10
ÐƯỜNG ÐẾN
HẠNH PHÚC TỐI THƯỢNG
Tổng hợp
từ nhiều tài liệu
Tất cả mọi người
đều muốn được sung sướng. Tất cả mọi người đi tìm
hạnh phúc. Con người tìm hạnh phúc hết thời đại này đến
thời đại khác nhưng chẳng bao giờ tìm thấy trong đường
lối đã được tìm kiếm bằng cách thích nghi những điều
kiện của thế giới bên ngoài và không lưu ý gì đến thế
giới bên trong của tâm. Lịch sử thế giới chứng minh điều
đó. Cải cách xã hội, cải tổ kinh tế, sửa đổi luật
pháp, canh tân chính trị, tuy có ý tốtá và tính toán kỹ
nhưng chưa bao giờ mang được hạnh phúc hoàn toàn và thực
sự cho con người. Tại sao?
Khi một mớ hoàn cảnh bất toại
nguyện này được loại bỏ, một bất toại nguyện khác lại
xuất hiện, và khi bất toại nguyện này được loại bỏ
thì một bất toại nguyện khác lại hiện ra. Cái xuất hiện
và tái xuất hiện, cái phát sanh rồi lại tàn đi là cốt
lõi của tất cả sự vật và hoàn cảnh thế gian. Không bao
giờ có thể có được việc sản xuất hàng loạt hạnh phúc
thực sự. Ðó là một điều gì riêng tư và cá nhân. Ðiều
đó đến từ bên trong chứ không phải bên ngoài. Ðiều đó
cũng không phải là vì thế giới bên ngoài mà ta đi tìm kiếm
hạnh phúc mà là thế giới bên trong của tâm.
Khoa học hiện đại tuyên bố không
có gì trong vũ trụ này tĩnh lặng. Mọi thứ đều năng động,
mọi thứ đều chuyển động. Không có gì đứng nguyên một
chỗ. Chúng ta hoặc tiến lên hoặc lùi xuống. Chúng ta hoặc
trở nên tốt hơn, hạnh phúc hơn hoặc tiến về hướng tội
lỗi và tích lũy phiền não. Muốn được hạnh phúc thì phải
vượt qua phiền não. Muốn thắng lướt phiền não, Ðức Phật
chỉ cho nhân loại con đường dẫn đến loại bỏ phiền não.
Con đường tới hạnh phúc là Ðường
Bát Chánh Ðạo cao quý. Con đường này dược ai đó đặt
chân vào trước khi ta có thể gọi là Con Ðường Bát Chánh
Ðạo. Trong từ "Ðạo" (Ðường) vốn được nghĩ người nào
đó đã giẫm bước vào trước đây.
Con Ðường không thể đột nhiên
hiện hữu. Người nào đó phải trước tiên cắt rừng, làm
cho quang đãng rồi mới bước đi được. Tương tự như vậy,
Bát Chánh Ðạo cao quý đã được đặt bước trước đó
bởi nhiều Ðức Phật và các bậc A La Hán. Ðức Phật đã
khám phá ra con đường này nhưng không tạo ra nó, vì nó đã
hiện hữu từ quá khứ xa xăm. Ðương nhiên đó là một con
đường cổ (Parana Magga).
Bát Chánh Ðạo cao quý là Con Ðường
phải bước vào. Ðường này là một điều thực tiễn thiết
yếu. Muốn biết và chứng nghiệm chân lý này, ta phải giẫm
bước vào con đường đó. Con đường này chứa đựng một
sự tập hợp thận trọng và khôn ngoan tất cả những điều
kiện quan trọng tất yếu cho việc phát triển tinh thần của
con người. Bát Chánh Ðạo được phân chia thành ba nhóm: Giới
(Sila: hạnh kiểm, đạo đức), Ðịnh (Samadhi: kỷ
luật tinh thần), và Huệ (Panna: trí tuệ). Con đường
này duy nhất với Phật Giáo, và khác biệt hẳn với tất
cả tôn giáo và triết lý khác. Ðó là tiêu chuẩn về tinh
thần và hạnh kiểm dẫn đến chấm dứt khổ đau, phiền
não, và thất vọng để kiện toàn hòa bình, Niết Bàn.
