2
BỨC THÔNG ÐIỆP
BẤT DIỆT
Hòa Thượng
Piyadassi Mahathera
Một số người
thích gọi giáo lý của Ðức Phật là một tôn giáo, một
số khác lại gọi là triết lý, và cũng có người nghĩ rằng
là cả hai tôn giáo và triết lý. Tuy nhiên, nói cho đúng hơn
có thể gọi là "Lẽ Sống". Nhưng cũng không có nghĩa Phật
Giáo chỉ là một nền đạo đức. Hầu như trái lại, Phật
giáo là con đường huấn luyện luân lý, tinh thần và trí
thức hầu dẫn tới tâm trí hoàn toàn được tự do. Chính
Ðức Phật gọi giáo lý của Ngài là "Dhamma-Vinaya"
(Pháp-Luật), Học Thuyết và Kỷ Luật. Nhưng Phật Giáo, trong
nghĩa hẹp không thể gọi là tôn giáo, vì tôn giáo có nghĩa
là 'hành động hay hạnh kiểm biểu lộ niềm tin sự sùng
kính, và ham muốn làm vừa lòng đấng thần linh có quyền
năng nào đó, tu tập hay thực hành lễ nghi và sự tuân thủ
ngụ ý công nhận đấng quyền năng vô hình giám sát số phận
của mình, và ta phải phục tùng, tôn thờ và lễ bái'. Phật
giáo không phải là một tôn giáo như vậy.
Trong tư tưởng Phật Giáo, không
có sự nhận thức hay tin chắc có sự hiện hữu của Ðấng
Sáng Tạo dưới bất cứ dạng thức nào có quyền thưởng
phạt các hành vi thiện ác của người mà Ðấng đó tạo
ra. Người Phật Tử nương tựa nơi Ðức Phật (Buddham suranam
gacchami) không phải trong niềm hy vọng được Giáo Chủ
cứu vớt. Ðức Phật chỉ là một vị Thầy chỉ con đường
và hướng dẫn tín đồ tự giải thoát.
Một cái bảng cắm trên đường
đi, thí dụ, một tấm biển báo ở chỗ về, chỉ dẫn quan
sát bước chân đi của mình. Chắc chắn bảng đó không mang
người bộ hành đến nơi muốn đến được.
Một bác sĩ khám bệnh và cho toa
thuốc, phần người bệnh là thử nghiệm toa thuốc đó. Thái
độ của Ðức Phật đối với tín đồ cũng giống thái độ
của người thầy hiểu biết và từ bi hay thầy thuốc.
Sự thờ cúng cao cả nhất là tri
ân những tinh hoa của nhân loại, những người có tâm hồn
vĩ đại và dũng cảm với sự hiểu biết uyên bác sự thật,
quét sạch vô minh và nhổ hết gốc rễ ô trược. Người
nhìn thấy chân lý là người cứu giúp thực sự, nhưng người
Phật Tử không cầu nguyên họ. Họ chỉ tôn thờ những người
đã tìm ra Chân Lý vì đã chỉ con đường đi đến chân hạnh
phúc và giải thoát. Hạnh phúc là điều mà ta phải tự dạt
lấy; không ai có thể làm cho ta tốt hơn hay xấu hơn. 'Thanh
tịnh hay không thanh tịnh' tùy thuộc chính ở ta. Người ta
không thể thanh tịnh hay ô nhiễm người khác.
Ði Tìm Chân Lý
Trong khi lúc lâm chung nằm trên giường
giũa hai cây Sa La tại Kusinara, Ðức Phật tám mươi tuổi nhìn
thấy nhiều hoa dâng cho Ngài, Ngài liền dặn dò Ðại Ðức
Anan: Này A Nan, những ai sống cuộc đời chính đáng, đúng
theo Pháp- những người đó chính là những người vinh danh,
tôn thờ và kính quý Như Lai (Ðấng Ðại Giác) với tấm lòng
kính trọng cao quý nhất. Cho nên, này A Nan, nên sống một
cuộc đời chính đáng, sống theo đúng Pháp. Vậy nên bạn
nên tự rèn luyện. Ðức Phật khuyến khích sống theo đúng
Pháp cho thấy rõ ràng có sự tối quan trọng trong việc huấn
luyện ý, khẩu và thân, chứ không phải chỉ dâng hoa cho Ðấng
Giác Ngộ. Sự nhấn mạnh là về đời sống chính đáng.
