THƯ VIỆN HOA SEN
Search English Mirrorsite
.
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả

 
.
HÃY NÓI VÌ TÂY TẠNG
Trần Khải
Sau nhiều tháng cẩn trọng đào bới trên vùng núi Gyeongju - cố đô Hàn Quốc vào triều đại Silla, rốt cuộc pho tượng Phật tổ khổng lồ niên đại 1.300 năm cũng lộ diện với gương mặt vẹn nguyên gầnnhư hoàn hảo.

Pho tượng Phật cao 5,6 mét nặng 70 tấn được phát hiện trong tư thế nằm vùi mặt xuống lòng đất. Ban đầu các nhà khảo cổ học đã rất lo ngại cho rằng, tượng có thể đã bị phá hủy nghiêm trọng khi bị đổ xuống cách đây vài trăm năm.

Sau nhiều tháng cẩn trọng đào bới trên vùng núi Gyeongju - cố đô Hàn Quốc vào triều đại Silla, rốt cuộc pho tượng Phật tổ khổng lồ niên đại 1.300 năm cũng lộ diện với gương mặt vẹn nguyên gầnnhư hoàn hảo.

Pho tượng Phật cao 5,6 mét nặng 70 tấn được phát hiện trong tư thế nằm vùi mặt xuống lòng đất. Ban đầu các nhà khảo cổ học đã rất lo ngại cho rằng, tượng có thể đã bị phá hủy nghiêm trọng khi bị đổ xuống cách đây vài trăm năm.

May mắn thay sau khi khai quật, người ta chỉ tìm thấy duy nhất một miếng đá rộng chừng 5 phân bị khuyết khỏi phần mũi, còn lại tất cả đều được bảo toàn vẹn nguyên một cách kỳ lạ. “Thật là khó tin khi mặt tượng Phật chỉ hư tổn một mảnh nhỏ xíu sau khi bị đổ úp xuống đất, sự việc mà đến nay chúng tôi vẫn chưa biết rõ nguyên nhân” - Phó giáo chủ Jigwan tôn kính của Giáo hội Jogye Hàn Quốc cho hay.

Hôm 11/09, lần đầu tiên Viện di sản văn hóa Gyeongju - một trung tâm nghiên cứu địa phương trực thuộc Ủy ban Di sản văn hóa quốc gia chính thức tiết lộ địa điểm khai quật với cánh truyền thông. Cho đến thời điểm này, pho tượng Phật đã lộ ra toàn bộ phần mặt, ngực và vai, trong đó khuôn mặt nằm nghiêng so với mặt đất một góc 45 độ.

Theo phỏng đoán của viện nghiên cứu, pho tượng bị đổ ngay sau khi xây dựng chưa lâu, ước chừng vào khoảng cuối thế kỷ thứ 8. Đầu tượng Phật tương đối lớn hơn so với tỷ lệ đối xứng thực, mà theo cách chuyên gia giải thích là để tạo hình ảnh cân đối khi nhìn từ dưới lên.

“Chúng tôi hy vọng đến cuối năm nay sẽ trả lại bức tượng vào vị trí ban đầu, dù biết rằng việc này quả không dễ bởi nó nặng tới 70 tấn” - theo Giám đốc You Hong-june của Ủy ban Di sản văn hóa.

Thùy Vân
(khoahoc.com.vn)
 

DI SẢN VĂN HÓA HÀN QUỐC  

  
UNESCO đã thừa nhận giá trị độc đáo và đặc điểm riêng biệt của nền văn hoá Hàn Quốc bằng cách đưa một số những vật quý của Hàn Quốc vào Danh sách Di sản văn hoá thế giới. Những di vật và đặc điểm được nhận vinh dự này vào năm 1995 gồm: 
 