Tám yếu tố của Bát Chánh Ðạo
là:
HUỆ:
1. Chánh Kiến
2. Chánh Tư Duy
GIỚI:
3. Chánh Ngữ
4. Chánh Nghiệp
5. Chánh Mạng
ÐỊNH:
6. Chánh Tinh Tấn
7. Chánh Niệm
8. Chánh Ðịnh
Nhắc đến con Ðường này, trong bài
thuyết giảng đầu tiên, Ðức Phật gọi con đường này là
Trung Ðạo (Majjihima patipada), vì nó tránh hai cực đoan.
Quá say mê lạc thú nhục dục trần tục thấp hèn dẫn đến
tai hại là một cực đoan, tự hành xác dưới hình thức tu
khổ hạnh làm cho đau đớn, thấp hèn dẫn đến tai hại là
một cực đoan.
Ta phải nhớ rằng 'con đường'
chỉ là cách diễn đạt bóng bẩy. Theo quy ước chúng ta nói
về đi trên con đường, trong nghĩa ý nghĩa tột cùng, tám
bước có nghĩa tám yếu tố tinh thần. Chúng phụ thuộc và
liên quan lẫn nhau và ở mức độ cao nhất, chúng hành hoạt
đồng thời, chúng không hoạt động lần lượt theo số thứ
tự. Ngay cả ở mức độ thấp, mỗi yếu tố có đượm vẻ
chánh kiến ở một mức độ nào đó, vì đó là ý chủ đạo
của Phật Giáo.
Với lời nói mạnh mẽ, Ðức Phật
đã cảnh cáo tín đồ không được chỉ chú ý vào sách vở
như sau:
- Dù tụng nhiều kinh, mà
không hành động phù hợp, con người vô ý này giống như
người chăn bò đếm trâu bò không phải của mình (không có
được sản phẩm về bò). Người đó không có phần thành
quả của một người tĩnh lặng.
- Dù tụng kinh ít, nhưng hành động
đúng theo giáo lý, bỏ tham, sân si, có chánh kiến, tâm người
đó hoàn toàn giải thoát, không vương mắc điều gì ngay bây
giờ và sau này, người đó có phần thành quả của người
tĩnh lặng. (Kinh Pháp Cú)
Sự đạt được mục tiêu cuối cùng
của Phật Giáo (Niết Bàn) không đòi hỏi sự tinh thông triết
lý sâu xa và thâm thúy của Phật Giáo. Ðiều đòi hỏi là
sự phát triển không ngưng tâm ý qua quá trình đạo đức
và thiền định. Ðúc Phật tuyên bố: "Giữ giới và rèn luyện
tâm ý, ta chứng nghiệm kiến thức dẫn đến giải thoát".
Giới
Vậy thì, giới, căn cứ trên tình
thương yêu và lòng từ bi, gồm có ba yếu tố của Bát Chánh
Ðạo. Ðó là Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp vá Chánh Mạng.
Ðức Phật dẫn giải giáo lý của
Ngài vì lợi ich cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh xuất
phát từ lòng từ bi cho thế giới.
Giới, giai đoạn tiên khởi
của Bát Chánh Ðạo, căn cứ vào lòng từ ái này. Tại sao
ta nên kìm hãm, không hãm hại và cướp bóc người khác? Phải
chăng vì thương chính mình và người khác? Tại sao ta nên
cứu trợ kẻ nghèo kẻ thiếu thốn và những người trong
nguy khốn? Phải chăng vì lòng từ bi với họ?