Về phần Phật Giáo có phải là
một triết lý hay không còn tùy thuộc vào sự định nghĩa
tù này, và phải chăng có thể định nghĩa nó bao trùm tất
cả hệ thống tư tưởng triết lý là đáng khả nghi. Theo
từ nguyên học, Triết lý có nghĩa là yêu (Gr philein)
trí tuệ (sophia). 'Triết lý là vùa nhằm tìm trí tuệ
vừa là trí tuệ được tím thấy'. Trong tư tưởng Ấn
Ðộ, triết lý gọi là darsana, cái nhìn chân lý. Tóm lại,
mục đích của triết lý phải là tìm ra chân lý tối hậu.
Phật Giáo cũng chủ trương tìm
chân lý. Nhưng không phải chỉ là lý luận có tính cách ức
đoán, môt cấu trúc lý thuyết, hay chỉ thâu thập và tồn
trữ kiến thức. Ðức Phật nhấn mạnh đến khía cạnh thực
hành giáo lý của Ngài, sự áp dụng kiến thức vào đời
sống- hướng vào đời sống chứ không phải chỉ xem xét
nó ở đời sống không thôi.
Ðối với Ðức Phật, toàn bộ
giáo lý chỉ là để hiểu bản chất bất toại nguyện của
hiện tượng sống và mở mang con đường dẫn đến tránh
khỏi bất toại nguyện. 'Ðó là triết lý của Ngài'.
Trong Phật Giáo, trí tuệ có tầm
quan trọng nhất vì thanh tịnh đ?n qua trí tuệ, qua hiểu biết.
Nhưng Ðức Phật không bao giờ chỉ tán dương trí thức. Theo
Ngài, kiến thức phải đi đôi tay trong tay với tâm thanh tịnh,
với luân lý ưu tú (Vijjacaranasampanna). Trí tuệ đạt
được bằng sự hiểu biết và sự phát triển chất lượng
của đầu óc và tâm là trí tuệ bậc nhất (bhavanamaya panna).
Ðó là kiến thức dành dụm được không phải chỉ là sự
ức đoán, sự hợp lý hay lý luận chỉ có bề ngoài. Như
vậy, rõ ràng Phật Giáo không phải chỉ là tình thương mà
cũng chẳng phải đem lại sự tìm kiếm sau trí tuệ, cũng
chẳng phải sùng bái (mặc dầu họ có ý nghĩ và tác phong
về nhân loại), nhưng mà là sự khuyến khích việc áp dụng
thực tiễn giáo lý dẫn tín đồ đến vô tư, giác ngộ, và
giải thoát cuối cùng.
Mặc dù chúng ta gọi giáo lý của
Ðức Phật là 'Phật Giáo", vì thế gộp nó vào 'học
thuyết' và 'học thuật', nhưng không phải là vấn
đề chúng ta dán nhãn gì cho nó. Gọi nó là tôn giáo, triết
lý, Phật Giáo hay bất cứ nhãn hiệu nào mà bạn thích. Những
nhãn hiệu ấy không có ý nghĩa gì với người đi tìm chân
lý và giải thoát.
Khi Upatissa và Kolita (sau này trở
thành Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên, hai Ðại Ðệ Tử của
Ðức Phật) đang đi tìm kiếm học thuyết giải thoát, gặp
Ngài Assaji (A Tư Ðà, một trong năm đệ tử đầu tiên của
Ðức Giáo Chủ) đang đi khất thực. Upatissa hết sức cảm
kích phong độ cao quí của vị Trưởng Lão này. Nghĩ rằng
bây giờ chưa phải là lúc tìm kiếm hỏi han, Upatissa liền
theo Ngài Assaji đến chỗ Ngài nghỉ; Upatissa đến gần, chào
Ngài và hỏi Ngài về giáo lý của Ðức Bổn Sư. Ngài Assaji,
vốn người ít nói, từ tốn trả lời: "Ta không thể dông
dài giải thích giáo pháp và giới luật, nhưng ta có thể vắn
tắt tóm lược ý nghĩa". Upatissa trả lời:Vậy này Ðạo Hữu,
ý nghĩa sao phải nhiều lời. Lúc bấy giờ, Ngài Assaji lập
lại câu kệ bao gồm toàn thể giáo lý nhân quả của Ðức
Phật:
"Về các pháp phát sanh do
nguyên nhân
Như Lai đã chỉ dạy nguyên nhân
ấy
Nguyên nhân chúng chấm dứt, Như
Lai cũng chỉ dạy
Ðó là giáo huấn của Bậc Ðại
Hiền Triết"
Upatissa tức khắc lãnh hội ý nghĩa
và chứng đắc bậc Thánh đầu tiên - giai đoạn nhận thức
đầu tiên, thấu triệt " bất luận cái gì có bản chất của
sự phát sanh, tất cả những cái đó có bản chất của sự
chấm dứt".
