4
PHẬT GIÁO VÀ
NHỮNG VẤN ÐỀ CỦA THỜI ÐẠI
Tiến Sĩ
G.P. Malalasekera
Phật Giáo đặt
giải thoát hay Niết Bàn hoàn toàn trong tầm tay con người.
Tuy nhiên, nó không đến với ta như một tặng phẩm từ bên
ngoài ta; đó là điều tự ta phải đạt được. Không ai có
thể tìm mình bên ngoài và chữa khỏi sự chán ghét mình từ
những giá trị chủ yếu. Nói một cách khác, Phật Giáo không
có chỗ cho một Vị Cứu Thế chịu tội cho người khác để
đạt được sự chuộc tội.
Chư Thiên
Phật Giáo thừa nhận có nhiều
loại thần được gọi là chư thiên hay vị trời. Tuy nhiên
không một vị nào trong những chư thiên này thường còn và
bất diệt. Các chư thiên này được thấy tại nhiều cõi
sống, một số có tuổi thọ lâu hơn chúng bạn. Tuy nhiên
không một vị nào là toàn năng, một số được coi như có
thần thông siêu nhân và những ân huệ của họ ta có thể
đạt được mặc dầu không phải bằng cầu nguyện và hy
sinh. Theo Phật Giáo, những người mộ đạo có thể chia sẻ
công đức và có thể truyền cảm tư tưởng từ ái đến
chư thiên để cầu khẩn các vị này che chở cho họ.
Cuộc sống trong thế giới chư thiên
và tuổi thọ của họ tùy thuộc vào những hành vi tốt làm
trong đời quá khứ và khi kho dự trữ các công đức cạn
hết, thì các chư thiên sẽ biến mất từ cõi trời và sanh
vào một nơi nào đó. Nhiều chư thiên, nếu không phải hầu
hết, là tín đồ của Phật mà các đức hạnh được các
chư thiên biết rõ. Họ không may mắn như chúng sanh loài người
vì trong thế giới loài người, có nhiều cơ hội làm những
điều thiện hơn cảnh giới của chư thiên. Con người có
thể chia sẻ công đức đạt được do hành động thiện đến
chư thiên.
Hồi Hướng Công Ðức
Học thuyết 'hồi hướng công đức'
là một phần giáo lý của Ðức Phật. hồi hướng như vậy
được thực thi bởi người làm điều thiện quyết định
là 'ai ' có thể cùng hưởng 'công đức' của hành vi thiện
của mình. Việc hồi hướng trở nên thực sự hiệu quả
khi người thọ nhận ý thức được điều thiện và hoan hỉ
trong trường hợp ấy. Ðiều này gọi là anumodana (hoan
hỉ về việc đó). Việc hoan hỉ có thể thực thi không cần
đến sự hiểu biết của người làm điều thiện. Cái hữu
lý đàng sau điều đó là khi một người tìm thấy nguồn
vui trong một hành vi thiện khác, dù có hay không có sự hiểu
biết của người nhận, tâm của người đó trong sạch, và
thanh tịnh và điều này tạo hiệu quả công đức cho chính
mình. Sự hoan hỉ có thể thực thi bởi bất cứ ai như một
hành động có ý thức và thận trọng. 'Hồi hướng công đức'
chính nó là một hành vi thiện, thêm vào công đức của các
việc thiện đã làm. Người chia sẻ công đức không mất
mát gì mà có thể tích lũy công đức.
Có những chư thiên đặc biệt hay
các vị trời có thần thông quảng đại, được coi những
người bảo hộ của Phật Giáo. Mỗi xứ Phật Giáo có đền
thờ riêng ảnh hưởng chủ yếu là địa phương, tuy cũng
có một số ít được cầu khẩn tại bất cứ ở đâu. Có
nhiều những chư thiên địa phương được mượn hay áp dụng
bởi những tín đồ của tôn giáo khác, nhất là Ấn Giáo
trong trưòng hợp vùng đất của Theravada (Nguyên Thủy). Tại
Myanmar, chẳng hạn, người Phật Tử tìm ân huệ nơi (Thiên
Vương ) Nats, chủ trì vận mệnh người tại nơi này. Tại
Nhật Bản, mặt khác, nhiều Bồ Tát (Phật sẽ thành) được
cầu khẩn.
Có nhiều những điện thờ các
vị thần này, tại đây các người sùng đạo dâng cúng trái
cây, hoa như biểu tượng sự tôn kính, cầu nguyện, tụng
kinh và nguyện cầu xin ân huệ. Không có súc vật bị cúng
tế. Dạng thức của sự thờ phượng này có ảnh hưởng
sâu rộng bởi những người tu tập theo tôn giáo hữu thần.
Việc này tương đồng với điều Ðức Phật nói khi Ngài
tuyên bố lúc con người bị khủng hoảng hay lo âu, người
dân sẵn sàng đi đến bất cứ nơi đâu để được che chở.
