18
PHẬT GIÁO TRONG
ÐỜI SỐNG HIỆN ÐẠI
Tiến Sĩ
Ananda Guruge
Ðề tài nói trên
đây gồm có những phần: Thế nào là đời sống hiện đại?
Phật Giáo là gì? Và vài trò của Phật Giáo trong đời sống
hiện đại?
Ðời sống hiện đại chính tự
nó rất khó để định nghĩa. Ta có thể nói đời sống hiện
đại có đặc điểm nổi bật bởi thực ra thế giới càng
ngày càng nhỏ hơn, con người có quyền hay phương tiện đến
với nhau, bức tường ngăn cách về truyền thông đã không
còn, chỉ trong khoảnh khắc ta có thể biết được tin tức
xẩy ra bất cứ nơi nào trên thế giới, ta có thể tham gia
vào đời sống rộng lớn tiêu biểu của thế giới mà ta
không bao giờ tưởng tượng được. Ðó là một khía cạnh
của đời sống hiện đại. Liên quan đến đời sống hiện
đại phải kể đến những lãnh vực khoa học và kỹ thuật.
Con người trong hoài bão chinh phục thiên nhiên, bệnh tật,
những chướng ngại thiên nhiên, đã hoàn thành một số kỳ
công về kỹ thuật phức tạp làm tâm giật mình kinh sợ.
Ðó là một khía cạnh khác của đời sống hiện đại. Ðiểm
thứ ba có lẽ là khía cạnh xáo trộn nhiều của đời sống
hiện đại: thế giới càng gần nhau hơn, bức tường chướng
ngại truyền thông đã bị phá vỡ, tiến bộ về khoa học
và kỹ thuật tiến nhanh, chúng ta phải đương đầu vối một
số khó khăn về kinh tế và chính trị đối lập, ô nhiễm,
bùng nổ dân số, tài nguyên hiếm hoi, và sự sử dụng bừa
bãi tài nguyên không thể thay thế được. Với những khó
khăn trên, xuất hiện hàng loạt các vấn đề khác được
gắn thẳng cánh là "sinh tồn".
Văn Minh Hiện Ðại Có Thể Sống
Sót Không?
Về vấn đề này, ta cũng có thể
thêm vào khía cạnh luân lý - một câu hỏi về đạo đức-
và hỏi: "Ðến một mức độ nào, trong tiến trình hiện đại
hóa và chinh phục thiên nhiên, chúng ta đã đi trệch khả năng
chinh phục chính mình? Có phải sự tranh đấu sinh tồn có
nghĩa là con người hiện đại phải trở thành nô lệ cho
ích kỷ, ràng buộc bởi tham dục và ý thức bốc đồng của
chính mình? Có phải chúng ta đã mất đi tất cả những thứ
về giá trị đặc biệt của con người như việc tương quan
giữa cá nhân, sự lo lắng chăm sóc cho hạnh phúc, tinh thần
vị tha đối với người khác? có phải chúng ta đã mất những
điều đó?
Vậy thì khi nghĩ đến đời sống
hiện đại, ta có thể nghĩ với một mức lạc quan cao độ,
và đồng thời, một mức độ bi quan tương đương. Ta có
thể hết sức vui sướng là chúng ta có thể sống ngày nay
ở một thời đại hầu như không có gì là con người không
chinh phục được. Có lẽ, vẫn còn một số bệnh tật là
mối thách thức con người. Có thể, vẫn còn một số nơi
chốn trong vũ trụ mà con người muốn đến, và con người
vẫn chưa phát triển được kỹ thuật để đến đấy. Nhưng
hình như tất cả những thứ đó đều trong tầm tay của con
người. Với sự lạc quan về khả năng của con người, thì
về phía bi quan, chúng ta, trong tiến trình đó, đã mất mát
một cái gì đó. Hãy để cả hai việc này trong tâm.
Phật Giáo
Vậy thì chúng ta hãy nhìn vào Phật
giáo xem Phật Giáo là gì. Chúng ta hiểu Phật Giáo như thế
nào? Có thể có nhiều thứ đối với nhiều người khác nhau.