Đền Bulguksa ở thế kỷ thứ 18, Động Seokgram, cả hai đều ở Gyeongju, tỉnh Gyeongsangbuk-do, những phiến gỗ khắc Koreana (dùng để in kinh Phật) và Janggyeongpanjeon (nhà kho cổ cưa lưu giữ những phiến gỗ này) ở đền Haeinsa thuộc tỉnh Gyeongsangnam-do. Đền Jongmyo và Cung Changdeokgung ở Seoul và pháo đài Hwaseong ở Suwon được công nhận năm 1997. Năm 2000, hai di sản nữa của Hàn Quốc được đưa thêm vào danh sách trên của UNSECO, đó là mộ đá thời tiền sử tại Gochang, Hwasun và Ganghwado và toàn bộ khu vực lịch sử Gyeongju, thủ đô của Vương quốc Silla cổ đại (57 tr.935 s.CN), nơi vô số các di sản văn hoá và lịch sử đang được gìn giữ cẩn thận.

Đền Bulguksa và động Seokguram được Tể tưởng Kim Dae-seong xây dựng trong thời gian 23 năm bắt đầu từ năm 751 dưới triều Silla (701 - 774).

Lịch sử ghi chép rằng Kim Dae-seong được đầu thai làm con trai của một tể tướng trong triều vì ở đời trước ông là con trai của một goá phụ. Sau này, ông trở thành một tể tướng và đã từ quan vào năm 750 để giám sát việc xây dựng khu đền Bulguksa. Với công trình nay, ông đã thể hiện lòng biết ơn của ông tới cha mẹ đời trước. Đền Bulguksa chỉ dành cho dân chúng đến thờ cúng còn động Seokguram chỉ dành riêng cho nhà vua.

Được xây trên hàng loạt những thềm đá, Bulguksa có vẻ như mọc lên một cách tự nhiên trên địa hình đầy đá ở chân núi Tohamsan rậm rạp cây cối. Khu đền có các tháp Seokgatap (Tháp của phật Thích ca Mâu ni) và Dabotap (Tháp của những bảo bối) và các cầu thang có tên là Cheongungyo (Cầu mây xanh), Baegungyo (Cầu mây trắng) và Chilbogyo (Cầu của bảy bảo bối), được gọi là những chiếc cầu vì chúng là con Đường nối thế giới trần tục với Bulguk, miền đất của Phật giáo; các tượng Phật mạ đồng và nhiều cổ vật đặc sắc khác đặt trong và ngoài sân đền.

Nổi bật trong khoảng sân của Daeungjeon là hai tháp đẹp nhất của Hàn Quốc. Tháp Seokgatap cao 8,3m và Tháp Dabotap cao 10,5m đều được xây năm 756. Đặc điểm của Seokgatap là giản dị nhưng sang trọng trong khi Dabotap được trang trí lộng lẫy. Seokgatap với phong cách giản dị, thể hiện sự vươn lên về tinh thần qua những quy tắc của Phật Thích ca Mâu ni, còn tháp Dabotap được trang trí công phu tượng trưng sự phức tạp của thế giới.

Đông Seokguram được xây dựng cùng thời gian với khu đền Bulguksa. Động đã được tu sửa lại nhiều lần trong những năm qua. Đây là một hang đá nhân tạo trong đó có 38 hình ảnh của Đức Phật. Giống như cấu trúc của vùng phụ cận của khu đền Bulguksa, động được làm bằng đá gra-nít.

Seokguram gồm một tiền sảnh hình chữ nhật và một phòng hình tròn bên trong với trần vòm, được nối với nhau bằng một hành lang nhỏ. Tượng Đức Phật chính được đục từ một khối đá gra-nít, cao 3,5 m, ngồi bắt chéo chân trên một đài sen quay về hướng đông, hai mắt khép, im lặng trầm tư, vẻ mặt bình thản và toàn thức. Seokguram đại diện cho sự kết hợp tri thức kiến trúc, toán học, hình học, địa lý, tôn giáo và nghệ thuật thời Silla và là một trong những kiệt tác Phật giáo vĩ đại nhất của Hàn Quốc.