Những ân huệ mà họ nguyện cầu liên quan đến việc trần
thế. Không có người Phật tử nào tin vào sự sùng bái các
thần, dù thần thông mạnh me,õ có thể dẫn đến việc mở
mang tinh thần.
Niềm Tin
Câu hỏi thường được nêu lên
là niềm tin (Saddha) có vị trí như thế nào trong Phật
Giáo. Tưởng cũng rất hữu ích nhớ lại trong các bản văn
kinh điển nguyên thủy tiếng Pali, không có một từ ngữ nào
tương đồng với chữ 'Phật Tử'. Dân chúng được phân chia
ra làm nhiều hạng theo trình độ của sự phát triển tinh
thần. Vây nên chúng ta có người bình thường, một trong số
nhiều người trong dân gian (puthujjana), người lương
hảo (kalyana-puthujjana), người quý phái (ariya) và
người hoàn toàn (arahant). Kinh điển nói đến những
người tìm nương tựa nơi Ðức Phật, Giáo Pháp của Ngài,
và những đệ tử cao quý của Ngài (đoàn thể Tăng Già).
Trong Phật Giáo, không có nghi thức 'rửa tội' tuy nhiên có
một nghi thức rập khuôn áp dụng bởi người Phật Tử trong
những nước Phật Giáo để bày tỏ hành động 'quy y' có
nghĩa là người sùng đạo chấp nhận Ðức Phật là vị Ðạo
Sư, Pháp là triết lý và Lối Sống và Tăng Già (Ðoàn thể
các Thầy Tu) như những người gương mẫu về Lối Sống.
Ðúc tin Phật Giáo có nghĩa là chấp
nhận trong niềm tin tưởng và kiến thức những nơi nương
tựa ấy rất đáng được chấp nhận. Không có 'niềm tin
mù quáng', không có trường hợp nào 'không tin thì bị đọa
đầy'. Ðức Phật đồng ý có nhiều thầy và nhiều Lối
Sống được thuyết giảng bởi các vị thầy này, và có nhiều
tín đồ của các vị thầy ấy và Lối Sống của họ. Mọi
người hoàn toàn tự do chọn lựa; không một hạn chế nào
trên quyền tự quyết của môt cá nhân trong phương diện này.
Thực ra có nhiều trường hợp những tín đồ của các vị
thầy khác thoái thác các vị thầy này và mong muốn chuyển
lòng trung thành với Ðức Phật. Ngài làm họ nản lòng và
yêu cầu họ hãy nghĩ kỹ vấn đề hơn nữa. Khi họ còn năn
nỉ, Ðức Phật khuyên họ nên tiếp tục việc thiện với
những vị thầy cũ của họ.
Một đoạn nổi tiếng trong Kinh
Kalama, thường được trích dẫn trong phương diện này, là
một bằng chứng không bác được của sự tự do chọn lựa
này. Ðoạn văn khẳng định không nên chấp nhận điều gì
chỉ vì lý do truyền thống, quyền thế của vị thầy, hay
vì nó là quan điểm của nhiều người, một nhóm người đặc
biệt hay ngược lại. Mọi thứ đều phải được cân nhắc,
quan sát, và phán xét xem đúng hay sai dưới ánh sáng nhận
thức của chính mình. Nếu là sai, không nên bác bỏ chúng
ngay mà nên để lại xét thêm nữa. Không phải nghi ngờ được
coi là tội ác ghê gớm mà nên được tích cực khuyến khích.
Chánh Kiến và Tà Kiến
Phật Giáo không có sự định nghĩa
rành mạch cho những thuật ngữ Sammaditthi (chánh kiến)
và Micchaditthi (tà kiến). Chúng dựa vào quan điểm thực
chất là sai hay đúng dù đó là theo người Phật Tử hay những
người khác. Không quan điểm nào bị coi như không được
xâm phạm vì lý do tôn giáo và không được hỏi. Tự do tư
tưởng là một vấn đề nhân phẩm. Cả đến tính giá trị
của các lời tuyên bố của chính Ðức Phật cũng được
hỏi. Ðức Phật tuyên bố không có quyền hành gì về học
thuyết của Ngài ngoại trừ kinh nghiệm bản thân của chính
Ngài.
Quyền hành thực sự là quyền hành
mà tự nó có chân lý, chân lý chứng minh chính nó là xác
thực. Chân lý như vậy có sức mạnh lớn, sức mạnh có thể
làm phép lạ (saccakiriya), như được thấy nhiều trong
kinh Jataka, một phần gia tài văn hóa của người Phật Tử.
Cho nên, saddha (niềm tin) nên được giải nghĩa như tin
cẩn, tin tưởng hay nhận thức hơn là niềm tin, vì niềm tin
có nghĩa rộng không tìm thấy trong khái niệm về Saddha.