Có người cho rằng đó chỉ là đời sống của Ðức Phật,
tấm gương của Ðức Phật và những người đệ tử gần
gũi nhất của Ngài đặt ra - đó là kỳ công quang vinh của
một người, một người đứng trước công chúng tuyên bố
con đường giải thoát. Ðó là một loại Phật Giáo. Với
số người khác, Phật Giáo có nghĩa là học thuyết quần
chúng như đã ghi trong văn học Phật Giáo đương nhiên gồm
nhiều tập và gồm vài nghìn trang ghi các lời của Ðức Phật.
Và trong đó miêu tả một triết lý cao quý, sâu sắc, phức
tạp và uyên bác về cuộc đời. Rồi căn cứ vào lời dạy
của Ðức Phật, vào sự tu tập trong thời kỳ Ðức Phật
tại thế, nảy sanh một nền văn hóa xúc tích, một nền văn
hóa đã lan rộng khắp Á Châu từ 2500 năm qua, và các dân
tộc từ những tầng lớp xã hội khác nhau có nền tảng xuất
thân khác nhau ở những quốc gia ấy đã đóng góp vào sự
trường tồn của Phật Giáo. Một số lớn giáo phái và trường
phái, hay hệ thống triết lý, đã phát triển, và tất cả,
đúng hơn đã hoạt động dưới danh hiệu Phật Giáo. Rồi
đến một định nghĩa khác về Phật Giáo: đó là một loại
nghi thức phát sanh chung quanh học thuyết của Ðức Phật do
giáo lý và cách sống được thuyết giảng bởi Ðức Phật,
trở thành một tôn giáo. Dù Ðức Phật muốn hay không muốn,
giáo lý của Ngài thành tôn giáo, một tôn giáo mà người
dân chấp nhận nguyện trung thành có nghi thức riêng, có tổ
chức, đường lối hay tiêu chuẩn để quyết định cái gì
làm đúng và cái gì làm sai. Nay lại có một loại Phật Giáo
khác. Nếu ta lấy một trong những khía cạnh riêng rẽ, và
thử khảo sát tác động của cái gọi là Phật Giáo trong
đời sống hiện đại, thì chắc chắn quả là một công việc
lớn lao.
Với tôi, Phật Giáo là tất cả
những thứ này. Ðó là Ðức Phật và đời sống của Ngài,
học thuyết, văn hóa đã phát triển quanh nó và đã dự phần
đóng góp, và nghi lễ liên quan. Một khi ta lấy việc này đem
so sánh với một khối lớn kinh nghiệm của con người, đem
lọc kỹ càng thành một dạng thức tinh túy nhất và đem trình
bày cho chúng ta thì mỗi chúng ta có thể chọn phần thích
hợp, phần lôi cuốn chúng ta sẽ thấy cái độc đáo phi thường
của Phật Giáo. Lúc tại thế, chính Ðức Phật thường nhấn
mạnh điểm này. Không cần thiết phải là một học giả
mới biết mọi thứ. Phật Giáo không giống một môn học
như toán mà bạn phải học các định lý và các phương pháp
để giải đáp những loại tính. Nếu bạn biết nền móng,
căn bản thì sự nghiên cứu chi tiết uyên thâm không phải
là một điềm báo trước quan trọng để tu tập. Cho nên ngoài
thứ này, văn hóa, tôn giáo hay văn chương rộng lớn Phật
Giáo, hay một khối lớn kinh nghiệm đến với chúng ta là
Phật Giáo, mỗi trong chúng ta sẽ thấy điều gì thích đáng
cho đời sống, cho loại khó khăn của chúng ta.
