12
Ý NGHĨA CỦA
CUỘC ÐỜI
Hòa Thượng
Narada Mahathera
Con người là ai?
Nguồn gốc con người? Con người đi về đâu? Mục đích của
cuộc đời là gì? Ðó là những câu hỏi quan trọng, câu trả
lời ảnh hưởng tất cả nhân loại.
Chúng ta hãy bắt đầu với những
gì là hiển nhiên và có thể nhận thức được đối với
tất cả. Con người là ai? Con người có một xác thân
nhìn thấy bằng giác quan của chúng ta hay bằng phương tiện
máy móc. Xác thân vật chất gồm có lực và đặc tính chất
luôn luôn ở trong tình trạng thay đổi.
Khoa học gia thấy khó khăn đinh
nghĩa vật chất là gì. Một số các triết gia định nghĩa
"vật chất là cái tiến hành thay đổi gọi là sự chuyển
động, và sự chuyển động tức những sự thay đổi tiến
hành trong vật?
Tiếng Pali gọi vật là Rupa
(Sắc) . Sắcù được giải thích là cái thay đổi hay tan rã.
Cái mà chính nó biểu thị cũng là một cách giải thích khác.
Theo Phật Giáo có bốn thành phần
vật chất căn bản. Chúng là Ðất (Pathavi), Nước (Apo),
Gió (Vayo) và Lửa (Tejo).
Pathavi có nghĩa là thành phần
vật chất mở rộng, thể nền của vật chất. Không có nó
vật thể không thể choán khoảng không. Tính chất cứng và
mềm thuần khiết liên hệ là hai điều kiện của thành phần
này. Thành phần mở rộng hiện hữu trong đất, nước, gió
và lửa. Chẳng hạn, nước ở trên được hỗ trợ bởi nước
bên dưới. Thành phần mở rộng này hợp với thành phần
chuyển động (gió) phát sanh áp suất hướng lên.
Apo là thành phần cố kết.
Không giống như Pathavi, nó không thể nắm được. Thành
phần này giúp cho các nguyên tử rải rác của vật chất kết
hợp lại cho ta khái niệm về xác thân.
Tejo là thành phần của hơi
nóng. Lạnh cũng là một hình thức của Tejo. Cả nóng
lẫn lạnh đều nằm trong Tejo vì chúng có sức mạnh
làm xác thân tăng trưởng, hay nói một cách khác, chúng là
năng lượng có sinh khí. Sự bảo tồn và phân hủy là do thành
phần này.
Vayo là thành phần chuyển
động. Chuyển động sinh ra do thành phần này. Sự chuyển
động được coi như lực hay máy phát ra hơi nóng. Cả hai
chuyển động và hơi nóng trong cảnh giới vật chất tương
úng với thức và nghiệp về phần tinh thần.
Bốn lực mạnh mẽ này không tách
rời nhau và liên quan lẫn nhau, nhưng thành phần này có thể
ưu thế hơn thành phần kia, chẳng hạn, thành phần mở rộng
ưu thế đất, sự cố kết trong nước, hơi nóng trong lửa
và sự chuyển động trong không khí.
Cho nên vật chất gồm lực và đặc
tính luôn luôn thay đổi, không bao giờ đứng nguyên một chỗ
trong hai khoảnh khắc liên tiếp. Theo Phật Giáo vật chỉ chịu
đựng đươc 17 chập tư tưởng trong khi các khoa học gia cho
rẳng vật chất chỉ chịu đựng 10 trên 27 phần một giây.
Vào lúc sanh, theo sinh vật học,
con người thừa hưởng từ cha mẹ một tế bào li ti bằng
một phần 30 triệu phần của một inch (1 inch = 2, 54 cm). "
Trong thời gian chín tháng, cái hạt bụi này lớn lên gấp
15,000 triệu lần lúc ban đầu để thành bào thai"- Cái tế
bào li ti lý-hóa là nền móng cơ thể con người.
Theo Phật giáo, sự giao cấu được
xác định vào lúc thụ thai.
Phối hợp với vật chất có một
yếu tố quan trọng khác trong bộ máy phức tạp con người.
Ðó là tâm. Ðúng nghĩa là nó làm vừa lòng một số nhà văn
trí giả nói là con người không phải là tâm cộng với thân,
mà là thân-tâm. Khoa học gia tuyên bố là đời sống nổi
lên từ vật và tâm từ đời sống. Nhưng họ không cho chúng
ta lời giải thích thỏa đáng về sự phát triển của tâm.
Không giống như xác thân vật chất,
cái tâm phi-vật-chất là vô hình, nhưng có thể cảm thấy
trực tiếp. Một câu thơ cổ lưu truyền như sau:
"Cái gì là tâm? Không có
vật chất"
"Cái gì là vật chất? Không bao
giờ là tâm"
Chúng ta nhận thức được những tư
tưởng và cảm nghĩ của chúng ta cùng nhiều điều khác nữa
bằng trực giác, và chúng ta kết luận sự hiện hữu của
chúng bằng phép loại suy.
Có một số từ ngữ bằng tiếng
Pali chỉ tâm: Mana, Citta, Vinnana là những từ đáng ghi
nhớ. Hãy so sánh từ người gốc Pali, để suy nghĩ, với từ
người tiếng Anh và tiếng Pali - Manussa có nghĩa là "người
đã phát triển thức".
