9
NHỮNG CÔNG
NĂNG VĨ ÐẠI CỦA PHÁP
Tiến Sĩ
K.Sri. Dhammananda
Lời Phật dạy
thường được gọi là Pháp (Dhamma hay Dharma). Lời dạy
này chẳng phải là một khám phá hay một ức đoán truyền
thuyết với sự quanh co thần học. Ðó là Chân Lý lan tràn
trong Vũ trụ, là sự khám phá duy nhất của một đại đạo
sư giác ngộ. Tuy nhiên, Phật giáo là thuật ngữ hiện được
dùng cho Pháp và được đặt tên sau khi khám phá ra. Ðức
Phật Cồ Ðàm, nhận thức ra Chân Lý và phổ biến chân lý
này cho thế giới. Chắc chắn có sự khó khăn cho một người
bình thường thấu triệt được đúng vì tâm ý họ còn bị
vẩn đục bởi ảo tưởng.
Có nhiều công năng trong Pháp khiến
Pháp tuyệt vời và toàn bích trong ý nghĩa cao cấp nhất của
thuật ngữ này. Tuy nhiên có ba khía cạnh về Pháp cần được
ghi nhận. Khía cạnh thứ nhất là lý thuyết phải được
học trong sự thanh tịnh ban sơ. Khía cạnh thứ hai là sụ
áp dụng thành thực, sự thực hành lời giáo huấn, sống
theo lời dạy của Ðức Phật bằng cách tránh tất cả tội
lỗi, làm điều thiện và thanh tịnh tâm ý. Khía cạnh thứ
ba là phát triển trí tuệ, đạt được sự hiểu biết hoàn
toàn về sự thực của những hiện tượng.
Trong số nhiều các công năng, sáu
đặc tính nổi bật ghi trong các bản văn có căn cứ đích
xác. Những Pháp Ðức Hạnh này được tụng trong các khóa
tụng niệm hàng ngày của người Phật Tử. Kệ bình dân bằng
tiếng Pali giải thích những Pháp đức hạnh ấy như sau:
Svakkhata Bhagavata Dhammo,
Sanditthiko, Akaliko, Ehipassiko, Opanayiko and Paccatam Vedittabo Vinnuhi.
Chi tiết về những đặc diểm nổi
bật này được miêu tả và giải thích như sau:
1. Svakkhato Bhagavata Dhammo
Thuật ngữ này có nghĩa là Pháp
được khám phá ra và công bố bởi Ðức Thế Tôn. Pháp này
được coi như công năng chung của tất cả ba khía cạnh Giáo
Lý, gọi là lý thuyết, sự tu tập chân thành và thấu triệt
hoàn toàn trong khi phần từ ngữ còn lại liên quan với siêu
trần (lokuttara) gồm có tám giai đoạn đạt thánh quả
và Niết Bàn - coi như cứu cánh tuyệt đối của Phật
Giáo.
Pháp được giải thích cặn kẽ
bởi Giáo Chủ. Phần đầu xuất sắc, phần giữa xuất sắc
và phấn cuối cũng xuất sắc. Không có mâu thuẫn, không có
sự tự ý thêm vào và cũng không chệch hướng. Cũng như mỗi
giọt nước trong biển cả chỉ có một vị, vị của muối
mặn, Pháp chỉ có một, chỉ có một vị bất cứ lúc nào,
vị hạnh phúc Niết Bàn. Pháp chân thật cả chữ lẫn ý.
Môn học về Pháp bắt đầu với Giới (Sila) tức hạnh kiểm
tốt, với Ðịnh (Samadhi), ý thức của tâm thanh thản, và
với Huệ hay Trí Huệ (Panna) phát sanh sau khi đạt được Ðịnh.
Muốn đạt kiến thức về Pháp
phải bắt đầu với việc nghiên cứu Pháp bằng cách nghe
những bài thuyết trình thông thái giải thích cặn kẽ sự
phức tạp của nó và hiểu thấu phương pháp để áp dụng
vào thực tiễn. Do sự tu tập kiên trì, ta có thể loại bỏ
những ô trược tinh thần đưa đến kết quả tâm trở nên
thanh thản, bình tĩnh và hạnh phúc. Hoàn tất được trạng
thái tinh thần như vậy sẽ dọn đường cho việc đạt được
kiến thức cao hơn gọi là tuệ giác hay tuệ minh sát (Vipassana).
Kiến thức nội tâm này khi phát triển vững vàng tức đạt
vinh quang hoàn hảo của sự chứng đắc rực rỡ, điều có
thể đạt được ngay trong hiện đời.
Lời giải nghĩa của Ðức Phật
về chúng sanh và thế giới tạo thành kiểu mới nhất về
tư tưởng con người. Căn cứ vào sự khám phá trên căn bản
sự hiểu biết hữu lý, không dính dấp gì đến truyền thuyết
thời đại, Ðức Phật đi sâu vào cốt tủy Pháp và xuất
hiện với sự khám phá về sự hiểu biết nằm dưới tất
cả sự hiện hữu có thể nhận thức bằng giác quan. Không
độc tài hay độc quyền, Ngài tuyên bố Pháp- giáo lý thay
thế cho tất cả giáo lý khác.
Pháp không liên quan gì tới bất
cứ cái gì gọi là thần thông tối thượng, nhưng được
trình bày bởi Ðức Phật trên cơ sở cá nhân, tức người
này đến người kia cho phép hành giả nhận định và suy ngẫm
cho chính mình những phương cách để đạt giải thoát không
cần tìm đến sự giúp đỡ bên ngoài. Pháp có trên hoàn vũ,
và là một lợi ích sống còn cho nhân loại tở bất cứ nơi
nào trên thế giới vào bất cứ lúc nào.
