày tỏ lòng tôn kính với Ngài. Ðức A
Nan hỏi Ngài: "Bạch Ðức Thế Tôn, xây dựng một ngôi chùa
trong khi Ngài còn tại thế có đúng không?
Ðức Phật trả lời: "Không, không
đúng khi ta còn sống. Ông có thể xây dựng ngôi chùa để
thờ phượng chỉ sau khi ta nhập diệt ".
Trong bài thuyết giảng cuối cùng
trong Kinh Ðại Bát Niết Bàn, Ðức Phật khuyên các đệ tử
nếu họ mong muốn bày tỏ lòng tôn kính với Ngài, sau khi
Ngài nhập diệt, họ có thể xây dựng Chùa để thờ xá lợi
của Ngài. Lời khuyên này phù hợp với tập tục thời bấy
giờ tại Ấn Ðộ: tập tục xây dựng Chùa để lưu giữ
xá lợi của các bậc thánh thiện. Xá lợi được lưu giữ
để tưởng nhớ đến bậc thánh thiện. Ðồng thời Ðức
Phật cũng không khuyến khích hay khuyến khích tạo một hình
ảnh cho chính Ngài sau khi Ngài nhập diệt. Ý tưởng tạo một
hình ảnh Ðức Phật là do nơi các tín đồ muốn tôn thờ
vị lãnh đạo kính yêu của họ và đạt được cảm hứng
đạo lý từ một tính cách thanh thản. Họ cũng thường trân
trọng cất giữ một số xá lợi của Ðức Phật khi những
hình ảnh đang được xây dựng.
Ngài Phổ Hiền (Trung Hoa), thăm viếng
Ấn Ðộ vào cuối thế kỷ thứ tư có ghi trong hồ sơ của
Ngài hình ảnh đầu tiên của Ðức Phật được tạo dựng
như thế nào. Tuy nhiên, kinh điển Phật Giáo không nói gì
đến thông tin thu thập được của Ðức Phổ Hiền. Tuy thế,
huyền thoại được ghi nhận như sau:
Một lần Ðức Phật ở ba tháng
trên thiên cảnh thuyết Vi Diệu Pháp, học thuyết cao hơn.
Trong lúc vắng Ngài, những người đến Chùa không vui vì không
nhìn thấy Phật. Họ bắt đầu phàn nàn. Ngài Xá Lợi Phất,
Ðệ Tử số đứng đầu của Ngài đi gặp Phật và trình
bày tình hình với Ðức Phật. Ðức Phật khuyên Ngài Xá Lợi
Phất tìm một người nào có thể tạo nên một bức ảnh
giống như Ngài thì dân chúng sẽ sung sướng khi nhìn bức
hình này. Ngài Xá Lợi Phất quay trở về và đến gặp nhà
Vua xin nhà Vua ân huệ tìm một người nào có thể tạo hình
của Ðức Phật. Ít lâu sau người đó dã được tìm thấy.
Ông này khắc hình Phật trên gỗ đàn hương. Sau đó bức
hình này đã được đem đặt tại chùa, dân chúng hết sức
vui mừng. Từ đó trở đi, theo Ngài Phổ Hiền, người dân
bắt đầu phỏng theo hình Ðức Phật.
Nhưng rất khó khăn tìm ra chứng
tích trong tài liệu và lịch sử Phật Giáo để chứng minh
sự tồn tại các hình ảnh của Ðức Phật tại Ấn Ðộ
cho đến gần 500 năm sau Ngài nhập diệt. Vào thời đó, người
mộ đạo thường chỉ bày tỏ lòng tôn kính Ðức Phật bằng
cách giữ một đóa hoa sen hay bức hình chân của Ðức Phật.
Có thể là lúc đầu một số Phật Tử không đồng ý xây
dựng hình ảnh Ðức Phật, và rất có thể nét đặc biệt
nổi bật của Ðức Phật không chính xác.
Nhiều sử gia cho rằng hình ảnh
của Ðức Phật lần đầu tiên được tạo dựng tại Ấn
Ðộ trong khoảng thời gian Hy Lạp xâm chiếm. Người Hy Lạp
giúp đỡ và khuyến khích người Ấn trong nghệ thuật tạo
hình ảnh của Ðức Phật. Từ đó, dân chúng tại nhiều quốc
gia bắt đầu tạo dựng hình ảnh Ðức Phật. Hình ảnh tại
các nước được điêu khắc theo kiểu cách và ấn tượng
nghệ thuật hiện thân những nét đặc biệt theo con người
của xứ ấy. Trong phạm vi của mỗi xứ Phật Giáo, kiểu
hình ảnh của Ðức Phật tiến triển thành nhiều hình thức
khác nhau và kiểu cách thích hợp trong từng giai đoạn khác
nhau của lịch sử.
Các Nhà Trí Thức Nói Gì Về
Hình Ảnh Ðức Phật.