Một Học Thuyết Vô Tận
Tôi thường băn khoăn không hiểu
sao Phật Giáo được gọi là "Akalika" có nghĩa là "vô
tận" - lúc nào cũng tồn tại. Tôi càng thấy sự thay đổi
trong văn hóa Phật Giáo hay Ðạo Phật, tôi càng thấy phải
làm sao tiếp tục thích ứng với nhu cầu ở mọi lãnh vực,
dân số, cá nhân, tôi càng thấy bức thông điệp của Ðức
Phật truyền đạt lúc nào cũng có giá trị bất diệt. Cho
nên nếu Phật Giáo có sự áp dụng ngày nay, và nếu Phật
Giáo có một vị thế trong đời sống hiện đại thì đó
là vì sự liên quan thích đáng vô tận, bắt nguồn từ một
tập hợp các giá trị bất diệt. Nói về đặc điểm bất
diệt là một cách hết sức nghịch lý trong việc trình bày
hay miêu tả một tôn giáo có nguyên lý học thuyết vô thường
ở ngọn nguồn. Cái đặc tính vô tận bắt nguồn từ thực
tế được hiểu là mọi thứ đều tiếp diễn không ngừng,
nhưng tiếp tục trong một luồng, trong một tiến trình thay
đổi và tiến hóa không ngừng. Vậy nên Phật Giáo có thể
thích nghi với mọi thời gian và mọi nền văn minh. Cho nên
chúng ta có thể, không một ngần ngại, tiếp cận với bất
cứ một khía cạnh nào của Phật Giáo như một điều gì
thích hợp và có thể áp dụng với chúng ta ngày nay.
Những vấn đề gì khiến Phật
Giáo vô tận? Xin để tôi lấy một vài điều. Ðiều trước
nhất là sự thừa nhận trách nhiệm của một cá nhân. Ðức
Phật là một trong các vị đạo sư phi thường giải phóng
con người khỏi tất cả những ràng buộc - những ràng buộc
của mối quan hệ siêu nhân, một Thượng Ðế, sự sáng tạo,
tội lỗi hay bất cứ một đặc điểm từ một người nào
đó (ngoài điều chính bạn đã làm). Cho nên, Ðức Phật nói
mỗi người là vị chủ tể của chính mình, người đó ban
hành ra nguyên tắc mà sự áp dụng trở nên mạnh mẽ hơn
vì con người bắt đầu càng thấy tin tưởng hơn trong việc
kiểm soát chính mình và môi trường chung quanh. Vậy, nếu
ngày nay với sự phát triển của khoa học và kỹ thuật, con
người cảm thấy đã đi đến điểm mà trí thông minh của
mình làm cho mình cao hơn bất cứ ai khác, và cho phép mình
giải quyết bất cứ khó khăn nào hiện có, liệu vật chất
hay đạo đức, hay chính trị, hay bất cứ gì đi nữa, sẽ
không phải là nguyên tắc con người là vị chủ tể của
chính mình mà con người phải chịu trách nhiệm trước chính
mình vì bất cứ gì mình làm ra mình thừa hưởng - trở thành
một trong những cách thức quan trọng nhất để xem xét chính
mình?
Vậy nên cách giải quyết căn bản
làm con người thoát khỏi tất cả những xiềng xích, tinh
thần và các mặt khác, là một trong những học thuyết rất
quan trọng của Phật Giáo đóng góp vào tính vô tận của
tôn giáo này. Chúng ta càng tiến bộ, con người càng có nhiều
tiến bộ, thì việc cần thiết của con người là phải xác
nhận chính mình là vị chủ tể của mình. Con người càng
xác quyết chính mình là vị chủ tể của mình, lại càng
phải nhớ lại lời Ðức Phật dạy: "Atta hi attano natho".
Tự Do Tư Tưởng
Rồi đến một học thuyết khác
không kém phần quan trọng: Học thuyết về tâm mở rộng-
tự do tư tưởng. Phật Giáo không những giải thoát chúng
ta khỏi Thượng Ðế hay sự ràng buộc siêu nhiên mà còn giải
thoát chúng ta khỏi tín điều. Chúng ta hãy mường tượng
thời gian Ðức Phật thuyết giảng. Ðó là một thời gian
mà nhiều giáo lý của các tôn giáo khác đang thịnh hành và
Ấn Ðộ ở vào thế kỷ thứ 6 trước Tây Nguyên là một
nơi được chú trọng nhất về cuộc sống. Các đạo sư tôn
giáo đưa ra nhiều loại học thuyết ganh đua với nhau để
có nhiều người theo đạo của mình. Ngoài những giáo lý
mới, còn có những hệ thống đạo lý thâm căn cố đế.