Thật ý nghĩa Ngài đưa ra sự giải
thích hữu lý và khoa học riêng của Ngài về tất cả những
ngôn ngữ triết lý trước khi chúng được đem sử dụng trong
giáo lý của Ngài về Pháp. Chẳng hạn trước Ðức Phật,
Nghiệp chỉ có nghĩa là hành động, nhưng nay có nghĩa mới
là ý muốn đằng sau hành động.
Pháp cao thượng không ngừng tố
cáo sự bất công như chế độ đẳng cấp khắc nghiệt, nô
lệ và kỳ thị thân phận thấp hèn về phụ nữõ. Ðức
Phật chẳng bao giờ là nhà độc tài mà là vị Ðạo Sư dân
chủ.
Bắt đầu với Ba nơi Nương Tựa
(Tirana), và cuối cùng dẫn đến việc đạt được hạnh
phúc Niết Bàn, tín đồ của Ðức Phật thấy mình hết sức
an ổn dưới sự hướng dẫn và che chở của Pháp đuợc tuyên
bố là - Savakkhato.
2. Sanditthiko
Sanditthiko đem ý nghĩa là nếu
Pháp được nghiên cứu kỹ, và mang ra thực hành chân thành,
kết quả lợi ích sẽ nhìn thấy ngay tại chỗ và ngay tức
khắc. Chẳng hạn, ngay cả một người ác, có thể là một
tai họa thực sự cho chính hắn và xã hội, tìm nương tựa
nơi Ðúc Phật và Pháp, và bắt đầu một cuộc sống mới,
tất cả những khó khăn và lầm than sẽ chấm dứt. Như đã
được chứng minh bằng cuộc đời Hoằng Ðế A Dục Vương
(Asoka), sau khi đi theo Phật Giáo, ông đã thay đổi từ một
người cầm quyền độc ác gọi là Candasoka thành một người
chánh đáng Dhammasoka.
3. Akaliko
Akaliko ngụ ý hậu quả lợi
lạc từ việc tu tập Pháp không bị chậm trễ. Pháp, mặc
dù khoảng thời gian dài từ khi được tuyên bố đã trôi
qua, vẫn như mới và không hề hấn gì. Pháp tiếp tục tồn
tại song song với tư tưởng khoa học mới nhất. Nếu có chân
lý, chân lý ấy không bao giờ lỗi thời. Pháp là Chân Lý
ấy không bao giờ già nua theo thời đại vì nó miêu tả sự
thật nằm dưới tất cả hiện tượng hiện hữu trong luân
hồi. Tóm lại, Pháp nói rằng thế gian là bất toại nguyện
và chính cái tham này là nguyên nhân không tránh được về
tình trạng các biến cố hiên nay. Biện pháp cứu chữa sự
bất mãn này là loại bỏ lòng tham qua sự tu tập tám yếu
tố khéo léo gọi là Bát chánh Ðạo.
4. Ehipassiko
Ehipassiko là công khai mời
tất cả mọi người đến xem, điều tra, nghiên cứu kỹ lưỡng
Pháp, và nếu cần phê bình trước khi chấp nhận vì không
có điều gì là hoang đường hay huyền bí cả. Pháp trong sạch
và trong suốt như pha lê. Nó nguyên chất như vàng thoi. Chính
Ðức Phật đã tuyên bố: "Ðừng chấp nhận điều gì tôi
nói, chỉ vì kính trọng tôi mà chấp nhận là không nên. Cũng
như vàng nguyên chất chỉ biết chắc khi đem thử lửa hay
mài rũa bằng đá mài, giống như vậy, Pháp chỉ nên chấp
nhận sau khi đã nghiên cứu kỹ lưỡng." Sự khẳng định
không hề sợ sệt này cho phép nghiên cứu kỹ càng giáo lý
chứng tỏ sự vĩ đại của Ðức Phật, và chân lý vững
chắc của Giáo Pháp tuyệt vời.
5. Opanayiko
Opanayiko có nghĩa là tất cả
những ai trung thành với Giáo Pháp, sẽ bước vào con đường
dẫn đến hòa bình và hạnh phúc trường cửu. Pháp cho biết
có bốn tầng thánh quả đạt được bằng cách phát triển
theo thứ tự lớp lang. Pháp dẫn môn đồ từ tầng này đến
tầng kia cho đến khi giải thoát hết tất cả những ràng
buộc và gông cùm của cuộc sống.
6. Paccattam Veditabbo Vinnuhi
Nhóm từ trên ngụ ý Pháp được
lĩnh hội bởi người trí. Không ai có thể thâm nhập Pháp
thay thế cho người khác, giống như không ai có thể làm cho
người khác hết khát trừ khi chính người khát phải uống
nước. Quan sát thấy có hai khía cạnh có ý nghĩa trong thuật
ngữ này: thứ nhất, đạt giác ngộ có tính cách cá nhân,
thứ nhì, Giáo Pháp chỉ có thể thấu triệt bởi người trí.
Ðức Phật không phải là vị cứu
thế mà là vị thầy - Người thầy chỉ con đường cho người
khác theo. Phần còn lại là do cá nhân liên hệ phải giữ
giới. Giữ Giới (Sila), tu tập Thiền Ðịnh (Samadhi),
tập trung tư tưởng và sau đó phát triển huệ (Panna),
trí tuệ trực giác giúp cho cá nhân thành công trong việc giải
thoát bằng nỗ lực của chính mình.