Hạnh Phúc của Tất Cả Chúng
Sanh
Lối sống Ðức Phật dạy, đôi
khi gợi ý, không có nghĩa đặc biệt dành cho những người
có đời sống trong tu viện. Ðúng ra, tinh thần không luyến
ái phải được phát triển để đạt Niết Bàn có thể thành
tựu nhanh bởi nhà sư hơn là người cư sĩ. Nhưng, hoàn toàn
là sai khi nói giải thoát hoàn toàn chỉ có thể đạt được
bởi nhà sư và người cư sĩ sống tại gia không đạt được.
Những bài thuyết giảng của Ðức Phật thu thập và hiệu
đính bởi Hội Ðồng các Trưởng Lão sau khi Ðức Phật nhập
diệt, gồm nhiều bài giảng cho các nhà sư vì các nhà sư
là thính giả chính trực tiếp của Ngài. Nhưng cũng có nhiều
bài Ngài giảng cho người cư sĩ. Ðôi khi Ngài giảng cho một
người.
Trong bài thuyết pháp đầu tiên,
gọi là Thiết lập nguyên tắc Chánh Pháp, Ngài phát triển
khái niệm về phúc lợi và hạnh phúc của tất cả chúng
sanh, không chút kỳ thị, phát xuất từ từ bi cho thế giới.
Ðó là lần đầu tiên trong lịch sử loài người, như chúng
ta biết, lý tưởng về việc thiện chung hay việc thiện phổ
thông được vạch ra, ảnh hưởng không những người bình
thường mà cả các dân tộc trên thế giới và tất cả những
dân cư của vũ trụ. Bài này được mô tả như giáo lý mang
kết quả đến ngay trong đời sống này, không chậm trễ,
lúc nào cũng có giá trị, có thể kiểm chứng và gây hứng
thú cho việc điều tra nghiên cứu.
Sự Ðoàn Kết Của Nhân Loại
Ðức Phật dạy không những cần
có cuộc cách mạng nội tâm trong một cá nhân vì hạnh phúc
nhân loại mà cũng cần có cuộc cách mạng bên ngoài trong
đời sống xã hội. Cho nên, chẳng hạn, Ngài thuyết giảng
căn bản hòa hợp và đoàn kết của nhân loại, không kể
đến mầu da, chủng tộc và những đặc điểm vật lý khác
- như trong trường hợp của thú vật - và tạo một cuộc
cách mạng hủy bỏ chế độ đẳng cấp đang lan tràn thời
bấy giờ tại Ấn Ðộ. Ðể trình bày khái niệm về sự
hòa hợp nhân loại, Ngài hoạt động không chỉ với các vua
chúa, các nhà tư bản và các phụ nữ quý tộc mà Ngài cũng
hoạt động với người nghèo nhất của người nghèo, với
người ăn xin, và những công nhân quét đường, kẻ trộm
cắp và phụ nữ mãi dâm.
Ngài thâu nhận vào đoàn thể Tăng
Già do Ngài thành lập, nam và nữ ở mọi từng lớp trong xã
hội bất kể đến dòng dõi và nguyên quán. Ngài chăm sóc
người bệnh và người cơ cực, an ủi kẻ bị ức hiếp và
mang hạnh phúc đến người nghèo khổ. Ðược biết bệnh
viện đầu tiên trong lịch sử được thành lập dưới sự
lãnh đạo của Ngài. Ngài không xa lánh thế giới sau khi Giác
Ngộ, sống 45 năm trong cộng đồng, luôn luôn tìm đến những
người cần đến sự giúp đỡ.
Dân Chủ
Ngài đề cao tự do cá nhân, tự
do tư tưởng và ngôn luận cùng những lý tưởng dân chủ.
Ðiều ràng buộc với Phật Giáo không mâu thuẫn với sự
cởi mở. Ðoàn Thể Tăng Già được coi như một thể chế
dân chủ lâu đời nhất trên thế giới và coi như một kiểu
mẫu cho các nền móng cho các tổ chức, kể cả thể chế
chính trị. Quốc gia lý tưởng vạch ra bởi Phật Giáo là
quốc gia dân chủ, làm việc phúc lợi vật chất và tinh thần
của người dân, bảo đảm tự do chính trị, tôn giáo và
cá nhân cũng như an ninh kinh tế với đầy đủ công vi?c làm.
Phúc Lợi Kinh Tế
Lập kế hoạch cho phúc lợi kinh
tế được nhấn mạnh rõ ràng như một phần nhiêm vụ của
nhà vua hay quốc gia. Ðức Phật nói: 'Nếu điều đó làm đúng,
người dân, mỗi người theo nhiệm vụ của riêng mình, không
còn quấy rối vương quốc, thu nhập quốc gia sẽ tăng lên,
xứ sở sẽ an bình, và dân chúng ai nấy đều vui và sung sướng,
nhảy múa với con cái trong tay, sẽ an trú trong nhà cửa mở
toang'. Kinh Mahavatsu nói: 'Thế giới dựa trên hai nền móng:
sự đạt được của cải và sự bảo tồn cái đã đạt
được. Cho nên muốn đạt được của cải và bảo tồn cái
mà bạn đạt được, cần nỗ lực mạnh mẽ, trong phạm vi
chánh pháp'.