Trong tất cả những hệ thống tôn giáo này, lý thuyết rêu
rao là: "Chúng tôi đã tìm ra con đường". "Con đường này
là con đường chính đáng". "Bạn đến đây, bạn sẽ được
cứu độ". Vào giữa lúc này, Ðức Phật xuất hiện và nói:
"Ðừng tin vào sách vở nói. Ðừng tin vào những gì các bậc
thầy dạy nói. Ðừng tin vào truyền thống nói. Ðừng tin
vào điều gì chỉ vì điều đó là của quyền thế hay của
một người nào đó. Hãy tự mình kinh nghiệm điều đó. Bạn
phải tự suy nghĩ. Hãy tự mình nhận thấy đúng hay sai. Một
khi nhận thức thấy đúng hãy làm theo." Chính điều này là
một phương cách rất mạnh: con người được hoàn toàn tư
do, điều mà con người tranh đấu để có, tự do tư duy. Nếu
dưới chế độ phong kiến, trước khi các tiến bộ hiện
nay đạt được, chúng ta không có quyền được tự suy nghĩ,
khi các tiến bộ ngày nay đang diễn ra, chúng ta càng xác quyết
quyền (tự do suy nghĩ) càng nhiều hơn nữa. Chúng ta sẽ cảm
thấy tin theo sau những cuộc điều tra nghiên cứu của chính
chúng ta, và sau khi chúng ta đã có thể xem xét tỉ mỉ những
nguyên tắc, những thực tế, những điều thuận và nghịch.
Ðiều này chúng ta coi như một quyền bất khả xâm phạm.
Ðó là một học thuyết thứ hai có thể áp dụng vào thời
hiện đại, và tương lai phải tiếp tục.
Vai Trò Của Phật Giáo
Ðến một câu hỏi quan trọng nhất
- Ngoài phần hỗ trợ cái mà con người muốn khẳng định
về bản thân trong hiện tại và tương lai, Phật Giáo sẽ
tiếp tục có một vai trò sửa sai không? Với câu hỏi này
thấy có một khía cạnh quan trọng nhất mà tất cả chúng
ta phải lưu tâm ngày nay. Trong khi con người có những tiến
bộ này, chúng ta cũng thấy áp lực của đời sống hiện
đại - sự cạnh tranh để sống còn, sự cạnh tranh nhằm
làm tốt hơn người khác, sự ham thích sống cuộc đời ganh
đua về kinh tế, chính trị, văn hóa, hoặc bất cứ hình thức
nào - mang đến căng thẳng. Ðể giảm bớt những căng thẳng
này, con người lại càng phát triển nhiều hình thức vui chơi
giải trí và nghỉ ngơi. Kết quả bề ngoài có vẻ được
chút ít thư giãn nghỉ ngơi để giảm bớt căng thẳng, nhưng
hình như họ càng ngày càng sa vào vòng tội lỗi. Vì căng
thẳng, ta lại tham đắm vào một loạt hoạt động thoát ly
thực tế, và vì những hoạt động đào thoát này mất quá
nhiều thì giờ, ta lại phải bắt cho kịp tiến trình sống
còn nên càng sa vào giai đoạn căng thẳng trầm trọng hơn.
Kinh tế càng tiến bộ lớn mạnh bao nhiêu, chính trị càng
sáng tỏ bấy nhiêu, ta lại càng phải cần đến thuốc giảm
đau và thuốc an thần để làm nhiệm vụ bình thường. Bạn
phải uống một viên thuốc để thức, một viên để ngủ,
một viên để thư giãn và vân vân... Kiểu hiện đại hóa
này đã thành mốt ở chỗ nào căng thẳng con người lên tới
chỗ thấy rằng tất cả những gì mà con người đã đạt
được là không còn dùng được, là ở trong một tình trạng
nghiêm trọng. Thêm vào những áp lực này, nảy sanh một khía
cạnh khác trong đó với thời gian rảnh rang dồi dào mà con
người đạt được ngày nay do thoát khỏi sự làm việc cực
nhọc, lại phải đương đầu với một khó khăn khác - đó
là sự chán chường. Cho nên với một bên là áp lực căng
thẳng, bên kia thì chán chường, xuất hiện một loạt tình
trạng phức tạp làm con người thực sự không hạnh phúc.