Trong Phật Giáo không có sự phân
biệt giữa tâm và thức. Cả hai được dùng như từ đồng
nghĩa. Tâm có thể định nghĩa đơn giản là sự nhận thức
về một đối tượng bởi chưng không có một tác nhân hay
linh hồn chỉ huy mọi hoạt động. Tâm bao gồm trạng thái
tính thoáng qua luôn luôn trỗi lên rồi mất đi nhanh như tia
chớp. "Vì sinh ra để thành nguồn của nó và chết để trở
thành lối vào của nóù, nó bền bỉ tràn trề như con sông
nhận nước từ các suối nguồn bồi thêm vào dòng chảy của
nó". Mỗi thức nhất thời của dòng đời không ngừng thay
đổi, khi chết đi, truyền lại cho thức kế thừa toàn bộ
năng lượng của nó, tất cả những cảm tưởng đã ghi không
bao giờ phai nhạt. Cho nên mỗi thức mới gồm có tiềm lực
của thức cũ và thêm điều mới. Vì tất cả những cảm
nghĩ không phai nhạt được ghi vào cái tâm không ngừng thay
đổi như ghi vào tấm da cừu nạo, và tất cả những tiềm
lực được truyền thừa từ đời này tới đời kia, bất
chấp sự phân hủy vật chất tạm thời thân, nhớ lại những
lần sanh hay những biến cố trong quá khứ trở thành một
khả năng có thể xẩy ra. Nếu trí nhớ không thể có khả
năng xẩy ra chỉ tùy thuộc trên tế bào não thì không thể
nào được.
Giống như điện, tâm là lực mạnh
mẽ cả xây dựng lẫn phá hoại. Nó là con dao hai lưỡi có
thể sử dụng cho cả điều thiện và điều ác. Một tư tưởng
nổi lên từ một cái tâm vô hình có thể cứu hay phá hoại
cả thế giới. Môt tư tưởng như vậy có thể làm tăng trưởng
hay giảm đi dân cư của một quốc gia. Tâm tạo địa ngục
cho chính mình.
Ouspenky viết:
"Về năng lực tiềm tàng trong hiện
tượng về thức, tức tư tưởng, cảm nghĩ, ham muốn, chúng
ta khám phá ra cái tiềm lực to lớn của nó không thể đo
được và vô giới hạn nhiều hơn nữa. Từ kinh nghiệm cá
nhân, quan sát, từ lịch sử chúng ta biết rằng những ý tưởng,
cảm nghĩ, ham muốn, tự chúng phát sanh có thể giải phóng
năng lượng hết sức l?n, và tạo ra hàng loạt vô tận các
hiện tượng. Một ý tưởng có thể hoạt động hàng thế
kỷ và hàng thiên niên kỷ, và càng ngày càng lớn mạnh và
sâu thêm đem lại hàng loạt hiện tượng mới chưa từng có,
giải phóng năng lượng luôn mới này. Chúng ta biết những
tư tưởng tiếp tục sống và tác động dù tên tuổi những
người sáng tạo ra đã trở thành huyền thoại, giống như
tên các vị khai sáng những tác phẩm thi văn bất hủ cổ
xưa - những anh hùng, các nhà lãnh đạo và tiên tri. Những
lời của họ vẫn được nhắc nhở trên môi mọi người,
những ý tưởng của họ vẫn được nghiên cứu và bình luận".
"Chắc chắn, mỗi tư tưởng của
một thi hào chứa đựng một tiềm lực to lớn, giống như
sức mạnh của một hòn than, hay một tế bào sống, nhưng
còn vô cùng tinh tế hơn, hùng mạnh hơn, không thể lường
được."
Chẳng hạn, hãy quan sát, tiềm lực
nằm trong những lời dạy đầy ý nghĩa của Ðức Phật:
Tâm dẫn đầu các hành
vi, tâm là chủ, tâm tạo tác tất cả.
Tâm hay thức, theo Phật Giáo, trỗi
lên ở mỗi lúc khái niệm cùng với vật. Vậy nên thức hiện
diện trong bào thai. Thức sơ khởi, theo kỹ thuật được gọi
là tái sanh thức hay thức tái liên kết, tùy thuộc vào nghiệp
quá khứ của người liên quan. Cái dị biệt tinh tế về tinh
thần, trí thức và luân lý hiện tồn giữa loài người là
do Nghiệp mà thức tùy thuộc vào yếu tố thứ hai của con
người.
Ðể hoàn tất ba yếu tố xây dựng
thành con người có yếu tố thứ ba, hiện tượng của đời
sống nó tiếp sinh khí cho cả tâm và vật. Vì sự hiện diện
của đời sống, tái sanh trở thành hiện thực. Ðời sống
tự nó biểu hiện cả hiện tượng tinh thần lẫn vật chất.
Tiếng Pali hai dạng thức của đời sống được gọi là Nama
jivitindriya và Rupa jivitindriya (Danh và Sắc) - đời
sống tâm linh và vật chất.
Vật, tâm và đời sống là ba yếu
tố khác biệt làm thành con người. Với sự phối hợp của
nó, một sức mạnh hùng mạnh được biết là con người với
khả năng phi thường phát sanh. Con người trở thành vị sáng
tạo và kẻ tiêu diệt của chính mình. Nơi con người tìm
thấy một đống rác các tội lỗi và một kho đức hạnh.