Quyền Sở Hữu
Nhân dân làm chủ tài sản được
ủng hộ tại nhiều nơi trên thế giới, nhất là tại những
nơi xã hội chủ nghĩa thống trị. Cho đến nay được biết
sự áp dụng đầu tiên nguyên tắc tài sản chung trong một
cộng đồng hay xã hội thấy có trong Luật Tạng quản trị
Ðoàn Thể Tăng Già, nơi mà tất cả tài sản, chuyển động
được hay bất động, hay bất cứ một thứ có giá trị kinh
tế, thì được giữ như của chung, không có một loại ép
buộc nào. Ðời sống trong Tăng Ðoàn là một đời sống đoàn
thể căn cứ trên nguyên tắc tự nguyện đồng lao cộng tác.
Phật Giáo và Nhân Loại
Từ những gì đã nói, cho thấy
rằng Phật Giáo quan tâm nhiều đến thế giới này và đời
sống của nhân loại trong đó. Phật Giáo tuyệt nhiên không
chối bỏ thế giới. Ðức Phật mô tả giáo lý của Ngài
như một Chúng sanh Sanditthika, chủ yếu quan tâm đến thế
giới này, đến đời sống này. Ngay cả hạnh phúc cao nhất,
đó là Niết Bàn, sự phấn đấu ngay trong kiếp này. Giáo
lý này nhấn mạnh dến nhu cầu tuyệt đối để phát huy tốt
nhất từ hiện tại phù du để bảo đảm tương lai phải
được kiểm soát vì hạnh phúc của chúng ta. Quá khứ đã
qua không lấy lại được. Chỉ có hiện tại có thể cho chúng
ta đời sống tốt đẹp. Tương lai chưa đến và tương lai
tùy thuộc hoàn toàn nơi chúng ta.
Người Phật Tử không coi thế giới
này như một nhà tù mà con người phải đào thoát để lên
thiên đường. Ðúng hơn là con người tìm kiếm xây dựng
thiên đường ngay nơi đây. Người Phật tử không phải là
một người duy vật chủ nghĩa, cũng không khinh khi những thuận
lợi của văn minh vật chất. Vấn đề không phải là sự
chọn lựa giũa cảm giác và tinh thần mà là sự chi phối
tinh thần. Người Phật Tử lý tưởng phải thiết lập sự
quân bình giũa bên ngoài và bên trong, giũa những trạng thái
bên ngoài của thiên nhiên và thế giới chung quanh chúng ta,
và tinh thần tiến bộ do sự chiến thắng lòng vị kỷ. Với
người Phật Tử, đời sống là một cuộc phiêu lưu vĩ đại,
thường là một cuộc phiêu lưu nguy hiểm. Vấn đề chính
là làm sao cái vĩ đại nhất của tất cả các cuộc phiêu
lưu có thể dẫn đến kết thúc hạnh phúc.
Toàn Hảo
Người Phật Tử lý tưởng là bậc
A La Hán, có nghĩa là toàn hảo. Muốn đạt được lý tưởng
này, tất cả những yếu tố chống lại hạnh phúc này phải
bị loại bỏ không phải cho riêng mình mà cũng cho tất cả
các sự vật có đời sống. Người Phật Tử không thể tìm
phúc lợi cho cá nhân mình, mà không quan tâm đến người khác;
phúc lợi của mình gắn bó với phúc lợi của toàn thế giới.
Vậy nên huấn thị của Ðức Phật là người thiện phải
sabba-panabbhutahitanukampi, quan tâm sâu xa và hoạt động
tích cực vì hạnh phúc và phúc lợi không những chỉ cho con
người mà cho tất cả các sinh vật.
Ở bất cứ nơi nào Phật Giáo đến,
Phật Giáo khuyến khích sự phát triển văn minh và văn hóa
bằng khoan dung, nhân từ, cảm thông và hiểu biết, hai đức
hạnh song đôi Karuna (từ bi) và Panna (trí tuệ),
hai đức hạnh này hình thành hai cương lĩnh chính của học
thuyết Phật Giáo.
Thế Giới Tiên Tiến
Nét đặc thù phân biệt của thế
giới hiện đại là độ lớn và tốc độ của tiến trình
thay đổi. Ngày nay chúng ta chứng kiến sự thay đổi hầu
như không thể tin được trong sự biến đổi hoàn toàn và
mạnh mẽ của tất cả thể chế nhân loại trong mọi lãnh
vực hoạt động của con người. Ðúng là những thuận lợi
hấp dẫn của khoa học và kỹ thuật đã phá hoại cái dây
neo của một lối sống ổn định có đặc tính đạo đức
riêng, ném đa số người lênh đênh trong thế giới xa lạ
và khó khăn. Thế giới thay đổi nhanh đến nỗi không kịp
nhận ra.
Nhưng những tiến bộ này cũng mang
sự giải phóng đến cho nhân loại trong nhiều phương diện.