Haeinsa Janggyeongpanjeon là nơi lưu trữ các Bộ kinh Phật Koreana, bao gồm 81.258 phiếu in bằng gỗ, phiên bản thời kỳ Goryeo (918 - 1392) của giáo luật đạo Phật. Với hơn 52 triệu chữ Hán được khắc chính xác, Bộ kinh Phật Koreana nổi tiếng là giáo luật đạo Phật cổ nhất và hoàn chỉnh nhất tồn tại trên thế giới ngày nay.

Đền Jongmyo được khánh thành năm 1395, ba năm sau khi Triều đại Joseon được thành lập (1392 - 1910), để gìn giữ những di vật của nhà vua và hoàng hậu. Người ta cử Jongmyojeryeakd, một loại nhạc tế lễ đặc biệt, loại hình âm nhạc được công nhận là Kiệt tác Di sản truyền miệng và Vô hình của nhân loại. Nhưng lễ thờ cúng tổ tiên của Joseon được tổ chức vào mỗi Chủ nhật đầu tiên của tháng năm tại Jongmyo.

Cung Changdeokgung được xây vào năm 1405, sau đó đã bị lửa phá huỷ năm 1592 trong thời kỳ thực dân Nhật xâm lược; sau đó đã được phục hồi. Bản thân cung là một kiệt tác, trong đó đáng chú ý nhất là khu hậu viên gọi là Huwon được mọi người ca ngợi do phong cảnh tươi đẹp và giàu tính sáng tạo. Khu vườn này, nằm trên khuôn viên rộng 300.000m2 trên tổng diện tích 405.636m2 của toàn bộ cung, được sắp xếp với các sảnh Đường, toà nhà ngoạn mục, những hồ sen, tảng đá có hình thù độc đáo, những cầu đá, cầu thang, những lạch nước và suối rải rác giữa những khu cây cối rậm rạp, tất cả là những yếu tố chủ yếu của một khuôn viên theo phong cách truyền thống Hàn Quốc.

Pháo đài Hwaseong được xây dựng trong 34 tháng tại Suwon, phía nam Seoul năm 1796. Phần lớn tường ngoài của pháo đài dài 5.743m vẫn còn tồn tại.

Năm 1997, UNESCO đã ghi nơi này vào Danh sách những sự kiện đáng ghi nhớ của thế giới với mục đích gìn giữ và lưu truyền những bản ghi chép và những tài liệu đang có nguy cơ biến mất.

Trong số những di sản bằng văn bản của Hàn Quốc, Hunminjeongeum và Joseonwangjosillok cũng có trong bản danh sách trên. Hunminjeongeum (hệ thống ngữ âm đúng để dạy dân chúng), Buljo Jikjisicheyojeol (Tuyển tập những bài giảng đạo của những nhà hiền triết đạo Phật và các bậc thầy Seon) và Seungjeongwon Ilgi (Nhật ký triều đại hoàng gia) cũng được liệt kê vào danh sách.

Hunminjeongeum là cuốn sách vỡ lòng để dạy Hangeul, bản chữ cái tiếng vua Sejong vĩ đại, vị vua đời thứ tư của triều đại Joseon (khoảng 1418 - 1450) phát minh. Bảng chữ cái mới được công bố năm 1446.

 Joseonwangjosillok (biên niên sử Triều đại Joseon) là kết quả của truyền thống viết sử của mỗi triều đại, bắt đầu từ năm 1413 với Biên niên sử của Vua Taejo, người sáng lập và là vị vua đầu tiên của triều đại Joseon, và tiếp tục đến cuối triều đại. Các nhà sử học của Phòng biên soạn sử (Chunchugwan) thảo biên niên sử và để gìn giữ bản thảo, các bản sao chép được cất tại những kho lưu trữ đặc biệt đặt tại các miền khác nhau trong nước.

Buljo Jikjisimcheyojeol, được biên soạn vào năm 1372 bởi nhà sư (1298 - 1374) bao gồm những giản yếu của Đạo phật Seon (Zen). Những từ chính của tiêu đề "Jikjisimche" được lấy từ một câu nổi tiếng về đạt được bát nhã thông qua việc luyện tập Seon.