Vị Thầy Thực Tiễn
Bàn bạc, thảo luận đến đâu
mà không nhằm vào hiểu biết đúng (chánh kiến) sẽ không
dẫn chúng ta đến giải thoát. Ðiều cần thiết là kiến
thức đúng. Chúng ta có thể tìm nguồn gốc lời chỉ dạy
đúng từ thiên nhiên, từ cây cối, và hoa, từ đá và sông.
Có nhiều trường hợp, có người đạt giác ngộ và thoát
khỏi nhiễm trược khi nhìn thấy chiếc lá rụng, nước chảy,
lửa cháy rừng, một ngọn đèn tắt. Cái này đánh trúng thức
tỉnh những người ấy, hiểu cái bản chất vô thường của
mọi vật, họ đạt giải thoát. Ðúng, hoa sen chờ ánh sáng
mặt trời, không bao lâu khi mặt trời chiếu sáng hoa sen nở
và mang niềm vui đến tất cả.
Ðức Phật không quan tâm đến những
vấn đề siêu hình vì chúng chỉ làm cho con người bối rối
và đảo lộn trạng thái cân bằng của tinh thần. Câu trả
lời về những vấn đề ấy không giải thoát nhân loại khỏi
nghèo túng và bất hạnh. Ðó là lý do tại sao Ðức Phật
miễn cưỡng không trả lời những câu hỏi ấy, và có lúc
Ngài kiềm chế giảng giải những câu hỏi thường được
đặt sai. Ðức Phật là một vị thầy thực tiễn. Mục đích
duy nhất của Ngài là giải nghĩa tất cả những chi tiết
về Khổ (dukkha), thực trạng bao quát của đời sống,
làm cho con người cảm nhận được toàn bộ sức mạnh của
mình, và làm cho con ngưới ý thức được về nó. Ngài nói
rõ cho chúng ta biết những gì Ngài giải thích và những gì
không giải thích.
Một lần Ngài ngụ tại Kosambi (gần
Allahadah) trong rừng cây Simsapa. Cầm một nắm lá trong tay,
Ngài hỏi các thầy Tỳ kheo:
- Này các Thầy, các Thầy
nghĩ sao, lá trong tay Như Lai hay lá của cây mọc trong rừng
trên động kia, lá nào nhiều?
-Bạch Ðấng Thế Tôn, lá cầm trong
tay Ngài ít, lá trong rừng kia nhiều.
- Này các Thầy, cũng như vậy đó,
có rất nhiều điều ta hiểu biết hoàn toàn nhưng ta không
nói cho các Thầy biết, chỉ có một số ít điều ta đã chỉ
bảo cho các Thầy. Và tại sao, ta không chỉ bảo cho các Thầy?
Này các Thầy, vì những điều đó không hữu ích, không thiết
yếu cho đời sống thanh tịnh, không dẫn đến nhàm chán,
vô tư, tịch tịnh, thanh thản, hiểu biết hoàn toàn, giác
ngộ, và Niết Bàn. Này các Thầy, đó là tại sao ta không
nói cho các Thầy biết.
- Này các Thầy, điều gì ta đã
nói với các Thầy? Ðó là Khổ - ta đã nói - Ðó là nguyên
nhân của khổ - ta đã nói - Ðó là con đường dẫn đến
diệt khổ - ta đã nói.