Ngày nay người ta có thể hỏi: Phải chăng con người đang
sống thực sự hạnh phúc, hay ở trong tình trạng mà ít nhất
nhận thức thấy rằng mặc dù đã đạt được mọi thứ,
họ đã mất một cái gì dưới hình thức của những khía
cạnh căn bản của đời sống? Ai là người bị trách cứ?
Phải chăng chúng ta trách khoa học? Chúng ta trách kỹ thuật?
Chúng ta trách hệ thống chính trị? chúng ta trách hệ thống
kinh tế do ta thừa hưởng hay do ta phát triển? Hay chúng ta
trách cứ chính chúng ta?
Bạn Là Vị Chủ Tể Của Chính
Bạn
Quay về lối nhìn của Ðức Phật
vào vấn đề, bạn sẽ nói, bạn nắm phương tiện cuộc sống
trong tay bạn. Bởi lẽ bất cứ gì sai, bạn đều phải chịu
trách nhiệm, bạn là vị chủ tể của chính bạn. Bạn để
nó chạy như vậy - cho phép nó thoát khỏi sự kiềm chế trong
tay bạn. Quả là dễ dàng để trách cứ một người: "Bạn
để cơ hội trôi qua, bạn đã để mất cơ hội từ tay bạn".
Nhưng cái đó có giúp ích không? Cái vĩ đại của Phật Giáo
nằm trong sự việc này, nó không dừng lại sau khi đặt trách
nhiệm cho bạn và không nói: Bây giờ đó là như thế. Nay
chúng ta tìm thấy thủ phạm. "Tiến tới giai đoạn kế tiếp
nói rằng: "Nơi đây có một ít thứ có thể làm được".
Nếu một người cứ loay hoay nhìn
vào đủ loại biện pháp tôn giáo, tâm thần, tâm lý liên
can để cứu người hay để chữa chạy trạng thái căng thẳng
này và chán chường bên kia, bạn sẽ thấy có rất nhiều
biện pháp nhưng không một biện pháp nào lại không tốn kém,
thực tiễn như những hưóng dẫn đơn giản của Phật giáo
tiến dẫn. Ta có thể đặt câu hỏi: "Có phải một người
khi trở thành Phật Tử thì sẽ không còn bị căng thẳng hay
chán chường trong đời sống hiện đại nữa phải không?
Trả lời câu hỏi này rất khó vì không ai trở thành một
Phật Tử. Không có ai mang cái nhãn hiệu Phật Tử. Vì Phật
Giáo không phải là một trong những triết lý ấy hay lối
sống hay tôn giáo - Tôi dùng từ "tôn giáo" vì không có một
hạng nào khác để có sắp vào cho ngang bằng - trong đó cần
có một nhãn hiệu. Khi Ðức Phật còn tại thế, dân chúng
tìm đến Ngài, nghe Ngài và nếu họ thấy vừa lòng với Ngài
họ nói: "Tôi nương tựa nơi Ngài, nơi Giáo Pháp của Ngài,
và nương tựa nơi Ðoàn thể Tăng Già, cộng đồng, những
đệ tử theo cách sống ấy". Cả đến ngày nay tất cả thứ
đó cần thiết cho bất cứ ai tự gọi mình là Phật Tử.
Vì đã tin theo điều mà Ðức Phật dạy thích hợp với khó
khăn của đời sống, ta cảm thấy đó là lối sống có thể
theo đuổi vì có lợi ích, bằng cách nương tựa nơi Phật,
Pháp và Tăng Già. Với lòng tin vững chắc trong tâm này, người
ấy trở thành người Phật Tử không cần phải nghi lễ, nghi
thức của một loại nào, ghi danh, hay những đòi hỏi pháp
luật nào khác. Ðó là điều mà F.I. Woodword, một trong những
dịch giả tài giỏi về chuyển ngữ những lời của Ðức
Phật gọi là "một-tôn-giáo -do-chính-bạn-làm-ra".