Lời ghi ở trang cuối cùng cuốn sách nói rằng từ này được in bằng một kiểu kim khí có thể dịch chuyển được tại đền Heungdeoksa năm 1377, khoảng bảy mươi năm trước khi kinh thánh Gutenberg Bible được in ở Đức và nó trở thành cuốn sách cổ nhất thế giới được in với kiểu kim loại di chuyển được.

Seungjeongwon, thư kí hoàng gia của Vương quốc Joseon chịu trách nhiệm gìn giữ Seungjeongwonilgi, một bản ghi chi tiết về các sự kiện hàng ngày và lịch trình chính thức của triều đình từ vị vua đầu tiên của vương quốc Joseon, Taejo (khoảng 1392 - 1398) cho đến vị vua 27 là cuối cùng, Sunjong (1907 - 1910). Tuy nhiên hiện nay chỉ có 3.243 nhật kí còn sót lại. Ghi chép tại Seungjeong-wonilgi là tư liệu lịch sử lớn nhất và bí mật của triều đình của Vương quốc Joseon. Nó là nguồn chủ yếu của cuốn biên niên sử của vương quốc Joseon, vì vậy giá trị lịch sử của nó thậm chí còn lớn hơn cả Cuốn biên niên sử này.

Năm 1998, UNESCO tạo ra cuốn Công bố về kiệt tác của di sản nhân loại truyền miệng và phi thực thể để bảo vệ di sản văn hoá truyền miệng và phi vật thể của thế giới. Kể từ công bố đầu tiên năm 2001, ba di sản văn hoá phi vật thể của Hàn Quốc đã được công bố là Kiệt tác, chúng bao gồm: Jongmyo Jerye và Jongmyojeryak (nghi lễ thờ tổ tiên hoàng gia và nhạc nghi lễ). Pansori (Sử ca) và lễ hội Gangneung Danoje.

Jongmyojerye là nghi lễ tưởng nhớ tổ tiên thờ cúng linh hồn của vua và hoàng hậu trong thời kì Joseon tại Jongmyo (điện tổ hoàng gia), nơi linh hồn các bản vị linh hồn của họ được cấp giữ. Jongmyo-yeryak, nhạc nghi lễ tổ tiên hoàng gia được biểu diễn trong các nghi lễ. Đi kèm với các điệu nhảy nghi lễ, Botaepyeong (gìn giữ sự yên bình vĩ đại) là một tập hợp 11 bài ca ngợi những thành tích của các vị liệt tổ của các triều đại và Jeongdaeeop (khai sinh một triều địa vĩ đại) là tập hợp 15 bài hát ca ngợi những chiến công của họ. Hai tác phẩm này được biên soạn vào năm 1447. Hai bản nhạc kèm theo được biết tới là Jongmyoakjang được biên soạn vài năm sau đó. Hàng trăm quan lại, nhạc công, vũ công và khán giả tham gia vào lễ hội, biểu hiện sự trang trọng và tráng lệ của nghi lễ Khổng tử. Đây là một ví dụ hiếm hoi của Kiệt tác Văn hoá vô hình vẫn còn lưu truyền hình thức nguyên sơ trong 500 năm qua.

Pansori là một thể loại kể chuyện bằng âm nhạc được thực hiện bởi một giọng ca chơi với trống. Những thiên anh hùng ca độc tấu phổ biến này, đặc trưng bởi cách hát truyền cảm, lời nói kiểu cách và các điệu bộ mô phỏng, mang hơi hướng của cả văn hoá bình dân và quý tộc. Pansori là một từ đa âm xuất phát từ pan (một địa điểm công cộng nơi mọi người tụ tập) và sori (bài hát). Những buổi biểu diễn có thể kéo dài tới tám giờ, ở đó các nam hoặc nữ ca sĩ ứng khẩu dựa vào những tiếng địa phương vùng nông thôn Hàn Quốc đi kèm với những sắc thái văn học uyên thâm. Bố cục, nhân vật và tình huống làm nên Pansory đã thấm sâu trong thời kỳ Joseon (1392 - 1910).