- Này các Thầy, và tại sao ta đã
nói đến những chân lý ấy? Vì những chân lý ấy hữu dụng,
thiết yếu cho đời sống thanh tịnh, dẫn đến nhàm chán,
vô tư, tịch tịnh, thanh thản, hiểu biết hoàn toàn, giác
ngộ và Niết Bàn. Cho nên, này các Thầy, ta nói các điều
đó.' Trên dây là lời Ðức Phật.
Tuy nhiên một số học giả không tán
đồng thái độ của vị Giáo Chủ, họ nghi ngờ sự giác
ngộ của Ðức Phật và gán cho Ngài nhãn hiệu thuộc phái
theo thuyết 'bất khả tri' ('không thể biết'). Các học giả
cứ mãi lập luận và suy đoán. Ðây không phải là câu hỏi
của hôm nay hay hôm qua, chúng được nêu lên trong thời Ðức
Phật. Cả đến vị du tăng Sakuladayi, chẳng hạn, hỏi Ngài
về quá khứ và vị lai, Ngài khẳng định:
" Hãy nói quá khứ, nói vị
lai, ta sẽ dạy Pháp này cho ông:
Khi điều này hiện hữu, thì có
điều kia,
Với sự phát sanh của cái này,
cái kia phát khởi.
Khi điều này không hiện hữu,
thì không có điều kia,
Với sự chấm dứt của cái này,
cái kia chấm dứt"
Tóm lại, đây là học thuyết Phật
Giáo về tính điều kiện hay sự phát sanh tùy thuộc (lý duyên
khởi-paticca samupadda). Và điều này hình thành nền móng
cho Tứ Diệu Ðế, quan niệm chủ yếu của Phật Giáo.
Vị Bác Sĩ Vô Song
Ðức Phật được biết như một
vị thầy thuốc vô song (bhisakho), một nhà giải phẫu
tối thượng (sallakatto anuttara). Ngài là một nhà chữa
bệnh vô địch. Phương pháp trình bày của Ngài về Tứ Diệu
Ðế có thể so sánh như phương pháp của một thầy thuốc.
Là một thầy thuốc, Ngài trước nhất chẩn bệnh, rồi Ngài
khám phá ra nguyên nhân của bệnh hay sự phát sanh ra bệnh
rồi làm sao bỏ bệnh và cuối cùng áp dụng cách chữa trị.
Khổ (dukkha) là bệnh, ái dục
(tanha) là sự phát sinh hay căn nguyên của bệnh (samudaya),
bằng cách loại ái dục, bệnh được loại đi và đó là
chữa khỏi bệnh (nirodha-nibbana). Bát Chánh Ðạo (magga)
là phương thuốc.
Một người bệnh phải nhận thức
rằng mình bị đau, phải ý thức ngay trước khi nó trở nên
trầm trọng, phải nghĩ ngay đến phương pháp loại bỏ nguyên
nhân, với mục đích phải đi bác sĩ để được chẩn bệnh
và có phương thuốc. Nhờ sự hữu hiệu của phương thuốc,
người bệnh hết đau và đó là việc chữa bệnh. Như vậy,
khổ đau không nên bỏ qua mà phải biết đến (abhineyya);
vì vậy khổ đau là bệnh. Ái dục, nguyên nhân phải tiêu
diệt, loại bỏ (pahatabha); Bát Chánh Ðạo phải được
thực hành, trau dồi phát triển (bhavetabba); đó là phương
thuốc. Với kiến thức về khổ đau, với việc loại bỏ
ái dục bằng sự tu tập Bát Chánh Ðạo, thành tựu Niết
Bàn (Sacccikatabba) là điều chắc chắn đạt được.
Ðó là chữa khỏi bệnh, một sự buông bỏ hoàn toàn, sự
giải thoát khỏi ái dục.
Trả lời Sela, một người Bà La
Môn nghi ngờ sự giác ngộ của Ðức Phật, Ngài chỉ dạy:
"Ta biết cái gì cần phải
biết, cái gì cần phải trau dồi ta đã trau dồi. Cái gì phải
loại bỏ, ta đã không còn giữ. Cho nên, này ông bà la môn,
ta là Phật - một người Giác Ngộ"
Vì những chân lý này liên kết và
phụ thuộc lẫn nhau, cho nên thấy hiểu một hay nhiều hơn
trong bốn chân ly cũng là thấy hiểu những chân lý khác. Với
người chối bỏ không nhận có khổ đau, con đường đi tới
để đạt giải thoát khỏi khổ đau là vô nghĩa. Tóm lại,
không công nhận một chân lý cũng là không công nhận ba chân
lý kia thì đó là không công nhận toàn bộ giáo lý của Ðức
Phật.