Chúng đã cho chúng ta những thành quả vĩ đại về xã hội
và tri thức và những phương tiện để diệt nạn đói và
nghèo khổ. Xã hội đã liên kết với nhau chặt chẽ chưa
từng có, và đáp ứng nhu cầu và đòi hỏi của con người
nhiều hơn. Sự lầm lỗi không phải ở những sản phẩm của
tiến bộ khoa học và kỹ thuật mà là sự thất bại của
chúng ta trong việc sử dụng chúng thích đáng và khôn ngoan.
Trong bất cứ trường hợp nào,
chúng ta không thể ngưng thế giới; thế giới luôn thay đổi,
vì thay đổi, như Ðức Phật nói, là sự thật căn bản của
đời sống. Không có cuộc cách mạng nào có thể chấm dứt
được sự tự nó thay đổi. Ðó là cái đẹp của thay đổi.
Không có sự thay đổi liên tục, cách mạng ngày qua trở thành
tập quán ngày nay, và tập quán ngày nay trở thành chuyên chế
ngày mai. Sự sống còn của chúng ta gắn bó với thay đổi.
Do đó người hiện đại phải thấy rằng Phật Giáo đặc
biệt thích hợp cho thời đại chúng ta. Phật Giáo chấp nhận
sự thay đổi; thực ra, thế giới được xây dựng trên chân
lý về sự thay đổi không ngưng và liên tục. Chúng ta phải
học hỏi, hiểu dòng sông lúc nước chảy.
Chúng ta phải trau dồi đặc tính
phục hồi nhanh sức mạnh, khả năng áp dụng, thích nghi và
linh động. Thời điểm chúng ta đi đến những kết luận
cứng rắn và từ chối xét các điểm dị biệt, chúng ta ngưng
là người thông minh. Quan điểm của chúng ta có khuynh hướng
làm cho giáo điều cứng thêm và giáo điều làm chúng ta bướng
bỉnh trong tính ngoan cố của chúng ta. Những thử thách mới
đòi hỏi chúng ta đáp ứng mới. Nếu mỗi cá nhân cẩn thận
tránh giáo điều, toàn bộ cộng đồng tr? thành một xã hội
rộng mở có thể đem đến một đời sống tốt đẹp.
Những Khó Khăn Nhân Loại Phải
Ðối Phó
Những khó khăn nhân loại phải
đối đầu rất nhiều. Chúng ta có những khó khăn về lương
thực, kỹ nghệ, nhân công, lương bổng, thất nghiệp, cơ
hội bất bình đẳng, khoảng cách giữa người giàu và người
nghèo, đó là một vài việc đề cập đến. Những khó khăn
này hình như phức tạp, đương nhiên phức tạp, nhưng điều
mong mỏi của một người bình thường chỉ là một điều
tầm thường. Người ấy chỉ mong muốn được sống trong
hòa bình và hạnh phúc, với tự do được xây dựng cái thế
giới nhỏ bé của mình, trong phẩm cách của con người.
Người ấy cũng cần đến tình
bạn bè, hiểu biết, tình thương và điều hy vọng cho mình
và con cái, cả kiếp này và kiếp sau. Ở nhiều nơi trên thế
giới, những nhu cầu căn bản đó cũng không thể có được.
Chẳng tìm thấy an ninh và công bằng thấy trên hoàn vũ. Sự
bất trắc và bất an trở thành một tai họa chết người
khắp hoàn vũ cả giữa những người giàu lẫn người nghèo,
đôi khi đem lại thờ ơ và lãnh đạm, đôi khi lo âu, căng
thẳng và đảo lộn. Khoa học thất bại trong việc tìm kiếm
bí mật của hạnh phúc. 'Chinh phục thiên nhiên' không thành
công trong việc đạt được sụ sung túc và hòa bình. Ðiều
này không làm cho chúng ta ngạc nhiên vì Ðức Phật dạy chúng
ta hạnh phúc chỉ có thể đạt được khi sống hòa hợp với
Pháp, tức với thiên nhiên, với cái đẹp và huy hoàng của
nó. Chân lý là, là nhân loại, nói chung không hạnh phúc, hết
sức khổ sở.
Cho nên tình hình hình như hết sức
phức tạp và có thể không có giải pháp. Tuy nhiên, nếu chúng
ta nghiên cứu cẩn thận vấn đề với kiến thức và hiểu
biết, chúng ta nhận thức rằng những khó khăn hiện đại
căn bản không khác biệt gì với những khó khăn kinh niên
đã làm đau đớn người dân trong tất cả các thời đại
và ở mọi miền. Nếu những khó khăn hiện đại khác biệt
những khó khăn của tổ tiên chúng ta, đó chỉ là cùng vấn
đề nhưng lớn hơn về số lượng và nhiều loại hơn.
