8
THẾ NÀO LÀ
NGHIỆP?
Hòa Thượng
U. Thittila
Nghiệp, tiếng
Pali là Kamma, có nghĩa là hành động. Tiếng Sanskrit,
Nghiệp được gọi là Karma. Trong nghĩa thông thường
Nghiệp có nghĩa tất cả những hành động tốt hay xấu. Nó
bao trùm tất cả những hành động có dụng ý dù là tinh thần,
nói năng hay vật chất, tư tưởng, lời nói, và hành vi. Trong
nghĩa chủ yếu Nghiệp có nghĩa là tất cả những ý muốn
đạo đức hay vô đạo đức. Ðức Phật nói: "Này các tỳ
kheo, ý muốn là cái mà ta gọi hành động tức Nghiệp. Do
có ý mà ta hành động thân, khẩu và tư tưởng" (Kinh Tăng
Chi, Anguttara Nikaya III. 415)
Nghiệp chẳng phải là tiền định
mà cũng chảng phải là học thuyết theo số mệnh. Quá khứ
ảnh hưởng hiện tại nhưng không át hẳn, với Nghiệp quá
khứ và hiện tại cũng như nhau. Quá khứ và hiện tại ảnh
hưởng tương lai. Quá khứ là cái nền dựa vào đấy đời
sống tiếp diễn từng khoảnh khắc. Tương lai chưa tới. Chỉ
có hiện tại và trách nhiệm sử dụng hiện tại làm việc
thiện hay việc ác nơi từng cá nhân.
Mỗi hành động phát sanh một hậu
quả và đó là nguyên nhân trước và hậu đó là hậu quả
tiếp theo. Cho nên chúng ta nói về Nghiệp tức "luật nhân
quả". Thí dụ, ném một hòn đá là một hành động. Hòn đá
đập vào cửa kính, làm vở kính. Vỡ kính là quả của hành
động ném, nhưng chưa phải là tận cùng. Cửa kính vỡ là
nguyên nhân của những việc xảy ra sau này. Phải có một
số tiền để thay kính, ti?n ấy lẽ ra là để dành hay dùng
để làm việc khác, và hậu quả đã làm cho ta có cảm giác
thất vọng. Ðiều này có thể làm cho ta bứt rứt, và nếu
không cẩn thận, bứt rứt này có thể làm thành nguyên nhân
của một việc làm sai khác, và cứ thế tiếp tục. Không
có sự chấm dứt về những kết quả của hành động, không
có sự chấm dứt của nghiệp, cho nên chúng ta phải hết sức
thận trọng về hành động của chúng ta, để hậu quả được
tốt hơn. Cho nên rất cần thiết cho chúng ta làm điều lành,
hành động có ích sẽ trở về chúng ta thành nghiệp lành
và làm cho chúng ta đủ sức mạnh để bắt đầu một Nghiệp
tốt.
Ném một hòn đá xuống nước và
nhìn hiệu quả. Thấy nước tóe lên và những gợn sóng lăn
tăn nổi lên khi mặt nước va chạm với hòn đá. Rồi thấy
ra sao những gợn sóng vòng tròn mới đầu nh? cứ rộng ra
mãi, rộng mãi cho đến khi mắt ta không thể nhìn theo được
nữa. Một viên đá nhỏ nhiễu loạn nước trong hồ, nhưng
việc chưa chấm dứt. Khi những gợn sóng nhỏ đến bờ hồ,
nước lại quay trở lại tới viên đá đã nhiễu loạn nó.
Những hậu quả của những hành
động trở lại chúng ta như những gợn sóng với hòn đá,
và chừng nào mà ta còn hành động với ác ý, những làn sóng
mới và hậu quả sẽ trở lại đánh chúng ta và nhiễu loạn
chúng ta. Nếu chúng ta lương thiện và giữ an lạc, những
đợt sóng khó khăn quay về sẽ càng ngày càng yếu đi cho
đến khi chúng tắt và Nghiệp lành sẽ trở về với phước
lành. Chẳng hạn, nếu chúng ta trồng hạt soài, cây soài sẽ
mọc lên và mang trái soài, và nếu ta gieo một hạt ớt, cây
ớt sẽ mọc lên và mang trái ớt.