Ở nơi con người thấy có kẻ đáng khinh, kẻ vũ phu, con người,
siêu nhân, trời và phạm thiên. Khuynh hướng tội lỗi và
thánh tính ngủ ngầm nơi con người. Con người vừa là phước
báu vừa là tai họa cho chính mình và cho người khác. Thực
ra, con người là cả một thế giới của chính mình.
Nguồn gốc của con người ra
sao? Ðó là câu hỏi thứ hai của chúng ta.
Hoặc phải có sự bắt đầu cho
con người hoặc không có sự bắt đầu. Những người thuộc
trường phái thứ nhất, mặc nhận nguyên nhân đầu tiên,
có hay không một lực vũ trụ hay một Ðấng Toàn Năng. Những
người thuộc trường phái thứ hai, bác bỏ nguyên nhân đầu
tiên, theo kinh nghiệm thông thường, nguyên nhân có bao giờ
trở thành hậu quả và hậu quả trở thành nguyên nhân. Trong
chu trình nguyên nhân và hậu quả, nguyên nhân thứ nhất không
thể nhận thức được.
Theo người ở trường phái thứ
nhất, đời sống phải có sự bắt đầu, theo trường phái
thừ hai, không có sự bắt đầu. Theo ý kiến của một số
người, quan niệm của nguyên nhân thứ nhất thật nực cười
như một tam giác vòng tròn.
Theo quan điểm khoa học, con người
là sản phẩm trực tiếp của tinh dịch của tế bào trứng
cung cấp bởi cha mẹ. Khoa học gia trong khi xác nhận "Omne
vivum exviro" - tất cả đời sống từ đời sống, xác nhận
tâm và đời sống tiến hóa từ cái không có đời sống.
Vậy thì, từ quan điểm khoa học,
con người nhất định do cha mẹ sinh ra. Theo nghĩa hẹp, đời
sống này đến trước đời sống kia. Về nguồn gốc của
chất nguyên sinh của đời sống, hay 'chất keo', khoa học gia
lấy cớ không biết.
Theo Phật Giáo, con người sinh ra
từ cái dạ con hoạt động. Cha mẹ chỉ cung cấp cho con người
lớp vật chất. Như vậy, chúng sinh đến trước chúng sinh.
Vào lúc thụ thai, Nghiệp tạo thành thức sơ khởi tiếp sinh
khí cho bào thai. Cái năng lượng Nghiệp vô hình phát sanh từ
kiếp sống quá khứ, sản sanh các hiện tượng tinh thần và
các hiện tượng đời sống trong một hiện tượng thực thể
đã có, để hoàn thành ba yếu tố làm thành con người.
Nói về sự thụ thai của một chúng
sinh, Ðức Phật dạy:
"Nơi có ba yếu tố phối hợp, cái
mầm của đời sống được trồng. Nếu người mẹ và người
cha cùng đến, nhưng không phải là thời gian người mẹ có
thể thụ thai, đứa con 'sẽ được sanh' không hiện diện,
không có mầm của đời sống được trồng. Nếu người mẹ
và người cha cùng đến, người mẹ trong thời kỳ có thể
thụ thai, nhưng 'đứa trẻ sẽ được sanh' không có mặt,
không có mầm sống được trồng. Nếu cha và mẹ cùng đến,
đúng là thời kỳ người mẹ có thể thụ thai, và đứa trẻ
'sẽ được sanh' cũng có mặt, rồi bởi sự phối hợp của
ba yếu tố, cái mầm của đời sống được trồng".
Nơi đây Gandhabba (đứa trẻ
sẽ được sanh) ngụ ý một chúng sanh phù hợp sẵn sàng để
sinh ra từ một dạ con riêng biệt. Từ này chỉ dùng trong
mối quan hệ đặc biệt này; không được hiều lầm là một
linh hồn vĩnh viễn.
Vì một chúng sanh sẽ sanh nơi đây,
thì một chúng sanh phải chết nơi nào đó. Cái sanh của một
chúng sanh tương ứng với cái chết của một chúng sanh trong
đời quá khứ y như theo lời lẽ thông thường, mặt trời
mọc ở chỗ này có nghĩa là mặt trời lặn ở chỗ khác.
Ðức Phật dạy: - "Cái khởi thủy
đầu tiên của chúng sanh bị che lấp bởi vô minh và gông
cùm bởi tham ái, lạc đường chệch hướng, không thể nhận
thức được."
Cái dòng đời trôi lăn vô tận
với điều kiện nó được tiếp tế bởi nước bùn nhơ của
vô minh và tham ái. Khi hai điều này bị cắt đứt hoàn toàn,
thì lúc đó dòng đời mới ngưng, tái sanh mới chấm dứt
như trường hợp của các Ðức Phật và A La Hán. Cái khởi
thủy chủ yếu của dòng đời này không thể xác định được
vì là một giai đoạn không thể nhận thức được khi cái
lực đời sống không đầy với vô minh và tham ái.
Ðức Phật chỉ nhắc đến nơi
đây cái bắt đầu của dòng đời của chúng sinh đang sống.
Nó được để lại cho các khoa học gia ức đoán về nguồn
gốc và sự tiến hóa của vũ trụ.
Ngay tại phần đầu có nói đến
Ðức Phật không có hoài bão muốn giải quyết tất cả những
vấn đề đạo đức và triết lý làm nhân loại lúng túng.