Pandit Nehru, cựu thủ tướng Ấn
Ðộ, nhận xét như sau về hình ảnh Ðức Phật:
"Mắt Ngài nhắm, nhưng sức mạnh
tinh thần toát ra và năng lực sống động tràn ngập chung
quanh. Thời đại của Ngài đã trôi qua, nhưng dường như Ðức
Phật không cách xa chúng ta lắm; giọng nói của Ngài vẫn
thì thầm bên tai và nói với chúng ta hãy đừng chạy khỏi
cuộc tranh đấu, mà hãy đương đầu với nó bằng con mắt
bình tĩnh, và thấy trong cuộc sống cơ hội lớn để phát
triển và tiến bộ. Ông cũng nói: "Khi tôi ở trong tù, tôi
thường nghĩ đến bức tượng của Ngài, bức tượng này
là một nguồn suối cảm hứng to lớn với tôi".
Trong Thế Chiến Thứ Hai, Tướng
Ian Hamilton tìm thấy hình Phật trong một ngôi chùa đổ nát
tại Miến Ðiện. Tướng này gửi bức hình Ðức Phật cho
Winston Churchill lúc đó là Thủ Tướng Anh Quốc với bức thư:
"Khi ông lo lắng ông chỉ cần nhìn
vào thái độ thanh thản này và cười nỗi lo lắng của ông".
Bá Tước Keyserling, một triết gia
Ðức, nói:
"Tôi không thấy gì vĩ đại hơn
hình ảnh của Ðức Phật; Ðó là một sự biểu hiện tuyệt
vời của tinh thần trong địa hạt có thể trông thấy được.
Một học giả khác nói:
"Hình ảnh Ðức Phật mà ta nhìn
thấy là những biểu tượng tượng trưng những đức tính.
Tôn vinh và kính trọng Ðức Phật chỉ là biểu tượng tôn
thờ cái vĩ đại và hạnh phúc tìm thấy trong giáo lý của
Ngài."
Hình ảnh trầm lặng và thanh thản
của Ðức Phật đã là quan niệm chung về vẻ đẹp lý tưởng.
Hình ảnh Ðức Phật là tài sản quý báu nhất của văn hóa
Á Châu. Không có hình ảnh của Ðức Phật, Á châu không có
gì hơn chỉ là sự diễn đạt địa dư dù cho thịnh vượng
ra sao.
Phật Tử tôn kính tượng Phật
như một lâu đài kỷ niệm sự vĩ đại, khôn ngoan nhất,
toàn hảo nhất và vị đạo sư từ bi nhất đã từng sống
trên thế giới này. Hình ảnh rất cần thiết để tưởng
nhớ đến Ðức Phật cũng những đức tính vĩ đại của
Ngài đã gây cảm hứng cho hàng triệu triệu người hết thế
hệ này đến thế hệ khác khắp tất cả thế giới văn minh.
Hình ảnh giúp cho họ tập trung vào Ðức Phật. Họ cảm thấy
trong tâm sự hiện diện thực sự của vị giáo chủ khiến
hành động thờ cúng của họ sống động và có ý nghĩa.
Là một Phật Tử, rất thích đáng
bạn nên có hoặc một hình ảnh của Ðức Phật hay bức tranh
của Ðức Phật tại nhà. Giữ hình ảnh hay bức tranh không
phải là một thứ trang hoàng nhà cửa mà là một đối tượng
để chiêm ngưỡng, gây cảm hứng và tôn thờ. Bộ mặt thanh
thản của Ngài, một biểu tượng tỏa chiếu lòng từ ái,
thanh tịnh và toàn bích, cung cấp một nguồn an ủi và cảm
hứng giúp đở bạn khắc phục khó khăn, lo âu mà bạn phải
đối đầu trong hoạt động hàng ngày trên thế giới hỗn
loạn này. Khi bạn tôn thờ Ðức Phật, bạn sẽ được tưởng
thưởng nhiều nếu bạn tham thiền một lúc bằng cách tập
trung tâm bạn vào những đức tính vĩ đại và cao thượng
của Ðức Phật; Nếu bạn nghĩ đến Ðức Ðại Ðạo Sư
bạn sẽ toàn thiện chính bạn qua sự hướng dẫn của Ngài.
Vậy cho nên, không có gì là siêu nhiên lòng tôn kính này được
bày tỏ trong một số tác phẩm và điêu khắc đẹp và thẩm
mỹ nhất mà thế giới từng biết đến.