Vậy thì, giáo lý căn bản của
Ðức Phật, như chúng ta đã thấy, là chẳng có gì xẩy ra
ngoại trừ là kết quả của nguyên nhân. Một khi những nguyên
nhân được điều tra và được hiểu, người ta sẽ tìm được
giải pháp. Người ta thường cho rằng những giải pháp của
các bậc hiền triết đời xưa như Ðức Phật, quá đơn giản,
không đủ hiệu quả để giúp đỡ chúng ta trong giải pháp
trước những khó khăn cực kỳ phức tạp đang tác động
lên cá nhân và xã hội trong đời sống hiện đại. Thông
điệp của Ðức Phật đề cập đến tình trạng căn bản
khó khăn của con người khiến thông điệp này lúc nào cũng
có giá trị và hợp thời. Thông điệp này hướng dẫn đến
hành động về phương diện tư tưởng, lời nói và hành vi.
Mỗi thế hệ kế tiếp có thể và phải khám phá ra cái thích
đáng của thông điệp này cho việc giải quyết khó khăn của
mình.
Hạnh Phúc Cao Nhất
Giáo lý của Ðức Phật nói hạnh
phúc tối cao là hòa bình và không có hạnh phúc thực sự
nếu không có hòa bình. Thế giới bị quẫn trí bởi sợ hãi
và đe dọa của chiến tranh. Những quốc gia dính líu đến
chiến tranh trở thành công xưởng đáng sợ làm vũ khí đạn
dược cho quân sự, tiếp tục việc buôn bán và kiếm lời
cho những lái buôn cái chết và phá hoại: đi theo sau lý tưởng
đày mâu thuẫn không những chỉ binh lính quân đội mà còn
hàng ngàn đàn ông, đàn bà, trẻ con vô tội bị thảm sát
tàn nhẫn và các thiệt hại không kể siết làm hại đến
đất đai và tài sản. Không có gì có thể thoát khỏi cái
ác liệt và điên cuồng của trận chiến, và kết thúc đi
đến đâu? 'Hận thù không thể chấm dứt được bằng hận
thù' Ðức Phật tuyên bố 'chỉ có tình thương', và 'chiến
thắng nuôi dưỡng ác tâm', 'và kẻ chiến bại chẳng hạnh
phúc'. Trên nhiều nơi trên thế giới, những đám mây chiến
tranh đe dọa, không khí đầy bạo động trong tư tưởng, lời
nói và hành động.
Vây thì, đó là nhiệm vụ của
tôn giáo - tất cả các tôn giáo. Chỉ có tôn giáo mới có
thể ảnh hưởng đến sự chuyển hóa cần thiết của tâm
- tôn giáo không phải chỉ gồm có thực hiện các nghi thức
và các cuộc lễ nghi hay thuyết giảng các bài pháp, mà là
đời sống có tính chất thiêng liêng và nội tâm an lạc mà
kết quả giải trừ quân bị trong tâm, làm tâm nguôi giận,
đó là sự giải trừ quân bị thật sự.
Gốc Rễ - Nguyên Nhân Chiến Tranh
Ðức Phật dạy chúng ta con đường
duy nhất để đạt hòa bình là loại bỏ gốc rễ - nguyên
nhân chiến tranh: tham lam, sân hận và si mê. Ngày nay, thế
giới phân chia thành nhiều nhóm tư tưởng khác nhau, với khối
sức mạnh, họ dành cả tâm trí và năng lực vào công việc
chiến tranh tiêu cực, vô ích. Thế giới không thể có hòa
bình cho đến khi nào con người và quốc gia từ bỏ ham muốn
ích kỷ, bỏ cái cao ngạo chủng tộc, và tẩy sạch cái thèm
khát ích kỷ muốn chiếm hữu và quyền hành. Lý tưởng chia
rẽ đem đến xung đột. Lý tưởng mang nhiều dạng thức khác
nhau: chính trị, tôn giáo, kinh tế, xã hội và giáo dục. Lý
tưởng là một sự thoát ly thực tế. Nó làm cho con người
hung bạo và giam cầmõ con người trong cuồng tín và bạo lực.
Chính trong tâm con người những
lý tưởng mâu thuẫn ấy phát sanh, dẫn đến căng thẳng và
chiến tranh, thì cũng chính nơi tâm con người nhửng xung đột
ấy có thể diệt trừ để nhân loại có thể tràn đầy những
tư tưởng hòa hợp và hòa bình. Ðức Phật tuyên bố tâm
đứng đầu, kiến thâu của mọi việc, tốt hay xấu, khi tâm
tẩy sạch các tội lỗi, hòa bình và hạnh phúc sẽ ngự trị.
Tôn giáo, nếu đúng là tôn giáo
thực sự, phải lấy toàn bộ con người làm phạm vi của
nó chứ không phải chỉ một vài khía cạnh cuộc sống con
người. Người thiện, có nghĩa là người theo tôn giáo, hiểu
không có hòa bình và hạnh phúc trên trái đất chừng nào
còn có nghèo khổ và thiếu ăn, bất công và áp bức, pháp
chế kỳ thị, phân biệt chủng tộc, bất lực xã hội và
bất bình đẳng, bị sợ hãi gặm nhấm, ngờ vực và nghi
kÿ lẫn nhau. Tự trọng cũng cần thiết cho
hạnh phúc như thực phẩm, không
có tự trọng nơi những người không có cơ hội để đạt
được sự phát triển hoàn toàn về nhân cách.