Ngài cũng không đề cập đến ức thuyết và lý thuyết không
có khuynh hướng về sự khai trí hay giác ngộ. Ngài cũng chẳng
đòi hỏi niềm tin mù quáng của tín đồ về nguyên nhân đầu
tiên. Ngài quan tâm nhất đến một vấn đề tu tập đặc
biệt: đó là khổ đau và chấm dứt khổ đau, tất cả những
vấn đề khác hoàn toàn không cần lưu ý tới.
Có lần, một thầy Tỳ Kheo tên
là Malunkyaputta, không muốn sống một cuộc đời thánh thiện,
không muốn hoàn tất sự giải thoát từng bậc một, tìm đến
Ðức Phật và đòi Ngài trả lời về một số vấn đề có
tính cách ức đoán và đe dọa sẽ cởi áo nếu không được
Ðức Phật trả lời thỏa đáng.
"Bạch Ðức Thế Tôn, những lý
thuyết này không được sáng tỏ bị bỏ qua môt bên và bị
Ðấng Thế Tôn bác bỏ như thế giới này bất diệt hay không
bất diệt, thế giới này tận cùng hay không tận cùng. Nếu
Ðấng Thế Tôn soi sáng cho con những câu hỏi này, con sẽ
tiếp tục sống đời thánh thiện, nếu không được soi sáng,
con sẽ từ giã những giới cấm và trở về đời sống thường
dân.
Nếu Ðấng Thế Tôn biết thế giới
này trường cửu, Thế Tôn soi sáng cho con thế giới này trường
cửu, nếu Ðấng Thế Tôn biết thế giới này không trường
cửu, Ðấng Thế Tôn soi sáng cho con thế giới này không trường
cửu. Trong trường hợp này, chắc chắn với người không
biết và thiếu tuệ giác, điều phải nói ngay là: Tôi không
biết, tôi không có tuệ giác"
Ðức Phật bình tĩnh hỏi vị tỳ
kheo sai lầm này phải chăng sự chấp nhận đời sống thánh
thiện có điều kiện gì liên quan đến những lời giải đáp
của vấn đề.
Vị tỳ kheo trả lời: "Thưa không,
Bạch Ðức Thế Tôn".
Ðức Phật liền khuyên nhủ không
nên phí phạm thì giờ và năng lực vào những ức đoán có
hại dến việc tiến bộ tinh thần, Ngài nói: "Này Malunkyaputta,
ngươi phải nói như vầy: 'Tôi không sống đời Thánh Thiện
theo Ðấng Thế Tôn cho đến khi nào Ðấng Thế Tôn soi sáng
cho tôi những câu hỏi ấy, con người đó sẽ chết trước
khi những câu hỏi này được sáng tỏ bởi Ðức Thế Tôn'."
Cũng như một người bị bắn trúng
bằng mũi tên độc, bạn bè và người thân muốn tìm thầy
giải phẫu, nhưng người bị bắn lại nói rằng: "Tôi không
muốn mũi tên độc được lấy ra cho đến khi nào tôi chưa
biết được chi tiết về người bắn, vì đâu tôi bị bắn,
bản chất của mũi tên đã bắn tôi, vân vân...". Người đó
sẽ bị chết trước khi biết những điều đó.
"Cũng đúng như vậy, kẻ nói: "Tôi
không sống đời thánh thiện cho đến khi nào Ðấng Thế Tôn
soi sáng cho tôi phải hay không thế giới này trường cửu
hay không trường cửu, phải hay không phải thế giới này
tận cùng hay vô cùng- Kẻ ấy sẽ chết trước khi những câu
hỏi này được sáng tỏ bởi Ðức Thế Tôn.
"Nếu tin thế giới này trường
cửu, thì việc tu tập đời sống Thánh Thiện sẽ ra sao? Trường
hợp như vậy - Không! Không có ảnh hưởng cả! "Nếu tin thế
giới này không trường cửu, việc tu tập đời sống Thánh
Thiện sẽ ra sao? Trường hợp này cũng vậy - Không! Không
có ảnh hưởng gì cả! Nhưng liệu có phải hay không phải
tin thế giới trường cửu hay không trường cửu, thế giới
tận cùng hay vô cùng, vẫn có sanh, già, chết, sự dập tắt
đời sống này mà Như Lai biết.
Này Malunkyaputta, Như Lai không khám
phá ra xem thế giới này trường cửu hay không trường cửu,
thế giới này tận cùng hay vô cùng. Tại sao Như Lai không
khám phá ra những điều này? Vì những điều ấy không mang
lợi ích, không liên quan gì đến căn bản của đời sống
thánh thiện, không dẫn đến nhàm chán, đến điềm tĩnh,
đến chấm dứt, đến tĩnh lặng, đến trí tuệ trực giác,
đến giác ngộ, đến Niết Bàn. Cho nên ta không khám phá những
điều ấy.
Con người đi về đâu? Ðó
là câu hỏi thứ ba của chúng ta.
Theo thuyết duy vật cổ, theo tiếng
Pali và Sanscrit, được gọi là Lokayata, con người bị tiêu
hủy sau khi chết, không để lại một lực nào để được
sản sanh bởi người đó. "Con người gồm có bốn thành phần.
Khi con người chết, thành phần tiên khởi (đất) trở về
thành đất, thành phần nước trở về nước, thành phần
hơi nóng trở về thành lửa, và thành phần gió trở về không
khí; cảm giác qua không gian. Người khôn, người dại, khi
xác thân phân hủy, đều không còn hoại diệt nữa, và không
còn gì nữa. Không có thế giới khác và Chết là hết. Cái
thế giới hiện tại là thực. Cái mà ta gọi thiên đường
và địa ngục chỉ là phát minh của người lừa đảo."
