Yên
Tử - Những giá trị văn hóa
vật
thể và phi vật thể
Việt
Nam có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng, một số danh
thắng đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế
giới như khu Lăng tẩm Huế, Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ
Sơn, Vịnh Hạ Long... những di sản thế giới đẹp đẽ và
nổi tiếng này là điểm đến của nhiều du khách trong và
ngoài nước. Nhưng ít nơi nào có được nhiều di tích lịch
sử mang những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể
quý giá như Yên Tử, vùng đất này không những thế mà nơi
đây còn gắn liền với tên tuổi Trần Nhân Tông, vị Vua
anh minh với bao chiến công chống quân Nguyên Mông hiển hách
và với Thiền phái trúc lâm - một dòng đạo Phật thuần
Việt mang trong mình biết bao di sản quý giá. Tất cả những
điều đó đã khiến Yên Tử luôn được coi là Danh sơn của
miền Hải Đông xưa.
Núi
Yên Tử thuộc Quảng Ninh, nằm ở nơi giáp giới giữa Hải
Dương, Bắc Giang và Quảng Yên (cũ), là ngọn núi cao nhất
miền Hải Đông xưa. Chặng đường hành hương từ chân núi
lên ngôi chùa cao nhất ở khu Yên Tử dài gần 30 km. Trên chặng
đường ấy, du khách sẽ đi qua hơn 20 công trình kiến trúc,
những di tích lớn nhỏ khác nhau. Nhưng trước hết du khách
sẽ đi qua một di tích xanh đó là hàng tùng cổ đại. Theo
những thư tịch cổ còn giữ được đến ngày nay thì Vua
Trần Nhân Tông sau khi nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông
đã lui về Yên Tử sống cuộc đời của một kẻ du hành.
Khi Trần Nhân Tông đến đây, ông đã cho trồng 2 hàng tùng
dọc theo con đường đá xếp quanh co bên sườn núi dẫn lên
chùa Hoa Viên. Đến nay hai hàng tùng này đã trở thành những
cây tùng cổ thụ có tuổi 600 đến 700 năm. Các giống tùng
ở Yên Tử đều là những giống quý, có giá trị dược liệu
cao. Có giống đã được ghi vào sách đỏ Việt Nam, trong kế
hoạch trùng tu Yên Tử các nhà khoa học phải tính đến việc
nghiên cứu gây giống và bảo vệ loài cây này, góp phần
bảo vệ sự đa dạng sinh học của Yên Tử, đồng thời tôn
tạo lại cảnh quan xưa để thế hệ hôm nay và mai sau luôn
được chiêm ngưỡng những di tích xanh qúy giá này.
Trên
con đường lên núi Yên Tử, du khách sẽ đi qua nhiều hàng
tùng cổ đại và rất nhiều ngôi tháp nhỏ, đó là nơi cất
giữ xá lị của các vị sư đã từng tu hành ở đây. Số
lượng những ngôi tháp này khá nhiều chứng tỏ Phật giáo
đã từng phát triển rất mạnh mẽ ở đây. Theo các nhà nghiên
cứu, trước khi Trần Nhân Tông đến Yên tử du hành, nơi
đây đã xuất hiện một vài ngôi chùa nhỏ. Sau khi Trần Nhân
Tông đến đây tu hành và sáng lập ra Thiền phái trúc lâm
một dòng đạo Phật thuần Việt thì việc xây cất chùa tháp
mới diễn ra trên quy mô lớn, các nhà sư đến đây tu hành
khá đông, có lúc lên đến hơn 1.000 người. Khi ấy Yên Tử
thật sự là một nơi phát triển rực rỡ của đạo Phật
vào thời Trần. Sử sách còn ghi Trần Nhân Tông tên là Trần
Khâm, con vua Trần Thánh Tông sinh ngày 7/12/1258. Ông lên nối
ngôi khi quân Nguyên Mông đã thôn tính hết lãnh thổ Trung
Quốc, Đại đô Nguyên Mông đã đặt ở Bắc Kinh, lúc này
tình thế đất nước bị xâm lăng là khó tránh khỏi. Cùng
với Thượng hoàng Trần Thánh Tông và Quốc công Tiết chế
Trần Quốc Tuấn, ông đã lãnh đạo nhân dân ta đánh tan 2
cuộc xâm lăng của hơn 50 vạn quân Nguyên Mông vào năm 1285
- 1288. Chiến công đời Trần mãi mãi rạng rỡ trong lịch
sử dân tộc, là niềm tự hào của thế hệ Việt Nam hôm
nay. Năm 1293, tức là sau 15 năm làm vua, khi 41 tuổi ông truyền
ngôi, xuất gia, tu tại chùa Vân Yên ở núi Yên Tử, lấy hiệu
là Hương văn Đầu đà, sau đổi là Trúc lâm Đầu đà. Và
đây chính là Huệ Quang kim tháp hay còn gọi Tháp Tổ, nơi
lưu giữ xá lị của Trần Nhân Tông, vị Vua - nhà sư đã
sáng lập ra dòng Thiền của đạo Phật là Trúc Lâm. Xung quanh
Huệ Quang Kim Tháp quây quần cả một vườn gồm 45 ngôi tháp
nhỏ khác. Hình ảnh ấy như thể hiện sự đoàn kết của
tinh thần Phật giáo Trúc Lâm. Thực ra, từ thế kỷ thứ I
sau Công nguyên Phật giáo đã được truyền từ ấn Độ đến
Việt Nam. Những thế kỷ sau lần lượt có 2 dòng thiền Việt
Nam là Tì ni đa lưu chi và Vô ngôn thông. Tuy nhiên vẫn xây
dựng Thiền phái trúc lâm, nhà vua muốn xác lập một nền
Phật đạo thuần Việt. Sở dĩ Trần Nhân Tông muốn xác lập
một nền Việt đạo là vì nhà Vua muốn tư duy triết học
của người Việt phải trở thành một học thuyết, một học
phái Thiền trúc lâm mang trong lòng nó yếu tố dân chủ và
bình đẳng, đó là dòng Thiền hướng nội, trí tuệ, chủ
trương phát huy nội lực, đoàn kết mọi người.