Ðức Phật nói:
Trồng nhân nào thì mang quả
nấy
Làm điều thiện, đạt điều tốt
Làm điều ác, gặp ác
Gieo nhân nào, gặt quả nấy. (Samyutta
Nikya - Tương Ưng)
Mọi việc đến thật đúng với chúng
ta. Khi điều vui đến và làm chúng ta hạnh phúc, chắc chắn
rằng Nghiệp đến cho thấy chúng ta hành động chính
đáng. Khi điều bất hạnh đến,
làm chúng ta đau, hay làm cho chúng không hạnh phúc, Nghiệp
đến cho chúng ta thấy lỗi lầm của chúng ta. Chúng ta không
bao giờ quên Nghiệp lúc nào cũng rất công bằng. Nghiệp chẳng
thương mà cũng chẳng ghét, chẳng thưởng mà cũng chẳng phạt.
Nó cũng chẳng bao giờ giận dữ, và cũng chẳng bao giờ làm
vừa lòng. Ðơn giản nghiệp là định luật của nguyên nhân
và hậu quả.
Nghiệp không biết gì về chúng
ta cả. Lửa không biết gì khi đốt cháy chúng ta phải không?
Không biết gì . Bản chất của lửa là cháy lên để cho sức
nóng. Nếu chúng ta sử dụng đúng cách, nó cho ta ánh sáng,
nấu đồ ăn hay đốt đi những gì chúng ta muốn, nhưng nếu
chúng ta không sử dụng đúng cách, nó sẽ đốt cháy chúng
ta và tài sản của chúng ta. Việc của lửa là làm cháy lên,
và việc của chúng ta là phải sử dụng nó cho đúng. Chúng
ta dại dột nếu chúng ta giận dữ và trách cứ khi bị cháy
vì chúng ta đã lầm lỗi.
Có nhiều bất bình đẳng và nhiều
dị biệt về số phận con người trên thế giới. Thí dụ
có kẻ thấp, người cao. Có kẻ bị chết yểu có kẻ sống
lâu đến tám mươi hay một trăm tuổi. Có kẻ bệnh hoạn
và tàn tật, có kẻ lại tráng kiện và khỏe mạnh. Có kẻ
sinh ra trong giàu sang phú quý, có kẻ sinh ra trong lầm than.
Có kẻ sinh ra là triệu phú, có kẻ lại nghèo hèn. Có kẻ
là thần đồng có kẻ lại ngu đần.
Tại sao lại có những sự không
đồng đều như thế hiện hữu trên thế giới? Người Phật
Tử không tin những sự chênh lệch như thế là kết quả của
sự ngẫu nhiên. Chính khoa học cũng chống lại thuyết "ngẫu
nhiên", trong thế giới khoa học gia, tất cả mọi việc đều
do định luật nhân quả chi phối. Người Phật Tử cũng chẳng
tin những sự chênh lệch trên thế giới là do Thượng Ðế-Ðấng
Sáng Tạo.
Một trong ba quan điểm khác nhau
thịnh hành trong thời Ðức Phật là:
- Dù con người có kinh qua hạnh
phúc hay đau khổ hay cảm tưởng không rõ ràng thì tất cả
đều do sự sáng tạo của một Vị Trời Tối Thượng, (Gradual
Sayings - Tăng Chi, 1.158). Bình phẩm về quan điểm định mệnh
này, Ðức Phật nói: "Vậy thì, theo sự sáng tạo của vị
Trời Tồi Thượng này, con người sẽ trở thành kẻ giết
người, trôm cắp, dâm ô. nói dối, kẻ vu khống, lạm dụng,
kẻ bép xép, tham lam, hiểm độc, và quan điểm ngoan cố. Như
vậy những người rơi vào sự sáng tạo của một Thượng
Ðế là lý do thiết yếu, chẳng cần ham muốn làm gì và cũng
chẳng cần thiết làm hành vi này hay tránh hành vi kia.
Nói về những nhà tu khổ hạnh
lõa thể theo cách tự hành xác, Ðức Phật nhận xét: "Này
các Tỳ Kheo, nếu chứng nghiệm đau khổ hay hạnh phúc là
do Thượng Ðế quyết định, chắc chắn những nhà tu khổ
hạnh lõa thể này phải do một Thượng Ðế ác độc tạo
nên vì họ đang chứng nghiệm những sự đau đớn ghê gớm".
(Devadaha Sutta, No 101, Majjihima Nikaya - Trung Bộ, II, 222).
Theo Phật Giáo, những sự bất bình
đẳng hiện hữu trong thế giới này là do một phần là do
nơi di truyền và môi sinh, và một phần lớn do nguyên nhân
hay những nguyên nhân (Nghiệp) không chỉ ngay bây giờ, mà
còn ở quá khứ gần hoặc xa. Chính con người chịu trách
nhiệm về hạnh phúc và lầm than của mình. Con người tự
tạo thiên đường hay địa ngục cho chính mình. Con người
là chủ tể định mệnh của mình, kết quả của quá khứ
và nguồn gốc của tương lai.
Những Qui Luật Về Trật Tự
Vũ Trụ
Mặc dù Phật giáo dạy Nghiệp là
nguyên nhân chính của các sự bất bình đẳng trong thế giới
nhưng không dạy thuyết định mệnh hay học thuyết tiền định,
và cũng không giữ quan niệm cho rằng mọi thứ đều do quá
khứ. Luật nguyên nhân mô tả trong triết lý Phật Giáo, là
một trong năm trật tự mà chính chúng là luật hành hoạt
trong vũ trụ. Chúng là:
1. Utu Niyama, Luật vật
lý vô cơ tức hiện tượng về gió mưa của mỗi mùa. Trật
tự chính xác về mùa, những thay đổi và biến chuyển theo
đặc thù của mùa gây ra gió mưa, tính chất nóng bức vân
vân, thuộc nhóm này.
2. Bija Niyama, Luật về
mầm và hạt giống (vật lý hữu cơ) như gạo, gạo lấy ra
từ thóc, đường từ mía hay mật, đặc tính của một số
trái cây vân vân... Thuyết khoa học về tế bào và 'gien' và
những cái giống nhau về mặt vật lý thuộc định luật này.
3. Kamma Niyama, luật về
kết quả của hành động, như hành động tốt xấu sanh kết
quả tương úng tốt xấu. Cũng như nước tự tìm mức độ
nông cạn, Nghiệp cho cơ hội, tạo kết quả không tránh được,
không phải dưới hình thức thưởng phạt mà là sự liên
tục bẩm sinh. Sự liên tục của hành vi và hậu quả tự
nhiên và cần thiết như con đường của mặt trăng và các
tinh tú.
4. Dhamma Niyama, luật
về tiêu chuẩn như hiện tượng thiên nhiên xẩy ra lúc Bồ
Tát giáng sanh trong lần sanh cuối cùng. Luật hấp dẫn và
những luật thiên nhiên tương đương, lý lẽ cho là tốt vân
vân... cũng có thể gồm trong nhóm này.
5. Citta Niyama, luật về
tâm hay luật tâm linh như tiến trình của thức, sự phát sanh
và mất đi của thức, yếu tố cấu tạo thức, sức mạnh
của tâm vân vân..., thần giao cách cảm, hình ảnh do viễn
vọng, nhận thức bằng hồi tưởng, linh cảm, nghe được,
đọc được tư tưởng, tất cả những hiện tượng tâm linh
không thể giải thích được bởi khoa học hiện đại gồm
trong điều này. (Abihdhammavatara, Trang 54).
Năm luật trên bao gồm mọi thứ
trong thế giới và mọi hiện tượng tinh thần hay vật chất
có thể giải thích bằng những luật ấy. Chúng là luật trong
chính chúng, không cần ai ban hành và Nghiệp cũng vậy là một
trong chúng.
Phân Loại Nghiệp
Nghiệp chia thành bốn loại theo
thời gian kết quả nảy sinh. Nghiệp chín mùi cùng đời, chín
mùi đời sau, chín mùi trong những lần sanh liên tiếp. Ba loại
nghiệp này đi đến sinh kết quả như hạt giống sắp sửa
nảy mầm. Nhưng hạt giống nảy mầm phải có một số nguyên
nhân phụ thuộc như, đất, mưa vân vân.... Cũng vậy Nghiệp
trổ quả cũng cần một số nguyên nhân phụ thuộc như hoàn
cảnh, môi trường chung quanh vân vân.... Ðôi khi ngẫu nhiên
là vì không có những nguyên nhân phụ thuộc nên Nghiệp không
trổ quả. Nghiệp này gọi là "Ahosi-Kamma" hay Nghiệp
vô hiệu quả.