Tránh tội lỗi và làm điều thiện
là chức năng của giới, chuẩn tắc hạnh kiểm đạo đức
dạy trong Phật Giáo. Chức năng này không bao giờ làm mất
giá trị lòng từ ái. Giới bao gồm những đức tính
của tâm như thương yêu, nhũn nhặn, khoan dung, hiếu thảo,
nhân từ, và vui vẻ với sự thành công của người khác.
Theo Phật Giáo một người hoàn
hảo phải phát triển hai đức tính bằng nhau: một mặt từ
bi và một mặt trí tuệ. Nơi đây từ bi tượng trưng bằng
tình thương yêu, nhân từ, tử tế, khoan dung, và những đức
tính cao quý như vậy về mặt cảm xúc hay những đức tính
của con tim, trong khi trí tuệ đứng về mặt trí thức hay
đức tính của tâm ý. Nếu một người chỉ phát triển mặt
cảm xúc và không lưu ý đến phần trí thức, có thể trở
nên một người ngốc tốt bụng; trong khi chỉ phát triển
mặt trí thức, không lưu ý mặt cảm xúc, có thể trở thành
một người tri thức nhẫn tâm không có sự thông cảm với
người khác. Cho nên muốn hoàn toàn, ta phải phát triển đồng
đều cả hai.
Chánh Ngữ có nghĩa không:
* nói dối,
* nói xấu, vu khống và nói năng
có thể mang sân hận, thù oán, chia rẽ và bất hòa giữa cá
nhân hay nhóm người.
* nói lời cục cằn, thô lỗ, không
lễ độ, hiểm độc và những lời sỉ nhục, và
* chuyện phiếm, chuyện bép xép
vô ích và dại dột, ngồi lê dôi mách. Khi ta gìn giữ không
nói những lời sai trái và có hại như vậy, đương nhiên
ta nói điều chân thật, dùng những lời nói thân hữu và
nhân đức, vui vẻ và lịch sự, có ý nghĩa và ích lợi. Ta
không nên nói bừa bãi: lời nói phải đúng lúc và đúng chỗ.
Nếu không nói được điều ích lợi, ta nên giữ im lặng
cao thượng.
Chánh Nghiệp là gìn giữ
không:
* giết,
* trộm cắp, và
* tà dâm, nên trau dồi từ bi, chỉ
lấy khi được cho, và sống thanh tịnh và trong sạch.
Chánh Mạng là bỏ lối
sống sai trái mang tai hại và khổ đau cho người khác: Buôn
lậu
* súng ống và vũ khí gây
chết người,
* súc vật để giết thịt,
* người (tức mua bán nô lệ lan
tràn trong thời Ðức Phật)
* các thứ nước uống có chất
say; và
* thuốc độc
và nên sống bằng nghề nghiệp không
ai chê trách, không làm hại mình, hại người.
Ta có thể nhìn thấy rõ ràng nơi
đây Phật Giáo chống lại mạnh mẽ bất cứ hính thức chiến
tranh nào, buôn bán súng ống và vũ khí giết người là một
tội lỗi và là phương cách kiếm sống bất chính.
Nên hiểu rằng đạo đức và hạnh
kiểm luân lý (Giới) của Phật Giáo nhằm vào vận động
một đời sống hạnh phúc và hài hòa cho cá nhân và xã hội.
Giới được coi như nền tảng cần thiết cho tất cả đạt
quả vị tinh thần cao hơn. Tinh thần không thể phát triển
được nếu không có luân lý căn bản ấy. Những nguyên tắc
luân lý này mục đích làm xã hội an ninh bằng cách vận động
đoàn kết, hòa hợp, sự quan hệ đứng đắn giữa người
dân.