Người theo duy vật chủ nghĩa chỉ
tin cái mà có thể nhận biết bởi giác quan. Như vậy chỉ
có vật chất mới là thực. Các yếu tố chủ yếu là bốn
thành phần đất nước, gió, lửa. Ðời sống của cái thức
bản thân, xuất hiện một cách huyền bí từ chúng, y như
thần xuất hiện khi Aladin chà xát vào cây đèn. Não tiết
ra tư tưởng giống như gan tiết ra mật.
Theo quan điểm của những người
duy vật, niềm tin vào thế giới bên kia giống như Sri Radhakrishnan
tuyên bố: "là dấu hiệu của sự nói láo, đàn bà, yếu đuối,
hèn nhát và bất lương."
Có một tôn giáo cho rằng con người
không có quá khứ. Cái hiện tại là cái chuẩn bị cho hai
cái bất diệt thiên đường và địa ngục. Liệu những nơi
chốn hay trạng thái đó có phải là nơi con người trong tương
lai có thể phải chịu đau khổ triền miên trong địa ngục.
Cho nên con người không bị phân hủy sau khi chết mà cái cốt
lõi (linh hồn) đi vào bất diệt.
"Bất cứ ai", như Schopenhaeur nói,
xem mình sanh ra từ cái không, phải nghĩ rằng mình cũng sẽ
trở thành không; cho rằng thời gian bất diệt đã qua đi trước
mình, thì một cái bất diệt thứ hai mới bắt đầu, do đó
mình sẽ không bao giờ ngưng hiện hữu, là một tư tưởng
quái dị.
Một trường phái tư tưởng tin
vào quá khứ và hiện tại không nói là con người bị phân
hủy sau khi chết. Họ cũng không nói rằng con người bất
diệt sau khi chết. Họ tin vào chuỗi tử sinh vô tận. Theo
quan niệm của họ, dòng đời con người trôi lăn vô cùng
tận với điều kiện nó bị đẩy đi bởi Nghiệp lực, hành
dộng của chính mình. Theo đúng tiến trình, cái thực thể
của con người có thể tái nhập vào sự thật tối hậu từ
đó linh hồn bắt nguồn.
Phật Giáo tin vào hiện tại. Với
cái hiện tại làm căn bản để lý luận về quá khứ và
tương lai. Giống như đèn điện là sự biểu lộ ra bên ngoài,
năng lượng điện vô hình, tuy nhiên con người chỉ là sự
biểu lộ ra ngoài năng lượng vô hình được biết là Nghiệp
vô hình không biểu lộ ra bên ngoài. Bóng đèn có thể vỡ,
điện tắt, nhưng dòng điện vẫn còn, ánh sáng lại tái sanh
vào một bóng đèn khác. Cũng giống như vậy, nghiệp lực
vẫn giữ nguyên không bị xáo trộn bởi cái xác thân tan rã,
và cái thức hiện tại chết đi dẫn đến một thức mới
phát sanh trong một sự ra đời khác. Nơi đây dòng điện giống
như Nghiệp lực, và cái bóng đèn có thể so sánh với cái
tế bào - trứng do cha mẹ cung cấp.
Nghiệp quá khứ là điều kiện
cần thiết cho cái sanh hiện tại, và Nghiệp hiện tại phối
hợp với Nghiệp quá khứ là điều kiện cần thiết cho tương
lai. Hiện tại là con - kết quả của quá khứ, và trở thành
cha mẹ - nguồn gốc của tương lai.
Tái sanh mà người Phật Tử không
chỉ coi là lý thuyết mà là một sự thực có thể kiểm chứng,
hình thành giáo lý căn bản Phật Giáo dù rằng mục tiêu Niết
Bàn có thể đạt ngay trong đời sống này. Lý tưởng Bồ
Tát và chủ nghĩa tương quan về tự do nhắm đạt sự toàn
bích căn cứ vào học thuyết tái sanh.
Tài liệu ghi về niềm tin vào tái
sanh, được coi như đầu thai hay luân hồi, được chấp nhận
bởi các triết gia như Pythagoras và Plato, các thi sĩ như Shelley,
Tennyson, và Woodsworth, và nhiều người bình thường ở phương
Ðông cũng như phương Tây.
Học thuyết về tái sanh của Phật
Giáo khác biệt về lý thuyết đầu thai và luân hồi của
các hệ thống khác, vì Phật Giáo bác bỏ sự tồn tại của
cái linh hồn bất diệt tạo ra bởi Thượng Ðế, hay bắt
nguồn từ cái thực chất thần thánh (Paramatma).
Cái thực của hiện tại không cần
chứng minh vì nó hiển nhiên. Cái thực của quá khứ căn cứ
vào trí nhớ và báo cáo, và cái thực của tương lai căn cứ
vào chủ tâm và suy luận.
Ta có thể lập luận đời sống
có cái khởi thủy trong quá khứ vô tận và cái bắt đầu
ấy hay Nguyên Nhân Ðầu Tiên là Ðấng Sáng Tạo.
Trong trường hợp này không có lý
do gì tại sao cùng sự đòi hỏi lại không được chấp thuận
cho Ðấng Sáng Tạo được chuẩn y này.