Danoje, tổ chức để cầu cho một vụ mùa bội thu là vào mồng 5 tháng 5 Âm lịch báo hiệu sự kết thúc của vụ trồng lúa và lúa mạnh mùa xuân.

Theo truyền thống, đây là một trong ba ngày lễ quan trọng nhất cùng với ngày đầu năm mới và Chuseok, lễ hội vụ mùa. Lễ hội Danoje của Gangneung là một lễ hội truyền thống lớn nhất của Hàn Quốc. Nó diễn ra ở tỉnh Gangwon-do chủ yếu ở thành phố Gangneung trong vòng gần bốn tuần trong tháng tư hoặc đầu tháng năm âm lịch. Âm nhạc, nhảy múa, văn học, diễn kịch và đồ thủ công mỹ nghệ đi kèm với lễ hội này có tính nghệ thuật cao và có giá trị phi thường ở chỗ lễ hội đã diễn ra gần 1.000 năm và biểu hiện lịch sử đời sống của cư dân. Lễ hội cũng kết hợp chặt chẽ truyền thống tín ngưỡng Hàn Quốc bao gồm Đạo Khổng, đạo Shaman (pháp sư), đạo phật và đạo lão và có sự đa dạng về nghi lễ và trình diễn.
 
Chuẩn bị và biên tập: Nhóm website
Nguồn: Hàn Quốc ngày nay

 

VÀI NÉT VỀ THIÊN CHÚA GIÁO VÀ VĂN HÓA TRIỀU TIỀN  
  
 
Sẽ có thể hiểu được rõ hơn nền văn hoá Triều Tiên nếu so sánh với nước láng giềng gần gũi nhất của nó là Nhật Bản. Về tôn giáo ở Nhật Bản, Akio Maorita, đồng sáng lập viên của tập đoàn Sony đã cho rằng:

“Chúng tôi, người Nhật Bản không tự cho mình là những người có tín ngưỡng sâu sắc mặc dù chúng tôi đúng là như vậy; chúng tôi có khuynh hướng tin rằng chúa thuộc về mọi thứ. Chúng tôi thường nói đùa rằng phần lớn người Nhật Bản được sinh ra theo đạo Shinto, sống theo khổng giáo, kết hôn theo thiên chúa giáo và tang lễ theo đạo phật. Chúng tôi có các nghi lễ, phong tục và lễ hội được đúc kết hàng thế kỷ như là một tín ngưỡng truyền thống, nhưng chúng tôi không bị ràng buộc bởi những điều cấm đoán và cảm thấy tự do để thử nghiệm mọi thứ và tìm ra những cái tốt nhất và thiết thực nhất(1).

Phần lớn người Nhật Bản mặc dù theo một hoặc vài tổ chức tôn giáo song họ không quá tin tưởng vào một tôn giáo nào. Thực vậy, do một số người Nhật Bản có nhu cầu theo cùng một lúc nhiều tôn giáo vượt cả tổng dân số Nhật Bản. Nhưng đối với trường hợp Triều Tiên thì số tín đồ tôn giáo lại ít hơn tổng dân số. Khoảng 54% vào năm 1991.Mặc dù chịu ảnh hưởng của nhiều tôn giáo, song Edwin Reischauer vẫn cho rằng giá trị đạo đức của người Nhật Bản có nguồn gốc chủ yếu từ Khổng giáo và Cơ đốc giáo(2). Và mặc dù tỷ lệ tín đồ Cơ đốc giáo trong dân cư Nhật Bản chỉ chiếm chưa đầy 1% song theo Edwin Reichauer thì Cơ đốc giáo vẫn có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các giá trị đạo đức của Nhật Bản.