Ngày nay có nghĩa gì khi có cả hàng
nghìn người chưa bao giờ đặt chân tới một ngôi chùa Phật,
chưa bao giờ tham gia nghi thức đã phát triển trong các quốc
gia Phật Giáo, nhưng ai là người mà tâm của mình đã nhìn
thấy giá trị bức thông điệp của Ðức Phật và ai là những
người sống một cuộc đời theo đúng giáo lý của Phật
Giáo. Thực ra, chúng ta thấy đa số dân cư trên thế giới
nguyện trung thành với Ðức Phật vì lý do này hay lý do khác.
Ðó là một trong những điều phi thường mà ta có thể coi
hầu như là một vi diệu.
Lối Sống
Lối sống do Ðức Phật thuyết
giảng rất là đơn giản. Ðối với người cư sĩ nó gồm
có năm giới đơn giản: không giết, không trộm cướp, không
tà dâm, không nói dối, và không dùng các chất say - quả là
một cụm giới rất đơn giản. Nhưng lối sống Phật Giáo
mà Ðức Phật miêu tả chưa chấm dứt với loại giới này.
Ðể đơn giản hóa trong một phương cách khiến bất cứ ai
cũng có thể hiểu được, có ba điều mà mỗi người cố
gắng làm được gọi trong tiếng Pali là Dana (Bố Thí),
Sila (Trì Giới), và Bhavana (Thiền Ðịnh).
Dana (Bố Thí) có nghĩa là
hào phóng, rộng rãi - hành động cho. Rất quan trọng Phật
Giáo bắt đầu với Bố Thí như một hành động đạo hạnh
thứ nhất mà ta phải thi hành nhằm đưa mình vào con đường
chính đáng, vì bố thí là một hành động hy sinh. Ðể có
thể cho một cái gì, tâm bạn phải sẵn sàng từ bỏ cái
mà bạn có đó, cái mà bạn quý trọng, cái mà bạn luyến
ái. Cho nên bạn phải đương đầu với nguyên nhân lớn nhất
của tất cả các khó khăn trong tiếng Pali được gọi là
Lobha (tham) hay tham dục hay tham lam. Thật lý thú được
thấy lối sống được trình bày cho chúng ta trong cái cách
từng bước một chúng ta có thể loại trừ được những
nhược điểm và đặc điểm của con người chính nó gây
căng thẳng và chán chường đang làm ta bực dọc ngày nay.
Hào phóng là chống lại tham dục, lòng tham, bản chất bám
níu.
Giới liên quan chặt chẽ tới một
số giới luật, đạo đức hay hạnh luân lý. Ðức Phật biết
rõ người ta không thể đặt ra điều lệ và quy tắc cho mọi
người trong cùng một đường lối. Cho nên có một số luật
lệ cho người cư sĩ. Thêm một số luật lệ nữa cho những
ai muốn sống một cuộc đời đạo hạnh, và nhiều hơn nữa
cho những thầy tu tự nguyện dấn thân vào con đường nghiêm
ngặt về kỷ luật và thanh tịnh. Cho nên Giới là một thứ
tăng trưởng dần dần, để mỗi người làm quen cái có thể
theo được trong hiện tại.
Trong giới hay hạnh luân lý, hay
giáo lý đạo đức của Ðức Phật, chúng ta quay về với
học thuyết đầu tiên: chúng không phải là điều răn, chúng
không phải lệnh truyền từ trên, chúng không phải lệnh ban
bố bởi Ðức Phật, những mệnh lệnh phải tuân theo. Mỗi
một giới luật mà chúng ta, người Phật Tử giữ là lời
chính mình tự hứa hoàn toàn tự nguyện. Và cách mà các giới
ấy nói là: 'Tôi tự nguyện giữ kỷ luật không sát sanh,
trộm cắp" vân vân..., vì tôi là chủ tể của số phận của
tôi, và chính tôi quyết định cuộc sống mà tôi nên theo.
Ðức Phật như một người dẫn đường đã cho thấy một
số nhược điểm căn bản hay những lầm lẫn mà ta cần phải
tránh. Nguyên nhân thứ hai trong hầu hết các vấn đề mà
chúng ta có là hận thù của chúng ta, hay oán hờn người khác.