Một nhà văn nổi tiếng khác trong
ngôn ngữ triết lý của ông về ý nghĩa thực sự của việc
bày tỏ lòng tôn kính với Ðức Phật như sau:
"Chúng ta cũng cần hành động tôn
vinh thông qua sự tôn kính nhằm vào không phải về một người
- vì đúng là tất cả nhân cách là một giấc mơ - mà vào
lý tưởng của tâm can chúng ta. Như vậy chúng ta từng tìm
thấy sức mạnh tươi mới và xây dựng một nơi thờ cúng
cho cuộc sống của chúng ta, tẩy sạch tâm ta cho đến khi
tâm ta xứng đáng mang hình ảnh này trong nơi thiêng liêng sâu
thẳm của tình thương. Trên cái bàn thờ đó tất cả chúng
ta đều cần dâng lễ vật không phải bằng ngọn đèn tàn,
hoa héo và phù du, mà là hành vi của tình thương, hy sinh, và
vị tha tới tất cả những ai xung quanh chúng ta".
Anatole France, trong bài tự thuật
của ông, viết: "Vào ngày đầu tháng Năm 1890. một cơ duyên
dẫn tôi đến thăm viện Bảo Tàng tại Ba Lê. Nơi đây, các
tượng thần thánh Á Châu ngồi trong giản dị và thầm lặng,
mắt tôi hướng về bức tượng của Ðức Phật vẫy tay ra
hiệu cái đau khổ của nhân loại như nhủ thầm cần phải
phát triển sự hiểu biết và từ bi. Nếu có một thượng
đế nào bước đi trên trái đất này, tôi cảm thấy phải
là Ngài. Tôi cảm thấy như quỳ xuống chân Ngài và cầu nguyện
với Ngài như một Thượng Ðế".
Ông Ouspensky, một triết gia tây
phương bày tỏ cảm nghĩ của ông về hình ảnh Ðức Phật
mà ông thấy tại Sri Lanka. Ông nói: "Bức tượng Phật này
là một công trình nghệ thuật hiếm có. Tôi không thấy một
công trình nghệ thuật nào có thể có giá trị ngang hàng với
bức tượng này với mắt bằng ngọc xanh saphia, phải nói
tôi không biết có một tác phẩm nào có thể tự nó diễn
đạt được hoàn toàn tư tưởng tôn giáo như vẻ mặt của
Ðức Phật diễn tả tư tưởng của Phật Giáo. Hiểu được
vẻ mặt này thì hiểu được Ðạo Phật". Ông còn nói: "Không
cần phải đọc nhiều tác phẩm Phật Giáo, hay cùng đi với
giáo sư nghiên cứu tôn giáo Á Châu hay với các thầy Tỳ
Kheo có học. Ta phải lại đây, đứng trước Bức Tượng
Phật này rồi hãy để cho những ánh mắt xanh thâm nhập vào
đời ta, ta sẽ hiểu được Phật Giáo là gì".
Công trình mỹ thuật tạo dựng
hình ảnh và tạo các bức tranh sơn trên tường về nhiều
chuyện Phật Giáo do sự cảm hứng tuyệt vời đã làm phong
phú nghệ thuật và văn hóa của hầu hết các quốc gia Á
Châu từ trên 2000 năm qua.
Cái gì đã làm cho bức thông điệp
của Ðức Phật hết sức lôi cuốn những người trau dồi
trí tuệ? Có lẽ câu trả lời có thể thấy được ở vẻ
thanh thoát trên bức hình của Ðức Phật. Không phải là màu
sắc hay nét vẽ mà người ta bày tỏ niềm tin nơi Ðức Phật,
mà là cái vẻ thanh lịch nơi giáo lý của Ngài. Những bàn
tay con người rèn đục từ sắt đá tạo nên tượng Phật
là một trong những sáng tạo vĩ đại do thiên tài con người.
Nếu người Phật Tử thực tình
mong muốn gìn giữ Ðức Phật trong tất cả huy hoàng đẹp
đẽ và lộng lẫy sự có mặt lý tưởng của Ngài, họ phải
chuyển lời dạy của Ngài vào tình trạng thực tiễn và hành
động trong đời sống hàng ngày. Thực hành lời Phật dạy
họ có thể tiến tới gần Phật và cảm thấy ánh hào quang
rực rỡ của trí tuệ và lòng từ bi bất tử của Ngài. Chỉ
tôn kính hình ảnh mà không tu tập lời dạy tối thượng
của Ngài không phải là con đường tìm cầu giải thoát.
Cuộc đời đẹp đẽ, một trái
tim trong sáng và tử tế, tâm trí sâu xa và giác ngộ, một
nhân cách gây cảm hứng và vị tha - cuộc đời toàn bích
như vậy, một trái tim từ bi như vậy, một tâm trí trầm
tĩnh như vậy, một nhân cách thanh thản như vậy quả thật
đáng được kính trọng, đáng được vinh danh, và đáng được
cúng dường. Ðức Phật là bậc toàn thiện cao nhất của
nhân loại, và là đóa hoa của loài người.
Sir Edwin Arnold giải thích bản chất
Phật tính trong thi phẩm "Ánh Sáng Á Châu" như sau:
"Ðây hoa nở trên cây nhân
loại
Ðã bùng nở qua nhiều vạn kỷ
Làm thế giới chan hòa hương thơm
trí tuệ
Và mật ngọt tình thương".