"Hơn thế nữa, nếu sanh là cái
bắt đầu tuyệt đối, thì cái chết phải là cái tận cùng
tuyệt đối, và giả định rằng con người từ cái không
mà ra, cần dẫn đến giả định chết là cái tận cùng tuyệt
đối."
Cho nên chết không phải là sự
phân hủy hoàn toàn con người, dù quãng đời riêng chấm dứt,
lực để phát động nó không bị phá hủy.
Sau cái chết dòng đời của con
người tiếp tục vô tận chừng nào nó vẫn được cung cấp
với nước vô minh và tham ái. Nói theo thói thường, con người
không nhất thiết sinh làm con người vì con người không phải
là chúng sinh sống duy nhất. Hơn thế nữa, đất, một hạt
bụi hầu như vô nghĩa trong vũ trụ, không phải là nơi duy
nhất mà con người tìm tái sanh. Con người có thể sanh vào
các bình diện có thể ở được.
Nếu con người muốn chấm dứt
hàng loạt sanh, con người có thể làm như Ðức Phật và các
Ðức A La Hán đã làm bằng cách chứng Niết Bàn, ngưng hoàn
toàn tất cả các dạng thức tham ái.
Con người đi về đâu? Con người
có thể về nơi mong muốn hay ưa thích nếu thích hợp với
nơi đó. Nếu, không có lời ước nguyện đặc biệt nào,
con người có thể rời con đường đó và sẵn sàng theo các
biến chuyển trong tiến trình, phải đi đến chỗ hay xứ xứng
đáng tùy theo Nghiệp của mình.
Theo nguyên tắc thần học, Spencer
Lewis lập luận con người được tự ý tạo ra và không có
ham muốn, trong lúc sáng tạo chẳng có phước lành và cũng
chẳng bất hạnh, cao quý hay sa đọa, từ bước đầu trong
tiến trình sáng tạo hình hài cho đến hơi thở cuối cùng,
không kể gì đến ham muốn cá nhân, hy vọng, tham vọng, tranh
đấu hay chí thành cầu nguyện. Ðó là thuyết định mệnh
thần học.
"Học thuyết cho rằng tất cả mọi
người đều tội lỗi và có cái tội chủ yếu của Adam là
một thách thức đối với công bằng, lòng nhân từ, tình
thương, và lòng ngay thẳng tuyệt đối."
Huxley nói: "Nếu chúng ta cho rằng
ai đó đã thiết lập vũ trụ tuyệt vời này tiến bước,
với tôi thật rõ ràng người đó thực không nhân từ và
công bằng chút nào, trong bất cứ ý nghĩa nào dễ hiểu của
lời nói, người đó hiểm ác và bất công."
Theo Einstein: "Nếu Thượng Ðế có
quyền vô hạn thì mỗi việc xảy ra kể cả mỗi hành động,
tư tưởng, cảm nghĩ, và hoài vọng của con người thì phải
là công việc nơi Ðấng đó; Làm sao có thể nghĩ rằng con
người chịu trách nhiệm về hành vi và suy nghĩ của mình
trước một Ðấng Toàn Năng như vậy?"
"Có quyền thưởng phạt, ở một
mức nào đó, Ngài tự phải phán xét. Làm sao sự phán xét
này có thể kết hợp lòng tốt và đạo đức quy cho Ngài?"
Theo Charles Bradlaught - "Sự hiện
hữu của tội lỗi là một chướng ngại ghê gớm cho người
hữu thần. Ðau đớn, lầm than, tội ác, nghèo khổ đối đầu
với người ủng hộ cho lòng nhân từ bất diệt, và thách
thức với quyền uy không bác được, tuyên ngôn Thần Thánh
như toàn thiện, toàn trí, và toàn thế lực."
Bình luận về cái đau khổ của
con người và Thượng Ðế, Giáo Sư J.B.S. Haldane viết:
"Hoặc đau khổ cần thiết để
toàn thiện đặc tính con người, hay Thượng Ðế không toàn
năng. Lý thuyết thứ nhất không được chấp nhận bởi thực
ra một số người đau khổ chút ít nhưng lại may mắn nhờ
tổ tiên và giáo dục có những đặc tính rất tốt. Phản
đối lý thuyết thứ hai là chỉ có sự liên hệ với vũ trụ
như một tổng thể có một khoảng trống trí thức phải được
lấp đầy bởi sự mặc nhận về thánh thần. Và đấng sáng
tạo có thể tạo ra bất cứ gì đấng đó muốn."
Trong thi phẩm "Thất Vọng" ở thời
cổ, Lord Tennyson táo bạo đả kích Thượng Ðế, ghi trong Isaiah,
nói:
"Ta tạo hòa bình và tạo tội lỗi
"Cái Gì! Ta phải gọi thế nào
về tình thương vô cùng tận đã phục vụ chúng ta quá tốt
như vậy?
"Ác độc vô cùng tận hơn là tạo
một địa ngục vĩnh viễn."
Những nhà văn tín điều của chức
quyền thời cổ hách dịch tuyên bố là Thượng Ðế tạo
con người theo hình ảnh của chính Ngài. Một số nhà tư tưởng
hiện đại, trái lại, nói con người tạo ra Thượng Ðế
theo hình ảnh của chính con người. Với văn minh tiên bộ,
quan niệm của con người về Thượng Ðế càng ngày càng tinh
tế hơn. Hiện nay có khuynh hướng thay thế Thượng Ðế có
cá tính con người bằng một Thượng Ðế khách quan.