Tiếng Pali được gọi là Dosa. Sila (giới) là một
trong những thuốc giải độc cho nguyên nhân thứ hai này về
tất cả các nhược điểm của chúng ta. Khi chúng ta giữ giới,
chúng ta kiểm soát hay đúng hơn là chúng ta hoàn toàn loại
bỏ nguyên nhân của hận thù. Ðức Phật là một trong những
người rất biết về những hậu quả của hận thù. Ngài
đã nhìn thấy những người đã tự hủy hoại do hận thù.
Ðiều mà đã khiến Ngài khẳng định sân hận không dập
tắt được sân hận, càng sân hận bao nhiêu thì khốn khổ
bấy nhiêu. Bạn ghét tôi, tôi ghét bạn: Tôi ghét bạn nhiều
hơn, bạn ghét tôi nhiều hơn và sân hận cứ thế tăng đến
điểm cả hai bạn và tôi đều tự bị thiêu đốt trong mối
sân hận lẫn nhau, và theo Ðức Phật cách duy nhất là một
trong hai người phải ngưng. Vì lẽ không có một bên hay tốt
hơn cả hai bên đều cố gắng đều chiến thắng sân hận
bằng tình hữu nghị, chiến thắng bằng không sân hận, sự
liên tục của sân hận, sân hận nối tiếp sẽ không bao giờ
chấm dứt. Phương cách đối phó này căn cứ vào toàn bộ
học thuyết về cuộc sống đạo đức trong Phật Giáo. Vì
lẽ đời đạo hạnh đánh phá nguyên nhân yếu kém thứ hai
của chúng ta được gọi là sân hận, trong Phật Giáo chúng
ta có học thuyết rất lợi ích và vô tận về lòng từ ái.
Lòng từ ái là nền tảng của Phật Giáo, (nền móng trên
đó học thuyết của Phật Giáo được xây dựng) không phải
Ðức Phật chỉ coi điều đó như một nguyên tắc đạo đức
đơn giản. Ngài đã lý giải nguyên tắc của lòng từ ái
trong cuộc sống cao thượng.
Rồi đến lòng từ bi - Karuna.
Lòng trắc ẩn phát sanh dễ dàng hơn. Bạn thấy người nào
gặp khó khăn, bạn thấy ai cần đến sự giúp đỡ của bạn,
tim bạn, tình yêu thương của bạn hướng tới người đó
và bạn vội vã giúp người ấy. Ðức tính vội vàng giúp
đỡ người- cảm thấy áy náy vì người khác đau khổ, đó
là một khía cạnh khác của lòng từ ái.
Rồi đến khía cạnh thứ ba, một
khía cạnh khó khăn hơn để thực hành, khía cạnh này đòi
hỏi tình thương và chịu đau khổ lớn lao được gọi là
Mudita - lòng hoan hỷ, đó là chia sẻ hạnh phúc của
người khác - quét sạch trong tâm tất cả những dấu vết
của ganh ghét và thèm muốn, để bạn có thể vui với hạnh
phúc của người khác, của người láng giềng và ngay cả
của kẻ thù.
Cuối cùng là khía cạnh thứ tư
của lòng từ ái và đó là sự thanh thản hoàn toàn, tâm xả
ly, Upekkha. Bạn không còn bạn, không còn thù, không ai
hơn, không ai kém. Bạn tuyệt đối không còn phân biệt người
này với người kia, và bạn hoàn toàn hòa đồng vào cái tính
thống nhất với tất cả chúng sinh, tất cả sự vật, tất
cả hoàn cảnh. Cho nên một khi bạn có thể sống một cuộc
đời với bốn đặc điểm này chi phối hành động của bạn
thì không còn chỗ cho sân hận, không có chỗ cho hơn thua,
không có chỗ cho tranh đua. Cho nên nguyên tắc thứ hai của
giới sẽ chịu trách nhiệm về chuỗi khó khăn mà chúng ta
sẽ có thể có.
Ðiều nghĩa lý nhất sau cùng, điều
mà bạn sẵn sàng tiến hành ngay, đó là Bhavana - thiền
định. Thiền định có nghĩa là huấn luyện tâm. Tiếng này
theo từ nguyên học tự nó có nghĩa là mở mang- sự phát triển
của tâm. Ðức Phật tin, và là một người tuyên bố sớm
nhất là mọi thứ bắt nguồn từ tâm con người (nhất thiết
do tâm tạo). Tổ chức mà tôi miêu tả có lời mở đầu trong
Hiến Pháp: "Vì chiến tranh khởi đi từ tâm con người, thì
chính nơi tâm con người có thể kiến tạo được hòa bình".