Với cách nói của những nhà duy
vật kiên định: "Tôi không thể nào nuốt được tất cả
cái vô nghĩa này", giáo lý này có vẻ không gì hơn là chán
ngắt, không hiểu được và không đúng chỗ, nhưng với những
ai tranh đấu để mở mang một quan niệm thực tế về cuộc
sống, thì giáo lý này không hoang đường, không phải là truyện
tưởng tượng nói với kẻ khờ dại.
Với những ai quan sát chúng sanh
trên thế giới từ một góc độ chính xác có nghĩa là với
sự nhận thức sâu sắc không thiên vị, thì điều đó trở
nên rất rõ ràng, chỉ có một vấn đề trên thế giới này,
đó là khổ đau. Như Ðức Phật đã nói: thế giới này được
thiết lập trên khổ đau, đặt nền móng trên khổ đau (dukhe
loko patitthio). Nếu bất cứ sự việc gì trở thành vấn
đề, chắc chắn có khổ đau, bất toại nguyện, hay có thể
nói - mâu thuẫn- mâu thuẫn giũa những ham muốn của chúng
ta với các sự kiện của đời sống.
Từ một vấn đề đơn giản chúng
ta đặt nhiều tên khác nhau: kinh tế, xã hội, chính trị,
tâm lý và cả vấn đề tôn giáo. Có phải tất cả đều
bắt nguồn từ một vấn đề, khổ đau (dukkha), gọi
là bất toại nguyện? Nếu không có bất toại nguyện, tại
sao ta cần tranh đấu để giải quyết? Phải chăng không giải
quyết một vấn đề ngụ ý làm giảm bất toại nguyện? Tất
cả những vấn đề gây ra bất toại nguyện, và nỗ lực
là để chấm dứt chúng, nhưng chúng lại sinh ra nhau. Nguyên
nhân thường không phải bên ngoài, mà chính trong vấn đề
ấy, nó có tính cách chủ quan. Chúng ta thường nghĩ rằng
chúng ta đã giải quyết hết các vấn đề, thỏa mãn tất
cả những gì liên quan đến, nhưng những vấn đề đó lại
bất ngờ xuất hiện trong những dạng thức khác, theo nhiều
cách linh tinh khác. Dường như lúc nào chúng ta cũng phải đương
đầu với vấn đề mới, và ta phải đem nỗ lực mới để
giải quyết chúng, và cứ như vậy các vấn đề và giải
quyết vấn đề cứ tiếp diễn. Ðó là bản chất của khổ
đau, đặc diểm phổ quát cuộc sống của chúng sanh. Khổ
đau hiện ra và mất đi rồi lại tái xuất hiện trong những
dạng thức khác. Chúng là cả vật chất lẫn tâm lý, một
số người có khả năng có thể chịu đựng vật chất hơn
tâm lý hay ngược lại.
Thực Tế Cuộc Sống
Ðời sống theo Phật Giáo là khổ
đau, khổ đau ngự trị suốt đời. Ðó là vấn đề căn bản
của đời sống. Thế giới đau khổ và tai ách, không một
chúng sanh nào thoát khỏi cái gông cùm khổ sở và đó là
chân lý phổ quát mà không một người ý thức nào không nhìn
thấy sự việc trong bối cảnh thích nghi của nó, có thể
chối cãi được. Tuy nhiên sự công nhận thực tế phổ quát
này không có nghĩa là chối bỏ hoàn toàn lạc thú và hạnh
phúc. Ðức Phật, Người Chiến Thắng Khổ Ðau, không bao giờ
chối cãi hạnh phúc trong đời khi Ngài nói đến tính tổng
quát của khổ đau. Trong kinh Aguttara Nikaya có nêu hạnh phúc
mà chúng sanh có khả năng vui hưởng.