Voltaire nói Thượng Ðế là sự
sáng tạo cao quý của con người. Tuy nhiên không thể chấp
nhận đấng toàn năng, có mặt tại khắp nơi là hình ảnh
thu nhỏ của mọi thứ lương thiện - hoặc cả trong hoặc
cả ngoài vũ trụ.
Mục đích của đời sống là
gì? Ðó là câu hỏi cuối cùng của chúng ta. Câu này có
thể gây ra tranh luận. Về quan điểm vật chất nó thế nào?
Khoa học gia trả lời:
"Ðời sống có mục đích
không?
Thế nào, ở đâu và bao giờ?
Ngoài không gian có vũ trụ, có
mặt trời
Có trái đất, có đời sống, có
con người
và còn nhiều nữa đến sau
Nhưng về Mục Ðích: của ai hay
nguồn gốc? Tại sao, Không ai.
Vì nhà duy vật học hạn chế mình
trong các dữ kiện cảm giác và phúc lợi vật chất hiện
tại, không màng tới giá trị tinh thần, họ nắm giữ quan
niệm trái ngược hẳn với các nhà đạo đức. Theo quan điểm
của họ, không có mục đích - vì những thứ đó không thể
có mục đích.
"Ai là người tô mầu tuyệt vời
cho các con công, hay ai làm cho con chim cu gáy cúc cu hay như thế?
Ðó là lý luận chính mà người duy vật cho rằng mọi thứ
đều do luật thiên nhiên của mọi sự vật."
"Ăn, uống, và hãy vui vẻ, vì chết
đến với tất cả mọi người, kết thúc cuộc đời của
chúng ta", có vẻ là lý tưởng đạo đức theo hệ thống của
họ. Theo quan niệm của họ, Sri Radhakrishman viết: "Ðức hạnh
là ảo tưởng, thích thú mới là thực tại. Chết là kết
thúc cuộc đời. Tôn giáo là một sự lầm lạc khờ dại,
một bệnh tâm thần. Có sự ngờ vực trong mọi việc thiện,
cao quý, trong sạch và từ bi. Lý thuyết đó bênh vực chủ
nghĩa nhục dục, ích kỷ, và xác nhận mạnh mẽ ý muốn mãnh
liệt. Không cần phải kiểm soát đam mê và bản năng vì chúng
là di sản tự nhiên cho con người".
Savadarsana Sangrala nói:
"Trong khi đời sống là của
bạn, hãy sống vui vẻ
Không ai có thể thoát khỏi con
mắt theo dõi của tử thần
Một khi tấm thân này của bạn
bị cháy
Làm sao nó có thể trở lại được?"
"Trong khi cuộc sống vẫn còn để
cho con người sống hạnh phúc, hãy để cho hắn được dùng
bơ sữa dù rằng hắn sẽ phải mang nợ"
Vậy thì chúng ta hãy quay về với
khoa học để có giải đáp cho câu hỏi. "Tại sao?"
Nên lưu ý rằng khoa học là sự
nghiên cứu nhiều thứ, nghiên cứu xem nó ra sao và tôn giáo
là sự nghiên cứu về tư tưởng, một sự nghiên cứu phải
là như thế."
Sir J. Arthur Thompson cho rằng khoa
học không đầy đủ vì khoa học không trả lời được câu
hỏi "Tại sao".
Thảo luận về mục đích vũ trụ,
Bertrand Russell tuyên bố ba quan điểm - hữu thần, phiếm thần,
và hiện ra. Về cái đầu tiên, ông viết:
"Cho là Thượng Ðế sáng tạo ra
thế giới và ban hành luật thiên nhiên vì đoán trước một
số tốt sẽ tiến hóa. Trong quan điểm này, mục đích tồn
tại một cách cố ý trong tâm đấng sáng tạo, đứng bên
ngoài sự sáng tạo của vị này.
"Trong dạng thức phiếm thần, Thượng
đế không ở ngoài vũ trụ, nhưng chỉ là vũ trụ được
coi như tổng thể. Cho nên không thể có hành động sáng tạo,
mà có một loại lực sáng tạo trong vũ trụ, lực là nguyên
nhân phát triển theo một kế hoạch mà lực sáng tạo này
có thể được truyền trao nói là đã có trong tâm trong suốt
tiến trình.
"Trong dạng thức 'hiện lên', mục
đích lại càng mù mờ. Tại giai đoạn trước đó, không có
gì trong vũ trụ được nhìn thấy trước, tại giai đoạn
sau đó nhưng một loại thúc đẩy khó thấy dẫn đến sự
thay đổi mang lại nhiều dạng thức được phát triển hơn
vào hiện hữu, cho nên, đúng hơn là tối nghĩa, cái tận cùng
lại ẩn tàng vào lúc bắt đầu."
Chúng tôi không bình luận. Những
câu trả lời trên dây chỉ là quan điểm của các nhà tôn
giáo và tư tưởng gia lớn khác nhau.
Có mục đích vũ trụ hay không,
câu hỏi nêu lên về sự vô ích của các con sán dây, con rắn,
con muỗi vân vân.., và sự hiện hữu của bệnh chó dại.
Sao người ta có thể tính nó là một vấn đề của tội lỗi?
Có phải động đất, lụt lội, bệnh dịch hạch, và chiến
tranh đã được trù tính?