Ðiều này phản ảnh dòng đầu của câu kệ thứ nhất trong
Kinh Pháp Cú. Tâm thanh tịnh, tâm được huấn luyện, tâm mở
mang, tâm được kiểm soát theo ý muốn, tâm buông lung dẫn
đến những điều căng thẳng và chán chường, nhưng tâm biết
cảnh giác, biết tự phát triển, tự khám phá, và trong lòng
nó bí ẩn của đời sống, khó khăn của cuộc đời và sự
thực của đời sống, là kho tàng vĩ đại của con người.
Tôi không ngạc nhiên ngày nay có
sự say mê ở bộ phận thế giới có sự phát triển kỹ thuật
cao độ về tất cả các loại thiền định. Không có gì là
quan trọng về chuyện ai thuyết giảng cái gì hay triết lý
nào, hay kỹ thuật nào đem ứng dụng. Nhưng sự thực vẫn
là người ta bắt đầu nhận định được lúc tĩnh lặng
tập trung, lúc suy nghĩ thâm sâu, lúc chức năng của tâm được
kiểm soát đúng cách, là một yếu tố cần thiết cho hạnh
phúc của con người.
Từ 2500 năm qua, Ðức Phật đã
dạy đường lối này.và không có gì khác cần cho con người
ngày nay thì con người cần an lạc trong tâm. Con người muốn
thoát khỏi căng thẳng và chiến đấu chống lại chán chường.
Và tôi nhìn thấy câu trả lời trong Phật Giáo, nhất là ba
pháp Bố Thí, Trì Giới và Thiền Ðịnh.
Hãy nhìn vào nguyên tắc riêng của
Ðức Phật như căn bản hay sự khởi đầu cuộc đời đạo
lý của Ngài. Chúng ta biết nhiều người nghèo trở thành
giàu, nhưng nơi đây trường hợp người giàu trở thành nghèo,
đi tìm kiếm, như chúng ta có thể nói, an lạc trong tâm - đó
là phước báu vĩ đại nhất. Kết quả người ấy nhìn vào
chính mình, rồi dạy người khác sự cản trở lớn, nguồn
gốc của tất cả khó khăn, là sự luyến chấp.
Cho nên, nếu hôm nay có một người
nào đó đến nói rằng: "Tôi có thể đưa bạn thẳng đến
Niết Bàn chỉ trong một phút" Tôi nghĩ rằng hầu hết chúng
ta đều có lòng tha thứ. Người nào đó sẽ nói: "Tôi có
thể chờ đến khi con gái tôi lấy chồng không?" Một người
khác lại nói: "Tôi có thể chờ đợi đến Ðại Hội Thiện
Hữu Phật Giáo Thế Giới chấm dứt không?" Tôi không thể
đợi đến khi hoàn thành nhiệm vụ ở Bangkok?" Chúng ta đều
có lúc thích hơn khi mục tiêu tối hậu đến.
Dù quyết định của bạn ra sao
để tiến tới mục tiêu, có một điểm mà chúng ta không
thoát khỏi. Chúng ta không thể chối bỏ sự thực tất cả
những phát triển hiện đại không có gì để tiến dẫn mà
bất an, tranh giành cũng như căng thẳng và chán chường kết
liên với chúng. Phật Giáo đưa ra một số ít phương pháp
đơn giản hữu hiệu để chiến đấu với chúng. Với điều
này tôi cảm thấy Phật Giáo có một vai trò trong đời sống,
một vai trò mà trong các nước Phật Giáo giữ một phần quan
trọng. Trách nhiệm của chúng ta là chia sẻ tư duy, kiến thức
và kinh nghiệm của chúng ta càng nhiều càng tốt để cuối
cùng chúng ta đều nhìn thấy thông điệp của Ðức Phật,
bức thông điệp đem lợi ích cho nhân loại, không ngưng tiến
tới nhân loại ở khắp thôn cùng xóm vắng, ở khắp mọi
nơi trên thế giới.