Trả lời câu hỏi của Mahali Licchavi,
Ngài nói:
'Này Mahali, nếu những dạng
thức có thể nhìn thấy như âm thanh, mùi và vị vô hình và
những vật sờ thấy được (những đối tượng giác quan
mà con người cảm thấy qua khả năng cảm giác), hoàn toàn
chịu khổ đau, bị bao vây bởi khổ đau, bị mất lạc thú
và hạnh phúc, thì chúng sanh sẽ không vui thích gì nơi những
đối tượng giác quan ấy; nhưng này Mahakli, vì có lạc thú
và hạnh phúc trong những đối tượng giác quan ấy, nên chúng
sanh mới thích chúng và bám níu vào chúng, do sự bám níu này,
đã tự làm mình ô trược'.
Do khả năng cảm giác nên con người
bị lôi cuốn vào những đối tượng giác quan ấy, thích nơi
chúng và tìm nguồn vui nơi chúng (assada). Ðó là thực
tế không chối cãi được vì bạn kinh qua điều đó. Tuy nhiên,
vật chất thích thú, hay niềm vui không trường cửu. Chúng
phải chịu sự thay đổi. Vậy thì khi một người có thể
duy trì hoặc bị tước đi lạc thú làm cho mình vuiù, người
đó thường trở nên ủ rũ. Người ấy không thích sự buồn
tẻ, thiếu nhiều thứ nên buồn bã, đi tìm nguồn vui nơi
bạn bè, giống như trâu bò tìm đồng cỏ mới, nhưng những
thú vui mới này chỉ như màn trình diễn qua đi rất nhanh.
Vì vậy, tất cả các lạc thú, dù bạn thích hay không thích,
cũng là khúc mở đầu cho đau đớn và chán ghét. Tất cả
những lạc thú trần thế đều phù du, giống như viên thuốc
độc dược bọc bởi một lớp đường lừa gạt và làm hại
mình.
Một dĩa thức ăn không ngon, một
ly nước uống không dễ chịu, một thái độ vô duyên, và
hàng trăm những chuyện lặt vặt khác đem đau đớn và bất
toại nguyện đến với chúng ta - người Phật Tử hay không
là Phật Tử, giàu hay nghèo, cao sang hay hèn mọn, biết chữ
hay mù chữ. Shakespeare mô tả lời nói của Ðức Phật khi
ông viết trong tác phẩm Hamlet: "Khi phiền não đến, chúng
không đến đơn độc mà từng tiểu đoàn".
Vậy thì khi con người thất bại
không thấy khía cạnh này của cuộc đời, cái bất trắc
của lạc thú, họ trở nên thất vọng và dao dộng, đôi khi
cư xử rồ dại không có ý thức hay suy xét phán đoán, và
tâm có thể mất quân bình. Ðiều đó là nguy hiểm, hậu quả
tội lỗi (adinava). Nhân loại thường phải đối đầu
với hai bức tranh cuộc sống này. Tuy vậy người cố gắng
quét sạch ham muốn sâu xa mọi sự, vật sống hay vô tri vô
giác, nhìn đời với một cái nhìn khách quan, thấy sự vật
đúng theo phối cảnh của chúng, rèn luyện văn hóa đòi hỏi
mình phải trầm tĩnh trước tất cả những thăng trầm của
cuộc đời, có thể mỉm cười trước sự việc bất như
ý, giữ tâm trí được quân bình quăng đi tất cả những
cái thích và không thích - Người ấy chẳng bao giờ buồn
phiền mà giải thoát (nissanara). Ba điều này assada
(vui), adinava (hậu quả tội lỗi) và nissarana (giải
thoát) hoặc hỉ lạc, những hậu quả tội lỗi và giải thoát
của chúng là thực tế kinh nghiệm- một bức tranh trung thực
về cái mà ta gọi là đời sống.
Trả lời câu hỏi của Mahali, Ðức
Phật tiếp tục:
'Này Mahali, nếu những hình
thái có thể nhìn thấy, âm thanh. hương, vị và các vật sờ
thấy được, hoàn toàn mang lại lạc thú, bao trùm với lạc
thú, không bị đau khổ, chúng sanh sẽ không nhàm chán các
đối tượng giác quan, nhưng, này Mahali, có sự đau đớn,
và những lạc thú trong đối tượng giác quan ấy không lâu
bền, chúng sanh cảm thấy nhàm chán, thấy chán ghét, họ không
còn thấy thích thú và cũng không bám níu nơi chúng, họ tự
thanh tịnh lấy họ'.