Bầy tỏ quan điểm riêng về mục
đích vũ trụ, Russell mạnh dạn tuyên bố:
"Tại sao, trong bất cứ trường
hợp nào, có sự vinh danh cho con người? Còn về con sư tử
hay con hùm thì sao? Chúng tiêu diệt ít thú vật và sinh mạng
con người hơn chúng ta, và còn đẹp đẽ hơn chúng ta. Về
các con kiến thì sao? Chúng điều hành tập đoàn của chúng
giỏi hơn bất cứ tên Phát xít nào. Phải chăng thế giới
của chim sơn ca, oanh yến, và nai không tốt đẹp hơn thế
giới ác độc, bất công và chiến tranh của con người? Những
người tin tưởng vào mục đích vũ trụ lạm dụng nhiều
về cái coi là trí thông minh của chúng ta. Nhưng những bản
văn của họ khiến ta nghi ngờ. Nếu tôi được trao quyền
vô hạn, và hàng triệu năm để chứng nghiệm, tôi sẽ không
nghĩ rằng con người có nhiều điều để kiêu hãnh về những
thành quả cuối cùng trong tất cả nỗ lực của tôi".
Giờ đây, Phật Giáo trả lời ra
sao câu hỏi "Tại Sao?"
Phật Giáo bác bỏ sự hiện hữu
của một Ðấng Sáng Tạo. Theo quan điểm của Phật Giáo không
thể có một mục đích định trước. Phật Giáo cũng không
tán thành thuyếtù định mệnh, quyết định luận, hay tiền
định kiểm soát tương lai con người không phụ thuộc vào
hành động tự do của con người. Trong trường hợp như vậy,
tự nguyện trở thành một lực tuyệt đối và đời sống
trở thành thuần túy máy móc.
Ở một mức độ rộng lớn, hành
động của con người ít nhiều máy móc, ảnh hưởng bởi
việc làm của chính mình, sự nuôi dưỡng và môi trường
chung quanh vân vân... Nhưng ở một mức độ nào đó, con người
có thể sử dụng sự tự nguyện của mình. Chẳng hạn, một
người từ một sườn núi rơi xuống đất thì cũng chẳng
khác gì một hòn đá vô tri vô giác rơi. Trong trường hợp
này người đó không thể sử dụng lòng tự nguyện của mình
mặc dù người đó có tâm ý không giống như hòn đá. Nếu
người đó trèo núi, ắt hẳn người đó đã sử dụng lòng
tự nguyện và hành động theo ý thích. Trái lại, hòn đá
không có tự do để làm như vậy. Con người có quyền lực
để chọn giữa cái phải và cái trái, giữa cái tốt và cái
xấu. Con người có thể hoặc thù địch hay thiện cảm với
chính mình và người khác. Tất cả tùy thuộc tâm mình và
sự phát triển của tâm.
Mặc dù không có mục đích đặc
biệt trong cuộc sống, con người có tự do để có một mục
đích rõ ràng trong đời.
Cho nên, thế nào là ý nghĩ của
đời?
Ouspenky viết:
"Một số người nói ý nghĩa của
cuộc đời là trong phục vụ, đầu hàng cái ta, quên mình,
hy sinh mọi thứ kẻ cả đời mình. Một số khác nói ý nghĩa
rõ ràng trong cuộc đời là điều thích thú, làm nhẹ bớt
sự mong đợi hãi hùng cuối cùng về cái chết. Một số nói
ý nghĩa của cuộc đời là toàn hảo, tạo môt tương lai tốt
đẹp hơn ở bên kia thế giới, hay trong kiếp tương lai cho
chính chúng ta. Một số khác nói ý nghĩa của cuộc đời là
tiến tới cái không hiện hữu, vẫn có một số nói ý nghĩa
của cuộc đời là trong sự kiện toàn nòi giống, trong việc
tổ chức đời sống trên trái đất, trong khi cũng có những
người bác bỏ ngay cả đến toan tính muốn biết ý nghĩa
của cuộc đời."
Phê bình tất cả những quan điểm
này, những nhà văn tri thức viết:
"Cái sai lầm của tất cả những
lời giải thích ấy là chỗ thực ra tất cả đều cố gắng
khám phá ý nghĩa cuộc đời ở bên ngoài, hoặc trong bản
tính nhân loại hoặc trong cuộc sống khó thấy bên kia thế
giới, hay một lần nữa trong sự chống lại sự tiến hóa
của cái "Tôi" qua nhiều hiện thân liên tiếp - luôn luôn trong
cái gì đó bên ngoài của đời sống hiện tại của con người.
Nhưng thay vì ức đoán, đơn giản là con người hãy nhìn vào
chính mình, rồi họ sẽ thấy sự thực ý nghĩa của cuộc
đời xét cho cùng không phải quá tối nghĩa. Nó cốt ở kiến
thức."
Theo quan điểm của người Phật
Tử, ý nghĩa của cuộc đời là sự Giác Ngộ Tối Thượng,
tức sự hiểu biết đúng về ta là gì. Ðiều này chỉ có
thể đạt được nhờ hạnh kiểm cao cả, huấn luyện tinh
thần, thâm nhập tuệ giác; hay nói một cách khác do phục
vụ và kiện toàn.
Trong phục vụ, gồm có lòng từ-ái
vô biên, từ bi, và tuyệt đối vị tha thúc đẩy ta phục
vụ người khác. Kiện toàn bao gồm thanh tịnh và trí tuệ
tuyệt đối.