Trong Phật Giáo, đạo đức chưa
phải là mục đích. Nó chỉ là một phương tiện để đi
đến mục đích. Hạnh kiểm toàn hảo tách ra khỏi mục đích,
không tiến về mục đích mong muốn, có rất ít ý nghĩa từ
quan điểm của người Phật Tử. Không chỉ tội lỗi mà điều
thiện cũng phải được siêu việt. Cả đến giáo lý của
Ngài phải siêu việt. Ðức Phật so sánh giáo pháp của Ngài
với một cái bè sử dụng bởi chúng ta Nissaranatthaya tức
chỉ với mục đích vượt qua sông, và Nagahanatthaya - tức
không phải giữ bè lại. Khi chúng ta sang được bờ bên kia,
chúng ta không cần phải mang theo cái bè ấy nữa. Bè đó phải
được bỏ lại.
Kỷ Luật Tinh Thần
Tiếp theo là kỷ luật tinh thần
gồm có ba yếu tố trong Bát Chánh Ðạo là Chánh Tinh Tấn,
Chánh Niệm và Chánh Ðịnh.
Chánh Tinh Tấn là sự
nỗ lực kiên trì:
* để ngăn chặn các tư
tưởng tội lỗi và bất thiện chưa phát sanh,
* loại bỏ những tư tưởng tội
lỗi đã phát sanh,
* làm cho phát sanh và phát triển
tư tưởng thiện chưa phát sanh, và
* đẩy mạnh, củng cố tư tưởng
thiện đã phát sanh.
Cho nên chức năng của Chánh Tinh Tấn
là thận trọng, kiểm soát tất cả những tư tưởng không
lành mạnh, trau dồi, thúc đẩy và duy trì tư tưởng thiện
và trong sạch phát sanh trong tâm con người.
Người khôn ngoan làm chủ lời nói
và hành động nhờ Giới (sila) gắng sức nghiên cứu
kỹ lưỡng tư tưởng và các yếu tố tinh thần của mình,
và tránh làm rối tư tưởng.
Chánh Niệm là luôn tỉnh
thức, chú ý và lưu tâm đến:
* những hoạt động của
thân (kaya),
* cảm giác hay cảm nghĩ (vedana),
* những hoạt động của tâm (citta),
và
* ý kiến, tư tưởng, quan niệm
và pháp (dhamma)
Tu tập về tập trung hơi thở (anapanasati)
là một trong những phương pháp rèn luyện có quan hệ với
thân để phát triển tinh thần. Có một vài phương cách khác
để phát triển sự chú ý liên quan đến thân - những phương
pháp về thiền.
Về cảm giác và cảm nghĩ, ta nên
tỉnh thức với tất cả các dạng cảm giác và cảm nghĩ,
hài lòng, không hài lòng và cảm giác không rõ rệt, chúng
phát sinh và biến đi trong ta như thế nào.
Về hoạt động của tâm, ta nên
tỉnh thức xem có phải tâm ta có đầy dục vọng hay không,
có sân hận hay không, có lừa dối hay không, có xao lãng hay
tập trung vân vân.. Theo cách đó, chúng ta nên giác tỉnh xem
tất cả những hoạt động của tâm xuất hiện và biến đi
như thế nào.
Về ý kiến, tư tưởng, quan niệm
và pháp, ta nên biết bản chất của chúng, chúng xuất hiện
và biến đi ra sao, phát triển ra sao, bị đè nén và tiêu diệt
ra sao vân vân.
Ðiều thứ ba và là yếu tố cuối
cùng của Kỷ Luật tinh thần là Chánh Ðịnh dẫn
đến bốn giai đoạn của Thiền, thường được gọi là nhập
định. Ở tầng thứ nhất, những ham muốn say mê, và một
số tư tưởng bất thiện như dâm dục, ác ý, bạc nhược,
lo lắng, bồn chồn, và nghi ngờ bị loại bỏ, và cảm nghĩ
vui và hạnh phúc được duy trì với một số hoạt động
tinh thần. Ở tầng thứ hai, tất cả những hoạt động tinh
thần bị loại bỏ, tĩnh lặng và nhất điểm tâm phát triển,
và cảm nghĩ hỉ lạc, hạnh phúc vẫn còn. Ở tầng thứ ba,
cảm nghĩ hỷ lạc, là một cảm giác tích cực, cũng biến
đi, trong khi khuynh hướng hỷ lạc vẫn còn thêm vào sự thanh
thản trong tâm. Ở tầng thứ tư, tất cả những cảm giác,
cả dến hạnh phúc hay không hạnh phúc, vui và phiền não,
biến đi, và chỉ còn lại sự tĩnh lặng thanh tịnh và tỉnh
thức còn lại.