Vậy thì có ba khía cạnh khổ đau:
* khổ đau trong dạng thức
thông thường hết sức rõ ràng (dukkha-dukhata);
* khổ đau, hay sự bất toại nguyện
của tình trạng tùy thuộc;
* khổ đau gây ra bởi sự thay đổi
(vipainama dukkhata).
Tất cả những đau khổ về tinh thần
hay thể xác, như sinh, già bệnh, tử, phải quan hệ với người
không ưa, bị chia ly với người ưa, không đạt điều ta muốn
là những sự đau khổ thông thường trong đời sống hàng
ngày và được gọi là dukkha-dukkhata. Không cần
đến nhiều khoa học mới hiểu được thực trạng của đời
sống.
Sankhara-dukkhata, bất toại
nguyện trong những tình trạng tùy thuộc, có một ý nghĩa
triết lý. Mặc dù từ ngữ sankhara gợi ý tất cả sự vật
đều bị chi phối bởi nguyên nhân và hậu quả, nơi đây
trong phạm vi khổ đau, năm nhóm uẩn (pancakkhandha) được
nói đến. Chúng là tập hợp vật chất (trong trường hợp
này là xác thân hữu hình), của cảm giác, của nhận thức
của cấu trúc tinh thần và của thức.
Chúng được gọi là nama-rupa
(danh-sắc), môt thực thể tâm-vật-lý. Rupa nằm trong
uẩn vật chất và Nama là bốn uẩn còn lại. Sự phối
hợp của năm uẩn cấu tạo thành một chúng sinh.
Một chúng sinh và thế giới kinh
nghiệm cả hai đều luôn luôn thay đổi. Chúng đi vào tồn
tại rồi lại mất đi. Tất cả đều trong cơn gió lốc, không
có gì có thể thoát ra khỏi sự thay đổi không lay chuyển
và không ngừng nghỉ này, và vì bản chất tạm thời này,
không có gì là thực vừa ý. Có hạnh phúc, nhưng rất ngắn
ngủi, tan đi như bông tuyết, mang lại bất toại nguyện.
Viparinama dukkha (Khổ vì thay
đổi) nằm trong loại bất toại nguyện do sự vô thường.
Tất cả những cảm nghĩ vừa ý và sung sướng mà con người
kinh nghiệm phai mờ và biến đi. Như Ðức Phật nói, cả đến
những cảm nghĩ chứng nghiệm bởi các nhà du già hay thiền
định đạt tới bốn tầng thiền, cũng rơi vào loại viparinama
dukkha (khổ vì thay đổi), vì chúng cũng chóng tàn (vô thường)
và chịu sự thay đổi. Nhưng cái khổ ghi nơi đây không phải
là cái đau đớn hay khổ sở mà con người thường phải chịu
đựng. Ðiều mà Ðức Phật vạch rõ là tất cả sự vật
vô thường đều bất toại nguyện.
Chúng chịu sự thay đổi trong mỗi
khoảnh khắc và sự thay đổi này mang đến bất toại nguyện,
vì bất cứ gì vô thường đều bất toại nguyện (yadaniccam
tam dukkha). Do đó không có hạnh phúc trường cửu.
Ðức Phật không có nét mặt buồn
thảm khi Ngài giảng cho các tín đồ chân lý của khổ, nét
mặt Ngài lúc nào cũng vui tươi, rạng rỡ và tươi cười
cho thấy tâm đắc ý của Ngài:
"Sung sướng thay chúng ta
sống
không gánh nặng
trong niềm vui luôn vui hưởng
Giống như các chư thiên rạng rỡ".
Ngài khuyến khích các đệ tử của
Ngài không nên yếu đuối, mà nên trau dồi tất cả phẩm
hạnh quan trọng, niềm vui, một yếu tố của sự giác ngộ.
Nghiên cứu một cách vô tư về Phật Giáo nói cho chúng ta
biết đó là một thông điệp rạng rỡ vui tươi và hy vọng,
không phải là triết lý chủ bại về tính bi quan.