Khó Khăn Của Thế Giới
Ngày nay những khó khăn mà nhân
loại phải đương đầu, đe dọa tổng thể cấu trúc của
nhân loại là những khó khăn thế giới không phải chỉ cô
lập tại vùng địa dư này hay vùng địa dư kia. Cho nên, giải
pháp phải được tìm kiếm ở cấp thế giới. Ðiều này
liên quan đến quan niệm mới, về phần chúng ta, về các quan
hệ con người, không chỉ trong gia đình, tại nhà, thị trấn,
làng mạc, hay xú sở của chúng ta, mà là trong bối cảnh thế
giới. Phải có nhu cầu giáo dục đàn ông cũng như đàn bà
về lãnh vực các tai hại của tinh thần quốc gia hẹp hòi,
chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, màu da và tín điều. Bất
khoan dung, kiêu căng và tin mù quáng - chúng cố gắng phản
đối và phỉ báng dân tộc khác, văn hóa khác, tôn giáo khác,
lối sống khác - Những thứ ấy phải được loại bỏ nếu
chúng ta muốn tìm hòa bình.
Quá Khứ Tai Hại
Phải thừa nhận rằng tôn giáo
trong nhiều phương diện, có một quá khứ tai hại phải chuộc
lại. Quá thường xuyên, nhiệm vụ tôn giáo trước nhân loại
đã phải chịu những đòi hỏi khẩn cấp của hoạt động
chính trị quốc gia hay tỉnh lẻ và những âm mưu bất chính
để bành trướng và chinh phục. Trong thời đại cổ xưa,
hầu hết những cuộc chiến tranh quốc gia đều là chiến
tranh tôn giáo. Tôn giáo đã chôn vùi hình ảnh của mình bằng
tầng tầng lớp lóp lễ nghi và tín điều rườm rà, các nghi
vấn về tổ chức giáo hội, và tính "không thể sai lầm"
của các sách vở và nhân vật tôn giáo. Làm như vậy tôn
giáo tự thu hẹp chính mình để trở thành một thứ nghề
tu sĩ, thành chủ nghĩa tăng lữ thần quyền, chỉ còn chăm
lo cho của cải và đặc quyền của Giáo Hội.
Thế Tục Hóa
Cho nên người hiện đại có quyền
hỏi, tôn giáo dùng làm gì cho chúng tôi ở thời đại này.
Họ sẽ lập luận rằng tôn giáo đó phục vụ cho mục đích
của tôn giáo đó, cho nên hãy để cho nó chết. Ðó là nguyên
nhân chính mà tôn giáo bất cứ ở chỗ nào cũng phải đương
đầu. Vì vấn đề phát xuất từ thế tục hóa nhiều ít
rất phổ thông cho tất cả các tôn giáo thế giới, không
cần phải đặc biệt xem xét đặc biệt chúng tại đây.
Tuy nhiên cái nghiêm trọng của chúng
là những vấn đề liên quan đến giới trẻ của thế giới
mà những mối lo âu về chúng hiện hữu nơi những thế hệ
già và nhất là nơi các vị lãnh đạo của nhiều tôn giáo.
Những nỗi lo âu này tập trung chủ yếu vào bạo lực đang
lan tràn trong nhiều phong trà thanh niên và việc dùng các chất
say và ma túy bởi một số rất đông thanh thiếu niên nam nữ.
Cả hai, những yếu tố này dường như là dấu hiệu của
căn bệnh gốc rễ thâm sâu, giống như những bệnh khác, phải
do kết quả của những nguyên nhân nào đó. Ðó là những
nguyên nhân mà chúng ta phải khám phá ra trước khi chúng ta
có thể nghĩ cách chữa trị.
Các Tầng Lớp Văn Hóa
Trong hầu hết các quốc gia trong
thế giới hiện đại, dường như có ba lớp văn hóa rõ rệt.
Thứ nhất là văn hóa truyền thống của những đức tính
đơn giản có quan điểm bảo thủ gọi là văn hóa trong trạng
thái bình thường phấn đấu để duy trì giá trị cổ xưa
đã được tôi luyện trong thử thách khắc nghiệt của cuộc
sống. Thứ hai là xã hội có tổ chức kỹ thuật tiên tiến
quan điểm phóng khoáng cố gắng thích nghi với những thay
đổi đang xẩy ra chung quanh với tốc độ chóng mặt. Thứ
ba là cái gọi là 'phản văn hóa', tượng trưng cho đầu óc
bình dân của những người gọi là hyppies, tóc dài, bề ngoài
cẩu thả, nghi ngờ niềm tin và giá trị, sở thích của họ
là nhạc rock, tự do nhục dục, ham mê các chất say và ma túy
với biểu tình rầm rộ, quay về lối sống của công xã hay
bộ lạc, trở về với Thiên Nhiên trong cái mà họ gọi là
'chủ nghĩa thẩm mỹ tuyệt đối'.