Cho nên tâm được huấn luyện,
rèn luyện và phát triển nhờ Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm và
Chánh Ðịnh.
Huệ
Hai yếu tố còn lại là Chánh Kiến
và Chánh Tư Duy thuộc về Huệ.
Chánh Tư Duy gồm tư
tưởng bao hàm các ý nghĩ về từ bỏ trần tục, thiện chí,
từ bi hay không làm hại. Những tư tưởng này phải được
trau dồi và mở rộng tới tất cả các chúng sanh không phân
biệt giống nòi, đẳng cấp xã hội, bè này phái kia. Vì chúng
bao gồm tất cả những điều cần thiết nên không có giới
hạn. Những tư tưởng cao quý như vậy không thể có được
nơi một người vị kỷ, chỉ biết mình.
Một người có thể là thông minh,
uyên bác, và học rộng, nhưng thiếu tư tưởng chính đáng,
theo như giáo lý của Ðức Phật, người đó là người ngốc
nghếch (bala) không phải là một người hiểu biết chính
đáng và tuệ giác. Nếu nhìn sự vật với nhận thức vô
cảm, chúng ta sẽ hiểu rằng ham muốn vị kỷ, sân hận và
bạo lực không thể đi đôi với Trí Huệ thực sự. Chánh
Kiến và Huệ (Trí Huệ) bao giờ cũng thấm nhuần với tư
tưởng chính đáng, không bao giờ làm mất chúng.
Chánh Kiến là
hiểu biết sự vật chúng đúng là như thế, Tứ Diệu Ðế
giải thích sự vật chúng đúng như thế nào. Cho nên Chánh
Kiến chủ yếu là hiểu rõ Tứ Diệu Ðế. Sự hiểu biết
này là trí tuệ cao cả nhất nhìn thấy Sự Thật Tối hậu.
Theo Phật Giáo có hai loại hiểu
biết: Cái mà ta thường gọi hiểu biết là kiến thức về
một sự tích lũy của trí nhớ, một sự tóm thâu trí thức
của một vấn đề theo một số dữ kiện. Ðiều này gọi
là 'cái-biết-phù-hợp'. Nó không sâu lắm. Hiểu biết thật
sâu xa gọi là 'thâm nhập' (pativedha), nhìn sự vật theo đúng
bản chất, không phải tên và nhãn hiệu. Sự thâm nhập này
chỉ có thể có được khi nào tâm đã gột rửa được hết
những bất tịnh và đã hoàn toàn phát triển qua thiền định.
Chánh Kiến hay thâm nhập Trí huệ
là kết quả của sự tu tập thiền định không ngưng, kiên
trì hay sự trau dồi cẩn thận về tâm. Một người có Chánh
Kiến không thể có một quan điểm mờ mịt về hiện tượng,
với người đó không thể còn nhiễm những bất tịnh vì
đã đạt được sự giải thoát không lay chuyển về tâm.
Ði Theo Ðường Ðạo
Những lời dạy của Ðức Phật
giải thích chức năng, mục đích cua việc trau dồi đức hạnh,
kỷ luật tinh thần, và trí tuệ. Giải thoát có nghĩa là kinh
nghiệm sống về sự chấm dứt được ba nguyên nhân gốc
rễ tội lỗi, Tham Sân Si và vô minh tấn công vào tâm con người.