Con
đường lát gạch hoa cúc và ngôi tháp Tổ Huệ Quang kim tháp
là những dấu vết ít ỏi của kiến trúc thời Trần còn
sót lại đến ngày nay. Trải qua hơn 700 năm với biết bao
biến thiên của lịch sử, những công trình kiến trúc từ
thời Trần đã bị hủy hoại gần hết. Một số ngôi chùa,
tháp mới được xây dựng từ một vài thế kỷ trở lại
đây, thậm chí chỉ được xây lại cách đây mấy chục năm,
chưa tương xứng với tầm vóc của danh sơn Yên Tử. Tuy nhiên
qua một số khám phá khảo cổ, các nhà khoa học đã tìm thấy
một số hiện vật rất quý giá, cho phép hình dung lại sự
hùng vỹ của Yên Tử xưa kia.
Được
sự đồng ý của Ủy ban nhân dân thị xã Uông Bí và Ngành
Văn hóa thông tin tỉnh Quảng Ninh, Trung tâm UNESCO nghiên cứu
và ứng dụng Phật học Việt Nam cùng với Ban Quản lý di
tích lịch sử và danh thắng Yên Tử đã tổ chức lễ khởi
công xây dựng chùa Vân Tiên. Tuy nhiên việc xây dựng này
không thể chỉ trông chờ vào một tổ chức mà nó đòi hỏi
sự quan tâm của tất cả mọi người. Từ chùa Vân Tiêu lên
cao hơn nữa ta sẽ gặp tượng An Kỳ Sinh. Tương truyền núi
này xưa thường có mây mù bao phủ nên có tên gọi Bạch Vân
Sơn, đời Tần Thủy Hoàng có một Đạo sỹ tên là Yên Kỳ
Sinh tới núi này tu hành, sau hóa thành đá. Từ đó núi ấy
có tên gọi là Yên Tử. Và khi lên đến đỉnh núi Yên Tử,
ở nơi cao nhất ta sẽ gặp chùa Đồng. Gần đây ngôi chùa
mới được dựng lại nhưng quy mô không thể so sánh với
ngày xưa. Theo các nhà nghiên cứu, trước khi vào Yên Tử,
Nhân Tông đã xuất gia ở Vũ Lâm (Nam Định ngày nay) sau đó
lại trở về kinh sư vì khi đó năm 1291 sứ nhà Nguyên liên
tục đòi vua Trần sang chầu, vua không đi. Năm 1293 nhà vua
lại đi tu nhưng không đến Vũ Lâm mà đến Yên Tử, đó là
vì địa thế hiểm yếu của mảnh đất này.
Tháng
6/2001 vừa qua, Ủy ban nhân dân thị xã Uông Bí phối hợp
với Sở văn hóa thông tin tỉnh Quảng Ninh và Trung tâm UNESCO
nghiên cứu và ứng dụng Phật học Việt Nam đã tổ chức
Hội thảo "Trần Nhân Tông và di sản văn hóa Yên Tử".
Tham dự buổi Hội thảo có các nhà quản lý của tỉnh Quảng
Ninh, đại diện hội Phật giáo Việt Nam và nhiều nhà khoa
học trong cả nước. Các đại biểu tham dự Hội nghị đều
khẳng định công lao to lớn của Trần Nhân Tông trong 2 cuộc
kháng chiến chống Nguyên Mông bảo vệ độc lập cho tổ quốc,
đồng thời khẳng định tầm quan trọng, ý nghĩa to lớn của
Thiền phái trúc lâm, một dòng đạo thuần Việt đối với
sự đoàn kết dân tộc, phát huy nội lực để chiến thắng
kẻ thù hung bạo nhất bấy giờ là quân Hung Nô. Không những
thế một số đại biểu đã nhắc đến Trần Nhân Tông với
vai trò là một nhà thơ lớn của dân tộc ở thế kỷ XIII.
Ông đã để lại cho đời những tác phẩm rất có giá trị
như "Trần Nhân Tông thi tập", "Đại Hương Hải ấn thi
tập", "Tăng già đoái sự", "Thạch Thất Mỹ Ngự" và
"Trung Hưng thực lục". Kết thúc Hội thảo, Giáo
sư Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam
đã khẳng định lại công lao to lớn của Trần Nhân Tông,
những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của Yên
Tử và sự cần thiết phải bảo tồn và phát huy tất cả
những giá trị đó.
Yên
Tử từ lâu đã gắn liền với tên tuổi của Trần Nhân Tông,
với những giá trị to lớn của Thiền phái trúc lâm, với
những công trình kiến trúc tuyệt đẹp của thời Trần...
tất cả những điều đó đã tạo nên những giá trị văn
hóa vật thể và phi vật thể quý giá của Yên Tử. Gìn giữ
và phát huy những giá trị đó là trách nhiệm của Nhà nước
và nhân dân ta.
Hoàng
Diệp - VTV2-04/08/2001)
Bài
Ðọc Thêm:
Bài
nói chuyện của Hòa thượng Thích Thanh Từ ngày 1-2-2002