Nghiệp cũng được phân loại thành
bốn loại theo chức năng đặc biệt của nó. Dẫn Nghiệp
là điều kiện của lần sanh tương lai. Hỗ Trợ Nghiệp giúp
và duy trì kết quả của Nghiệp đã hiện hữu. Phản ứng
Nghiệp, kìm nén hay thay đổi kết quả của Nghiệp tái sanh,
và Nghiệp Phá Hoại tiêu diệt nghiệp lực hiện hữu và thay
thế bằng hợp lực của chính nó.
Có một cách phân loại theo tầm
quan trọng của kết quả. Có Cực Trọng Nghiệp do nghiệp
lành hay nghiệp dữ lớn lao phát sinh ngay trong đời này hay
đời sau. Về mặt tinh thần của Nghiệp này, tình trạng đạt
được tinh thần thanh lọc ở mức độ cao gọi là Ðắc thiền
hay Hỷ lạc rất mạnh vì nó mang kết quả nhanh hơn trạng
thái tinh thần bình thường không được thanh lọc. Về phía
đối lập, có năm loại trọng tội tạo nghiệp dữ lớn lao.
Những trọng tội này là giết cha, giết mẹ, giết A La Hán
(bậc thánh) làm thân Phật chảy máu hay tạo ly gián trong Tăng
Ðoàn.
Cận Tử Nghiệp là hoạt động
mang đến lúc sắp chết về vật chất hay tinh thần - tinh
thần bằng việc suy nghĩ đến những hành động xấu tốt
trước đây hay có tư tưởng xấu hay tốt. Chính Nghiệp này
nếu không phải là nghiệp dữ, quyết định điều kiện cho
lần sanh tới.
Tập Quán Nghiệp là hoạt động
mà ta làm theo thói quen hàng ngày. Nghiệp này, nếu vắng Cận
Tử Nghiệp phát sanh, quyết định lần sanh tới.
Tích Lũy Nghiệp là nghiệp cuối
cùng theo thứ tự ưu tiên. Ðó là nghiệp chưa cạn hết của
một chúng sanh đặc biệt và nó là điều kiện của lần
sanh tới nếu tập quán nghiệp không hành hoạt.
Một cách phân loại Nghiệp nữa
theo cảnh giới do kết quả mang đến:
(1) Nghiệp Vô Luân (dữ)
mang hậu quả vào cảnh giới lầm than.
(2) Nghiệp Lành mang hậu quả vào
dục giới
(3) Nghiệp Lành hậu quả vào sắc
giới
(4) Nghiệp Lành hậu quả vào vô
sắc giới
Mười Hành Ðộng Vô Luân Và Hậu
Quả:-
I. Nghiệp vô luân bắt rễ
từ Tham, Sân và Si.
Có mười hành động vô luân - đó
là Giết, Trộm Cướp, Tà Dâm, (ba điều này là do thân), Nói
Dối, Vu Khống, Nói lời Ðộc Ác, Nói Chuyện Phiếm (bốn
điều này là do khẩu). Tham, Ác Ý, và Tà Kiến (Ba điều này
là do tâm ý) .
Trong mười điều này, giết có
nghĩa là tiêu diệt bất cú một chúng sanh nào kể cả tất
cả các loại súc vật. Hành động giết cóù năm điều kiện
chính tức là: một chúng sanh, biết là một chúng sanh, có
ý giết, cố gắng và kết quả cái chết.
Hậu quả của tội ác giết người
là: Chết non, bệnh hoạn, luôn luôn phiền não vì phải xa
người thân, luôn luôn sợ hãi.
Hành động trộm cướp gồm có
năm điều kiện chính tức: Lấy tài sản của người khác,
ý thức được việc này, có ý trộm cướp, có nỗ lực và
hậu quả lấy đi. Hậu quả của trộm cướp là: nghèo khổ,
bất hạnh, không đạt được ước muốn, và phải sống nhờ
vả.
Hành động tà dâm gồm có ba điều
kiện chính, tức: có dụng ý vui hưởng mục tiêu đã bị
cấm, chiếm đoạt mục tiêu. Tà dâm mang hậu quả: có nhiều
kẻ thù, gặp người bạn đường không chung thủy.
Nói dối gồm có bốn trường hợp
chính, tức: nói không đúng, dụng ý đánh lừa, có sự cố
gắng và nói hai chiều. Hậu quả của nói dối là: bị nhục
mạ, bị phỉ báng, không ai tin, và miệng hôi hám.
Hành động vu khống gồm có bốn
điều chính, tức: chia rẽ, có dụng ý chia rẽ, có sự cố
gắng, và đưa chuyện. Hậu quả của vu khống là bị mất
bạn hữu vô cớ.
Hành động nói lời độc ác có
bốn điều kiện chính, tức: sỉ nhục người, giận dữ,
chửi rủa người. Hậu quả của nói lời độc ác bị người
ghét bỏ dù không lỗi, giọng nói thô lỗ.
Hành động nói chuyện phiếm có
hai điều kiện chính, tức: hướng về chuyện phiếm vô ích
và kể lể. Hậu quả hành động nói chuyện phiếm vô ích
là cơ thể bị xáo trộn, nói không ai nghe.
Hành động tham lam gồm hai điều
kiện chính: muốn lấy tài sản của người khác, và lòng
tham muốn có tài sản ấy, kẻ ấy nói: "tài sản này là phải
của tôi". Hậu quả của tham lam là không đạt được ước
muốn.
Hành động ác ý gồm hai điều
kiên chính, tức: một chúng sanh khác và có ý làm hại chúng
sanh đó. Hậu quả của ác ý là xấu xí, bệnh tật và bản
tính đáng ghét.
Tà kiến có nghĩa là nhìn sự vật
ai, không biết chúng thật sự đúng như thế nào. Tà kiến
gồm hai điều kiện chính là cách đối xử sai lầm trong quan
điểm với đối tượng, hiểu lầm đối tượng ấy theo quan
điểm đó. Hậu quả của tà kiến là: luyến chấp, thiếu
trí tuệ, trí khôn thấp kém, bệnh tật kinh niên và tư tưởng
đáng trách. (Expositor, Pt. 1.p. 128)
II. Nghiệp Lành Mang Hậu Quả
Ở Dục Giới.
Có mười hành động tinh thần -
đó là, độ lượng, giới, thiền, kính trọng, phục vụ,
hồi hướng công đức, hoan hỉ công đức của người khác,
nghe pháp, giảng pháp, và thiết lập quan điểm đứng đắn.
"Ðộ lượng" mang của cải. "Giới"
khiến người ta được sinh trong một gia đình quý phái hạnh
phúc. "Thiền" giúp sanh sinh vào cõi sắc hay vô sắc và giúp
đạt kiến thức cao và giải thoát.
Kính trọng người, ta được người
kính trọng lại. Phục vụ người khác, ta được người khác
phục vụ lại. "Hồi hướng công đức giúp ta có nhiều của
cải để cho trong kiếp sau. "Hoan hỉ công đức của người
khác" tạo niềm vui tại bất cứ nơi đâu ta sinh ra. Nghe pháp
và giảng pháp dẫn đến trí tuệ.
III. Nghiệp Lành Mang Hậu Quả
Ở Sắc Giới.
Có năm loại hoàn toàn về tinh thần
mang lại trong tiến trình hành thiền, tức:
(1) Trạng thái thứ nhất
của Ðắc Thiền hay Hỷ Lạc có năm thành phần cấu tạo:
sơ thiền, nhị thiền, trạng thái say mê, sung sướng, gom tâm
vào một điểm.
(2) Trạng thái thứ hai của Ðắc
Thiền xẩy ra cùng lúc với nhị thiền được chấp nhận,
trạng thái say mê, sung sướng, gom tâm vào một điểm.
(3) Trạng thái thứ ba của Ðắc
Thiền xẩy ra cùng lúc với trạng thái sây mê, sung sướng
và gom tâm vào một điểm.
(4) Trạng thái thứ tư xẩy ra cùng
một lúc với sung sướng và gom tâm vào một điểm.
(5) Trạng thái thứ năm của Ðắc
Thiền cùng với sự thanh thản và gom tâm vào một điểm.
IV. Nghiệp Lành Mang Hậu Quả
Ở Vô Sắc Giới.
Có bốn loại hoàn toàn tinh thần
thực hiện trong tiến trình thiền, tức:
(1) Không vô biên xứ (thần
thức ở trong sự vô tận của không gian)
(2) Thức vô biên xứ (Thần thức
ở trong sự vô tận của ý thức)
(3) Vô sở hữu xứ (thần thức
ở tình trạng không tồn tại).
(4) Phi tưởng Phi phi tưởng xứ
(Thần thức ở nơi mà tri giác cực vi tế đến nỗi không
thể nói có hay không)
Tự Do Ý Chí
Nghiệp như đã nói ở trên, không
phải là số phận, không phải là một định mệnh không thể
thay đổi được. Nó cũng chẳng phải là buộc ta phải gặt
hái tất cả những gì ta đã gieo cho cân xứng. Những hành
động của Nghiệp không phải là tuyệt đối không thay đổi
được và chỉ có một số ít thôi. Thí dụ, bắn một viên
đạn qua nòng súng, ta không thể gọi viên đạn quay về hay
làm lệch mục tiêu của nó. Nhưng thay vì viên đạn chì hay
viên đạn thép bắn qua không khí mà là một quả bóng bằng
ngà voi bắn vào một thảm xanh bằng phẳng ta có thể dùng
cây gậy chơi bi da để di chuyển quả bóng, và sau đó ta có
thể chọc đàng sau nó, và với nhanh nhẹn và không chọc quá
mạnh, ta có thể chạy vòng sang phía kia bàn bi da, chọc theo
hướng ngược lại làm cho nó chạy thẳng đúng hướng và
ngừng lại ở một chỗ. Với hành động sau bằng cái gậy
bi da, ta thay đổi, hay trong trường hợp thuận lợi, ta có
thể hoàn toàn làm mất tác dụng hành động trước đây.
Cũng giống như vậy, Nghiệp hành hoạt trong dòng suối mênh
mông của đời người. Cũng vậy, một hành động của Nghiệp
ở ngày hôm sau có thể thay đổi hậu quả của nghiệp ở
ngày hôm trước. Nếu không vậy, làm sao một người có thể
thoát khỏi tất cả các Nghiệp? Nghị lực tự nơi minh tiếp
tục sẽ vĩnh viễn không bao giờ chấm dứt.
Cho nên, con người có tự do ý chí,
và có khả năng uốn nắn đời sống mình hay thay đổi những
hành động. Cả đến một người tội lỗi nhất nhưng với
thiện chí và cố gắng có thể trở thành một người đạo
đức nhất. Ta có thể bất cứ lúc nào thay đổi thành tốt
hơn hay xấu hơn. Mọi sự trên thế giới kể cả chính con
người cũng tùy thuộc vào hoàn cảnh nếu không có hoàn cảnh
không có gì có thể phát sanh hay tiến tới hiện hữu. Cho
nên con người có một số tự do ý chí tuy không hẳn là tuyệt
đối tự do ý chí. Theo triết lý Phật Giáo, mọi thứ, tinh
thần hay vật chất, phát sanh theo định luật và hoàn cảnh.
Nếu không như vậy, sự hỗn loạn và sự ngẫu nhiên ngự
trị. Tuy nhiên việc như vậy không thể được, và nếu không,
tất cả những định luật thiên nhiên mà khoa học hiện đại
khám phá ra đều bất lực.
Sự thật, bản chất thực về hành
động Nghiệp của con người là tinh thần. Khi một tư tưởng
hiện lên trong tâm của một con người nhiều lần, có một
khuynh hướng nhất định trở lại tư tưởng đó.
Khi một hành động được thực
hiện nhiều lần, có khuynh hướng nhất định tái diễn hành
động ấy. Cho nên, mỗi hành động, tinh thần hay vật chất,
có khuynh hướng luôn luôn nảy sanh giống như vậy, và quay
trở lại phát sanh. Nếu một người có tư tưởng tốt, nói
lời lương hảo, hành vi tốt, hậu quả tác động đến người
đó sẽ tăng khuynh hướng lòng tốt nơi người đó, làm người
đó trở thành một người tốt hơn. Nếu trái lại, người
đó có hành vi xấu trong tư tưởng, lời nói hay hành động,
người đó sẽ tự củng cố khuynh hướng xấu, chính người
đó đã tự mình làm mình trở nên người xấu hơn. Ðã trở
thành một người xấu, người ấy sẽ hướng về làm bạn
với các người xấu trong tương lai, và phải chịu tất cả
mọi loại bất hạnh của đời sống đối với hạng người
như vậy. Trái lại, phần chính của đặc tính càng tiếp
tục lớn mạnh tốt hơn, đương nhiên thu hút làm bạn vào
nhóm người tốt, vui hưởng lạc thú, tiện nghi, không bị
những chuyện bất ngờ, đôt ngột trong cuộc sống con người
bao hàm trong xã hội.
Trong trường hợp với người có
văn hóa, cả đến những tội lỗi lớn cũng có thể được
giảm thiểu, trong khi với người không văn hóa tội ít cũng
phát sanh hậu quả lớn đến múc tối đa tuy theo hoàn cảnh
thuận hay không thuận lợi.
Những Bài Học Dạy Bởi Nghiệp
Càng hiểu nhiều về Nghiệp luật,
ta càng thấy phải cẩn thận như thế nào trong mọi hành động,
lời nói, tư tưởng, và trách nhiệm như thế nào đối với
người đồng chủng. Sống trong ánh sáng của kiến thức này,
chúng ta học được một số bài học từ học thuyết về
Nghiệp.
1. Kiên Nhẫn
Biết Nghiệp luật giúp đỡ ta rất
nhiều, nếu chúng ta sống theo luật, không điều hại gì đến
với chúng ta nếu chúng ta làm theo luật, phước lành đến
với chúng ta đúng lúc, chúng ta học được bài học to lớn
về kiên nhẫn, không phải để bị kích động mà là cái
không kiên nhẫn ấy kìm hãm tiến bộ. Trong khi đau khổ, chúng
ta biết chúng ta phải trả nợ, chúng ta biết, nếu khôn ngoan
chúng ta không tạo thêm đau khổ cho tương lai. Trong khi hoan
hỉ, chúng ta cảm ơn những điều thú vị, và học hỏi, nếu
chúng ta khôn ngoan, chúng ta càng tốt hơn nữa. Kiên nhẫn đem
hòa bình, thành công hạnh phúc và yên ổn.
2. Tin Tưởng
Luật đúng, toàn hảo, thì một
người hiểu biết không thể bị khó chịu về luật ấy.
Nếu chúng ta khó chịu và không có tin tưởng, nó chứng tỏ
rõ ràng chúng ta không nắm vững sự thật của luật. Chúng
ta thực sự an ổn dưới đôi cánh của luật, không có gì
phải sợ hãi trong tất cả vũ trụ rộng lớn này ngoại trừ
những hành vi lầm lẫn của chính mình. Luật làm con người
đứng vững trên đôi chân và tăng lòng tự tin. Tin tưởng
tăng sức mạnh, chứ không nhận chìm hòa bình, và hạnh phúc
của chúng ta, làm chúng ta thoải mái, can đảm dù đi đến
đâu Luật cũng là người bảo vệ chúng ta.
3. Tự Tin
Vì quá khứ làm chúng ta thành ngày
nay, cho nên bởi những gì chúng ta làm bây giờ sẽ quyết
định tương lai. Hiểu được sự việc này, vinh quang ở tương
lai vô tận, cho chúng ta lòng tự tin, và không còn khuynh hướng
kêu gọi sự giúp đỡ ở bên ngoài, mà thực ra chẳng có
sự giúp đỡ nào cả, Ðức Phật dạy: "Thanh tịnh hay không
thanh tịnh do nơi chúng ta, không ai có thể thanh tịnh hóa người
khác được"
4. Kiềm Chế
Ðương nhiên, nếu chúng ta nhận
thức được tội lổi sẽ trở về làm chúng ta đau khổ,
chúng ta phải hết sức thận trọng về việc làm, nói năng
và nghĩ ngợi, điều gì không tốt không thanh tịnh và không
đúng. Kiến thức về Nghiệp sẽ giữ chúng ta không làm điều
sai trái vì lợi ích cho người khác cũng như cho chính mình.
5. Sức Mạnh
Càng lấy học thuyết về nghiệp
làm một phần của đời sống, chúng ta càng có sức mạnh,
không những chỉ đường tương lai, mà còn giúp đỡ người
đồng chủng hữu hiệu hơn. Thực hành Nghiệp Lành, khi phát
triển đầy đủ, chúng ta có thể vượt qua tội lỗi và giới
hạn, phá vỡ tất cả gông cùm trói buộc không cho chúng ta
đạt mục tiêu, Niết Bàn.