Thiên chúa giáo đã đóng một vai trò đặc biệt trong giá trị hiện đại hoá của Hàn Quốc và cho đến nay Hàn Quốc là nước có tỷ lệ tín đồ thiên chúa giáo cao nhất (gần một nửa số các tín đồ tôn giáo) ở các nước Đông Á có nền văn hoá Khổng giáo và phật giáo truyền thống. Theo cuộc điều tra về dân số và nhà ở năm 1991(3), tỷ lệ tín đồ Thiên chúa giáo trong tổng dân số Hàn Quốc là 24,3% (bao gồm cả 4,8% tín đồ công giáo). Spencer J.Palmer đã nêu trong cuốn sách Triều Tiên và Thiên chúa giáo của ông ta rằng: “Triều Tiên là nước duy nhất ở lục địa châu Á ngày nay mà nhóm tín ngưỡng lớn nhất vẫn còn theo Thiên chúa giáo”(4).

Nhà truyền đạo thiên chúa giáo đầu tiên, tiến sỹ y khoa Horaee N.Allen đã đến bán đảo Triều Tiên vào năm 1884. Yi Kwang-Su, một nhà văn nổi tiếng và đáng kính, đã tin tưởng rằng Thiên chúa giáo là một ân nhân đặc biệt quan trọng đối với Triều Tiên, nó đã dạy cho người Triều Tiên một điều mới lạ, đó là nền văn minh phương Tây. Yi Kwang-Su đã phân chia những đóng góp của Thiên chúa giáo đối với Triều Tiên ở tám khía cạnh sau:

- Giới thiệu nền văn minh phương Tây.
- Chấn chỉnh lại giá trị đạo đức suy đồi.
- Thúc đẩy và phổ cập giáo dục.
- Nâng cao vai trò địa vị xã hội của phụ nữ.
- Sửa đổi chế độ kết hôn sớm.
- Phổ cập chữ viết Triều Tiên và nền văn học dân tộc.
- Hiện đại hoá những giá trị và triết lý truyền thống.
- Khuyến khích chủ nghĩa cá nhân.

Ảnh hưởng của Thiên chúa giáo đối với quá trình hiện đại hoá của Triều Tiên có thể nhận thấy ở mọi nơi. Các hội truyền giáo của đạo thiên chúa đã xây dựng trường học hiện đại, trong đó có cả trường y đầu tiên, bệnh viện đầu tiên, viện điều trị bệnh lao đầu tiên, khu điều trị bệnh phong đầu tiên đều do các bác sỹ truyền giáo thành lập và điều hành. Phụ nữ Triều Tiên lần đầu tiên được đào tạo tai các trường truyền giáo.

Những tín đồ Thiên chúa giáo Triều Tiên cũng đã biết được những phương thức cai trị dân chủ thông qua việc tham gia vào các công việc của nhà thờ. Việc sử dụng tiếng Triều Tiên bản địa như là một ngôn ngữ văn học đã giúp cho việc phổ cập và truyền bá được nhanh chóng bởi kinh thánh và thánh ca của đạo thiên chúa được sử dụng bằng chữ Hangul bản địa (một loại chữ viết đã từng bị các học giả Nho giáo truyền thống đánh giá thấp). Kết quả là thiên chúa giáo đã góp phần to lớn trong việc phổ cập chữ viết cho những người Hàn Quốc có tuổi. Hầu như ở mỗi làng lớn của Hàn Quốc hiện nay đều có một nhà thờ hoặc một nhóm cầu kinh đóng vai trò chủ đạo trong việc giới thiệu các giá trị, quan điểm và nền văn minh phương Tây cho người Hàn Quốc.

Thực hiện: Mai Phương 
Biên tập: nhóm website
http://nchq.org.vn/?Content=BaiViet

(1) Akio Morita, 1987, xem các trang 226-227.
(2) Edwin O.Reichauer, 1986, xem các trang 224.
(3) Cơ quan thống kê quốc gia Hàn Quốc. Chỉ số xã hội, 1992. 
(4) Spencer J. Palmer, 1986, xem trang 224.
 
 
 

Trở Về Mục Lục Phật Giáo Hàn Quốc

08-29-2007 12:45:56

.
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap