(II)
ÐỨC
PHẬT VÀ GIÁO LÝ CỦA NGÀI
6
ÐỨC PHẬT
Hòa Thượng
Narada Mahathera
Ðức Phật là
một chúng sanh độc nhất vô nhị. Ngài là nhà tư tưởng
sâu xa nhất, diễn giả có tài thuyết phục nhất, người
làm việc đầy nghị lực nhất, nhà cách mạng thành công
nhất, một vị đạo sư hết sức từ bi và khoan dung, người
quản lý hành chánh có năng lực nhất. Ðặc tính trứ danh
nhất của Ngài là sự thanh tịnh tuyệt đối và thánh tính
toàn hảo. Ngài hết sức thanh tịnh và hết sức thánh thiện
khiến người ta gọi Ngài "Bậc Thánh Thiện nhất trong các
Bậc Thánh" Ngài là gương mẫu toàn vẹn của tất cả các
đức hạnh. Ngài thuyết giảng không bao giờ Ngài tỏ ra giới
hạnh yếu kém. Người nào đã tiếp xúc với Ngài đều phải
công nhận sự vĩ đại không thể nghĩ bàn và đều bị ảnh
hưởng sâu xa bởi cá tính có sức lôi cuốn như nam châm của
Ngài. Thiện chí, trí tuệ, từ bi, phục vụ, từ bỏ thế
tục, cuộc đời gương mẫu, phương pháp không thể chê trách
dùng trong việc truyền bá giáo pháp, và sự thành công cuối
cùng của Ngài - tất cả những yếu tố trên đây đã góp
phần tôn vinh Ðức Phật bậc Ðạo Sư vĩ đại nhất.
Ðức Phật là nhà truyền giáo đầu
tiên tích cực nhất trên thế giới. Ngài đi hết chỗ này
đến chỗ kia trong 45 năm dài để thuyết giảng cho đại chúng
và giới trí thức. Cho đến giờ phút cuối cùng, Ngài phục
vụ nhân loại cả về gương mẫu lẫn giới luật. Những
đệ tử xuất sắc của Ngài theo gương Ngài. Không một đồng
xu dính túi, những đệ tử này đã đi tới miền đất xa
xăm để truyền bá giáo Pháp, không mong được đền đáp
gì.
"Hãy tinh tấn lên các con"
đó là lời nói cuối cùng của Ðức Phật. Giải thoát và
thanh tịnh không thể đạt được nếu không có nỗ lực cá
nhân. Những lời cầu nguyện xin can thiệp hộ bị phản đối
kịch liệt trong Phật Giáo, thay vì cầu nguyện là thiền định
dẫn đến tự kiềm chế, thanh tịnh và giác ngộ. Mục tiêu
sứ mạng của Ðức Phật là để cứu chúng sanh thoát khổ
đau bằng cách diệt trừ nguyên nhân gây ra và chỉ dạy phương
cách chấm dứt sanh tử nếu ai mong muốn. Tuy nhiên, Ðức Phật
cũng dẫn giải chi tiết trong nhũng bài thuyết pháp hướng
về sự tiến bộ thế giới. Cả hai sự tiến bộ vật chất
lẫn tinh thần đều cần thiết cho việc phát triển một quốc
gia có tư tưởng chủ nghĩa vật chất trên thế giới. Ta không
nên tách rời cái này với cái kia, và cũng chẳng nên chỉ
hoàn tất tiến bộ vật chất bằng cách hy sinh tiến bộ tinh
thần như chúng ta thấy ngày nay ở một số quốc gia duy vật
chủ nghĩa trên thế giới.
Pandit Nehru thường nhắc đến Ðức
Phật như người con vĩ đại nhất của Ấn Ðộ. Tiến Sĩ
S. Radhakrishman, một nhà lãnh đạo và triết gia Ấn, tán thán
Ðức Phật với những lời sau: "Nơi Ðức Phật Cồ Ðàm chúng
ta thấy trí tuệ bậc thầy từ Phương Ðông khoâng thua
kém ai về ảnh hưởng đối với tư tưởng và đời sống
của loài người, và thiêng liêng đối với tất cả là người
khai sáng ra truyền thống tôn giáo mà ảnh hưởng sâu rộng
hầu như không thua kém bất cứ tôn giáo nào khác. Ngài thuộc
về lịch sử tư tưởng thế giới, là gia tài chung cho tất
cả những người có văn hóa, xét bằng tri thức chính trực,
tinh thần nghiêm chỉnh và tuệ giác, chắc chắn Ðức Phật
là một trong những nhân vật vĩ đại nhất trong lịch sử."
Trong cuốn "Ba nhân vật vĩ đại
nhất trong lịch sử", sử gia H.G. Wells viết:
"Nơi Ðức Phật, các bạn
thấy rõ Ngài là một nhân vật đơn giản, chân thành, lẻ
loi, phấn đấu cho ánh sáng, một nhân vật sống chứ không
phải thần thoại. Ngài cũng có bức thông điệp gửi cho nhân
loại hoàn vũ. Nhiều những tư tưởng tuyệt diệu hiện đại
của chúng ta rất gần gũi tương đồng với thông điệp của
Ngài. Tất cả những đau khổ, bất mãn trong cuộc sống, theo
Ngài dạy, là do lòng ích kỷ. Con người trước khi có thể
trở nên thanh tịnh, người đó ph?i ngưng sống theo giác quan
hoặc cho riêng chính mình. Rồi người đó mới trở thành
một đại nhân. Nói một cách khác, Ðức Phật kêu gọi lòng
vị tha của con người năm trăm năm trước Chúa Christ. Trong
một số phương diện, Ngài rất gần gũi với chúng ta, và
nhu cầu của chúng ta hơn. Ngài cũng tỏ ra sáng suốt hơn Chúa
Christ trong sự quan tâm phục vụ và hy sinh cho con người và
ít mơ hồ hơn đối với vấn đề trường tồn bất tử của
kiếp nhân sinh."
Ðức Phật quả thực là một người
nhưng là một người phi thường. Ngài không phải sinh ra là
một Ðức Phật nhưng Ngài tự phấn đấu rồi thành Phật.
Ngài nhận thức được khả năng tiềm ẩn và năng lực sáng
tạo của con người mà không tự đề cao Ngài như thánh thần,
khuyên dạy tín đồ tích cực noi gương Ngài, vì Phật tính
tiềm ẩn ở tất cả mọi người.
Ðức Phật được tôn thờ như
một đạo sư tinh thần tối thượng, nhưng không bao giờ muốn
được sùng bái như một thượng đế mong muốn đặc ân trần
tục hay tinh thần. Ðức Phật không để lại một dấu hiệu
gì, hay bất cứ gì để những tín đồ thuần thành có thể
bám víu vào để suy tôn Ngài như thần thánh. Tuy nhiên, phải
công nhận rằng không có một vị đạo sư nào lại "quá vô
thần và hữu thần như Ðức Phật", Bertrand Russell gọi Ngài
một cách đứng đắn là "Người theo thuyết vô thần vĩ đại
ở mọi thời đại".
Nhưng vô thần đây không được
hiểu lầm là đồng nghĩa với không tín ngưỡng. Muốn có
hòa bình và hạnh phúc thực sự trong nhân loại, thức tỉnh
tôn giáo chân thành là hết sức cần trong thế giới đạo
đức lụn bại này. Ðiều quan trọng là không đặt niềm
tin vào tín điều hay chỉ tuân hành nghi thức và lễ lạc,
mà mà là đem lợi ích thực sự cho quần chúng, một cuộc
sống tình thương lành mạnh, hữu ích, lẽ phải và công bằng
căn cứ vào những nguyên tắc cao thượng của các đạo sư
đáng kính.
Giáo Sư Joad tuyên bố: "Vào thế
kỷ thứ sáu trước Công Nguyên, tại Ấn Ðộ và Trung Hoa,
xuất hiện ba vị thầy vĩ đại, các vị này đã làm cho con
người hiểu biết điều quan trọng chính đáng phải làm để
tự cứu dù có Thượng Ðế hay không có Thượng Ðế; trong
ba vị ấy người quan trọng nhất là Ðức Phật Cồ Ðàm."
Ðức Phật nhấn mạnh sự quan trọng
của giới hạnh như phương tiện đi tới mục đích. Ngài
khuyên nên tu tập chánh tư duy về lòng vị tha, từ ái, tính
không làm hại; chánh ngữ để có thể kiểm soát giọng lưỡi
tác hại của mình; chánh nghiệp bằng cách kìm hãm không giết
người hay muông thú; không trộm cắp trực tiếp hay gián tiếp,
không tà dâm; và chánh mạng là thoát khỏi sự bóc lột và
biển thủ hoặc bằng bất cứ phương tiện gì bất hợp pháp
để thủ đắc của cải hay tài sản. Những dạng thức này
hình thành nền tảng của giới hạnh.
Ðức Phật truyền đạt thông điệp
cao quý của Ngài về phục vụ vị tha, giới hạnh và lòng
từ ái vô bờ bến không những đến cho các vua, hoàng tử,
nhà quý phái và người triệu phú, mà cũng cho người nghèo,
người cùng đinh và thiếu thốn. Ngài giúp cơ hội đồng
đ?u cho tất cả mọi người và nâng cao địa vị con người.
Ngài tuyên bố con đường đi đến phát triển tinh thần mở
rộng cho tất cả mọi người trong mọi hoàn cảnh cuộc sống,
sang hay hèn, thánh nhân hay tội lỗi, bất cứ ai muốn cải
tà qui chính và tìm sự toàn bích.
Thường nhật Ngài thuyết giảng
cho cả các thầy tu và cư sĩ. Ðiều mà Ngài dạy chỉ là
một phần nhỏ nhoi của những điều mà ngài biết. Trong một
dịp, Ngài cầm một nắm lá trong tay, và so sánh những điều
Ngài giảng dạy chỉ như những lá trong tay; những điều Ngài
không giảng dạy nhiều như lá trong rừng. Ngài chỉ dạy điều
cần thiết cho sự giải thoát của chúng ta.
Thường lệ hàng ngày, Ngài nhằm
vào người cần đến sự giúp đỡ của Ngài; Ngài chỉ dẫn,
cổ vũ các đệ tử đã quy y tụ tập để nghe Ngài giảng,
Ngài trình bày chi tiết pháp đến cả chư thiên. Ngày dạy
Pháp cho quần chúng, cho những nhà trí thức. Lời Ngài dạy
như sữa cho em nhỏ và như thịt cho người lớn. Trước khi
thuyết giảng, Ngài thấy rõ người đói cần được ăn, thực
phẩm cần thiết cho cơ thể thì pháp cũng cần thiết cho tâm.
Ngài săn sóc người bệnh bằng chính bàn tay Ngài, Ngài tuyên
bố: "Ai săn sóc người bệnh, người đó săn sóc Như Lai"
.
Ðức Phật thiết lập một xã hội
không giai cấp bằng cách mở cửa Ðoàn Thể Tăng Già cho bất
kỳ cá nhân nào muốn gia nhập không phân biệt giai cấp hay
đẳng cấp xã hội. Chỉ có sự phân biệt là sự thâm niên
của sa di (samanera), tỳ kheo (bhikkhus), mahathera
(tỳ kheo đã có 20 tuổi đạo) và sự đạt được bốn quả
vị thánh (tu đa hoàn, tư dà hàm, a na hàm, a la hán). Sự thành
lập Ðoàn Thể Tăng Già trên căn bản là dân chủ. Về phương
diện này, (Hầu Tước, Phó Vương Ấn Ðộ) Lord Zetland tuyên
bố: "Có thể là một điều ngạc nhiên cho nhiều người biết
rằng trong các cuộc Hội Nghị của Phật Giáo tại Ấn từ
trên 2500 năm qua, người ta đã thấy những hoạt động giống
như ngày nay của chúng ta thực thi tại nghị trường".
Cũng giống như vậy, lần đầu
tiên trong lịch sử, Ðức Phật thành lập đoàn thể ni giới
cho phụ nữ bất chấp đẳng cấp hay giai cấp xã hội. Ngài
cho phụ nữ bình đẳng để phát triển tinh thần.
Cũng được biết Ðức Phật là
người đầu tiên trong lịch sử bãi bỏ chế độ nô lệ
bằng cách tiến dẫn khái niệm tình huynh đệ và phẩm giá
con người. Ðức Phật thuyết giảng chống lại sự hiến
tế các súc vật bất hạnh làm lễ vật, và đem chúng vào
trong phạm vi của lòng từ ái. Người Phật Tử thuần thành
đem lòng từ ái tới mọi chúng sanh, không phân biệt trong
bất cứ trường hợp nào.
Chính lòng từ ái hình thành cơ
sở cho tình huynh đệ giữa các quốc gia, giữa các tôn giáo,
phá vỡ hàng rào ngăn cách quốc gia này với quốc gia kia,
xu hướng tôn giáo này với xu hướng tôn giáo kia. Nếu những
tín đồ của những tín ngưỡng khác nhau không cùng chung một
cương lĩnh coi nhau như anh chị em đơn giản chỉ vì họ không
cùng một tôn giáo, chắc chắn các vị đạo sư cao quý đã
thất bại trong sứ mạng cao cả vì chính nghĩa cho nhân loại.
Ðức Phật hết sức khoan dung, bất
khoan dung là kẻ thù lớn nhất của tôn giáo. Cho nên Ðức
Phật khuyên các đệ tử không nên giận dữ, bất mãn hay
không vừa lòng khi các người khác nói xấu Ngài, giáo pháp
của Ngài hay các nhà sư. "Nếu bạn tỏ ra bất bình" Ngài
nói " Không những bạn tự mang bạn đến nguy hiểm mất tinh
thần mà bạn còn không thể suy xét những người ấy nói
đúng hay sai". "Một cảm nghĩ giác ngộ nhất, cả đến sau
2500 năm của sự giác ngộ", Tiến Sĩ Radhakrishnan nói như trên.
Ðức Phật giải thích không có
tín điều nào mà ta phải mù quáng tin theo, không có tín điều
hay tín ngưỡng nào mà ta phải chấp nhận mà không suy luận,
không có nghi thức hay các cuộc lễ dị đoan bắt ta phải
gia nhập vào nhóm người cùng chung niềm tin, và không có sự
hiến tế và sự hành xác vô nghĩa cho ai muốn thanh tịnh hóa.
Ðức Phật trình bày chân lý đơn giản cho quần chúng và
lời dạy triết lý sâu xa cho người trí thức. Ngài khuyên
những người đi tìm chân lý không nên chấp nhận bất cứ
điều gì do thế lực hay lý do gì khác mà phải tự mình suy
luận và phán xét điều đó đúng hay sai.
Trên chặng đường hòa bình hoằng
truyền giáo pháp của Ngài từ 2500 năm qua, không một giọt
máu đổ trong việc truyền bá giáo pháp, và không một ép
buộc đổi đạo bằng sức mạnh hay những phương pháp ghê
tởm. Quả thực Ðức Phật là một nhà truyền giáo thứ nhất
và vĩ đại đã từng sống trên trái đất này.
Giáo lý tuyệt vời của Ðức Phật
đã lan tỏa và vẫn đang kiến tạo hòa bình trên đường
đi vào ngày càng nhiều các quốc gia trên thế giới do tính
cách hữu lý, khả thi, hữu hiệu, không quá khích, bao dung
và đại chúng. Phật pháp đóng góp to lớn vào sự tiến bộ
văn hóa của nhiều quốc gia Á Châu. Tóm lại, tất cả những
quốc gia Phật Giáo lớn mạnh trong cái nôi Ðạo Phật.
Những quốc gia hình thành và tan
rã, những đế chế thế lực hùng mạnh đã thịnh vượng
rồi lụi tàn, nhưng đế chế của giáo pháp thành lập bởi
Ðức Phật trên tình thương yêu, từ bi, và lẽ phải, vẫn
thăng hoa và sẽ tiếp tục thăng hoa.