Những nguyên nhân gốc rễ ấy phải được loại bỏ bằng
giới hạnh, kỷ luật tinh thần và trí tuệ.
Cho nên rõ ràng giáo lý của Ðức
Phật nhằm vào sự thanh tịnh hóa cao nhất, tinh thần lành
mạnh toàn hảo, thoát khỏi tất cả những thôi thúc ô uế.
Vậy thì sự giải thoát này khỏi
ô nhiễm tinh thần, khỏi ác ý, hoàn toàn và tuyệt đối nằm
trong tay của chính mình chứ không phải người nào khác hay
thần thánh. Ngay cả đến Ðức Phật tối thượng cũng không
chuộc con người khỏi các gông cùm của cuộc sống ngoại
trừ chỉ cho người ấy biết con đường.
Con đường Giới, Ðịnh, Huệ đôi
khi được tham chiếu như Tam (vô lậu) học (tividhasikkha),
một trong ba cũng không phải là mục đích, mỗi một chỉ
là phương tiện để đi đến mục đích. Một không thể hoạt
động độc lập riêng rẽ mà không tùy thuộc những cái kia.
Giống như trường hợp một kiềng ba chân sẽ ngã khi một
chân bị lấy đi, nơi đây cũng vậy, môt không thể hoạt
động được nếu không có sự hỗ trợ của những chân kia.
Ba cái cùng nhau hành hoạt, cái này hỗ trợ cái kia. Giới
hay đạo đức củng cố Kỷ luật tinh thần, và Kỷ Luật
tinh thần (Ðịnh) đến lượt đẩy mạnh Huệ (Trí Huê). Trí
huệ giúp ta nhìn rõ sự vật - nhìn đời đúng như nó là
thế - phải nhìn đời sống và tất cả sự vật thuộc đời
sống phát sanh và mất đi ra sao.
Mặc dù kiến thức khoa học lớn
mạnh vững vàng, con người trên thế giới vẫn bồn chồn
và nhức nhối với sợ hãi và bất mãn. Họ vẫn say sưa với
lòng ham muốn thích được nổi tiếng, có của cải, quyền
hành, và làm vừa lòng giác quan. Thế giới hỗn loạn này
vẫn sôi động với hận thù, ngờ vực, ham muốn vị kỷ,
và bạo lực, lúc này cần thiết hơn bao giờ hết thông điệp
tình thương và hiểu biết của Ðức Phật, Bát Chánh Ðạo,
dẫn đến việc chứng nghiệm Niết Bàn. Chỉ có kiến thức
về con Ðường không thôi, tuy đầy đủ, sẽ không kết quả.
Trong trường hợp này, bổn phận của chúng ta là phải theo
con đường và giữ lấy nó.
Ðuơng nhiên con đường này là khó
khăn nhưng chúng ta luôn luôn chú ý và giác tỉnh hoàn toàn,
bước vào từng bước một, một ngày nào đó chúng ta sẽ
tới đích. Ðứa trẻ học đứng học đi cũng gặp khó khăn.
Cũng vậy, có những vĩ nhân trải qua giai đoạn này đến
giai đoạn khác tuy chồng chất nhiều thất bại nhưng cuối
cùng vẫn đi đến thành công. Ðó là con Ðường dẫn đến
sự chứng nghiệm Sự Thật Tối Hậu, tự do hoàn toàn, hạnh
phúc, hòa bình nhờ sự toàn hảo về luân lý, tinh thần.
Từ bản tường trình tóm tắt này,
ta có thể nhìn thấy đó là cách sống phải theo, tu tập và
phát triển bởi mỗi cá nhân. Ðó là sự tự kỷ luật về
thân, khẩu và tâm ý, sự tự phát triển và sự tự thanh
tịnh hóa. Con đuờng này không có liên quan gì đến niềm
tin, cầu nguyện, sùng bái, hay lễ nghi.