Nhóm chống lại văn hóa này thường
bị hai văn hóa kia nhìn bằng con mắt sợ hãi và khinh khi.
Tuy nhiên cũng có những người, đã nghiên cứu kỹ về nhóm
chống văn hóa này, xác nhận rằng hình ảnh này là sai, nông
cạn và chỉ có bề ngoài, và cách hành xử không chính thống
của họ chỉ là phương tiện chống lại xã hội đã được
thiết lập mà chúng coi như hoàn toàn bị thúc đẩy bởi thành
kiến và tư lợi.
Dưới ánh sáng của những gì đã
nói, tôn giáo phải có thái độ thế nào với những người
đó ở thời đại tiên tiến này mà người ta thấy họ ở
khắp nơi, có chỗ nhiều chỗ ít? Chắc chắn, phải là một
thái độ khoan dung và thông cảm, và trên hết, thái độ của
sự hiểu biết, mềm dẻo và thích nghi.
Xin đừng quên một số các nhà
lãnh đạo tôn giáo chính họ cũng là người cách mạng. Ðức
Phật, chẳng hạn, là một trong nhừng nổi dạy vĩ đại nhất
trong lịch sử nhân loại. Ngài phủ nhận những điều được
mệnh danh là đúng mà ở thời Ngài tôn giáo căn cứ vào,
và mang lại cho sự tìm kiếm tôn giáo một định hướng hoàn
toàn mới. Ngài không chấp nhận tính thành thật của những
người Vệ Ðà hay sức mạnh của chức danh thầy tu. Ngài
bác bỏ cái ảo tưỏng cho rằng những khó khăn của con người
có thể giải quyết bằng nghi lễ thiêng liêng và bùa phép.
Ngài là kẻ thù bị nguyền rủa của hệ thống đẳng cấp
mà toàn bộ cấu trúc của xã hội Ấn Ðộ dựa vào. Ngài
bị chế diễu và khủng bố và vài mưu hại đã xẩy ra trong
đời Ngài.
Những Ðặc Tính Nổi Bật
Trong 2500 lịch sử, Phật Giáo đã
đương đầu thành công trước các thử thách gặp phải. Mềm
dẻo và khoan dung là những đặc tính nổi bật nhất. Không
có những thể chế cấp bậc và không có tín điều cứng
nhắc. Ảnh hưởng ôn hòa của Phật Giáo được chứng minh
bởi văn hóa và văn minh phát triển tại các quốc gia được
tôn giáo này truyền đến. Bức thông điệp Phật Giáo cho
người hiện đại cũng mạnh mẽ như thời Ðức Phật. Phật
Giáo không hứa hẹn những căn bệnh mà nhân loại phải chịu
có thể giảm bớt trong bất cú một đường lối nào đó
của xã hội. Trong khi bác bỏ bất cứ tội bẩm sinh nào của
con người, Phật Giáo tuyên bố sự giải thoát là vấn đề
cá nhân và chỉ có thể đạt được bằng hạnh kiểm đạo
đức và giáo dục tinh thần. Toàn bộ giáo lý của Ðức Phật
được chính Ðức Phật tóm tắt như sau:
"Tránh làm điều ác, làm
điều thiện, thanh lọc tâm ý - đó là thông điệp của Ðức
Phật".
Chủ Nghĩa Thực Dân
Trong bốn, năm thế kỷ vùa qua,
Phật Giáo bị đau khổ vì chủ nghĩa thực dân tại nhiều
quốc gia Á Châu, bởi ngoại chiến và nội chiến và nỗ lực
có chủ tâm của những tín đồ tôn giáo khác nhằm làm suy
yếu và diệt trừ Ðạo Phật. Tăng Già gìn giữ giáo lý tồn
tại được hưởng sự bảo trợ của những người có quyền
lực, đã bị phá rối và suy yếu vì sức mạnh vượt qúa
sự kiểm soát của Phật Giáo.
Nhưng viễn cảnh lại một lần
sáng tỏ hơn. Sự thống nhất Phật Giáo đã được tạo dựng
bởi những tổ chức như Hội Ái Hữu Phật Tử Thế Giới
và Hội Ðồng Tăng Già Thế Giới đã hợp nhất Ðại Thừa
và Nguyên Thủy để cùng theo một chương trình hành động.
Mù chữ và nghèo khổ là vấn đề quan trọng mà những người
Phật Tử cần phải vượt qua. Tăng Già phải được giáo
dục để dáp ứng với nhu cầu hiện đại. Phật Giáo không
bao giờ là một tôn giáo tiêu cực và dễ sai khiến. Phật
Giáo là một trong những lực lượng văn minh vĩ đại của
thế giới.