Vào
trong sanh tử
lấy
cây khều trăng
trăng
cao vời vợi
nhón
cây ngút ngàn
Hỏi
trăng bao tuổi
hỏi
đời bao lâu
hỏi
chuyện đâu đâu
quên
vòng sanh tử
Ngở
rằng trăng rụng
lấy
đâu đùa trăng
sợ
trăng úa tàn
tay
nào giữ được
Tay
buông cây xuống
để
trăng thảnh thơi
cho
trời đất thở
cho
lòng sáng trăng.....
Minh Thanh
Chiếc
máy bay KL 662 của Hoà Lan đã rời khỏi mặt đất, đem mấy
trăm hành khách trong chuyến bay hướng về Amsterdam, Hoà Lan.
Ngày 25.11.2007, phái đoàn gồm 8 người từ Houston đi Amsterdam
và từ đó, sẽ chuyễn máy bay để đi Hành hương tại Ấn
độ. Đây là một lịch trình đi thật kỳ lạ, vì thường
thì sẽ đi về các nước Á châu như Thái Lan, Nhật bản v.v..để
đổi chuyến bay qua Ấn độ, chứ không phải từ nước Bắc
Âu qua Ấn độ như chuyến Hành hương nầy. Tuy nhiên, đây
cũng là điều thú vị, hy hữu.
Những
người trong nhóm đi mới gặp nhau lần đầu, bở ngỡ, xa
lạ nhưng nụ cười, sư tin cẩn làm cho gần gủi, xoá bỏ
khoảng cách vì cùng chung chuyến Hành Hương. Gọi là chuyến
Hành Hương chiêm bái Thánh tích Phật giáo, nhưng theo thiển
ý, phải gọi là “ Đường Hành hương trở về tâm linh”
mới đúng ý nghĩa, vì khi đi chiêm bái, có thể chỉ vì do
tín ngưỡng, do lòng quí kính, cầu phước, hiếu kỳ, may mắn
hãnh diện v.v...nhưng gọi “Đường Hành hương trở về
tâm linh” hình như lại mang tính tích cực hơn, vì qua
đó, sẽ chiêm nghiệm, sống thực và nhận thức đúng ý nghĩa
của lý do tại sao phải là trở về suối nguồn của tâm.
Tuy nhiên, dù sao cũng phải chờ đến nơi, đến chốn những
nơi còn lưu dấu Thánh tích, mới cảm nhận đúng ý nghĩa
ra sao?
Tiếng
của một số những người bạn nhỏ đâu đây, xì xào, to
nhỏ...làm tôi liên tưởng đến đứa con gái qua câu chuyện
kể sau khi đi du lịch ở Hawaii mới về vài ngày trước.
“
Ba
mẹ à! Trong chuyến đi chơi nầy, con học được nhiều chuyện
lạ, hay lắm, ngoài những cuộc viếng cảnh non nước hữu
tình của vùng trời đất nầy. Một lần, con cùng mấy người
bạn đi tour ra đảo Maui, nhưng lại quên đem theo áo khoát,
nên cảm thấy hơi lạnh thấm người vì thời tiết thay đổi
bất ngờ. Sợ bệnh quá, con vội chạy mua bộ áo khoát tại
một quầy bán cho du khách của người địa phương, nhưng
giá mắc quá. Đành chịu thôi, cũng phải mua vì không lẽ
để chết lạnh.
Khi
tàu chở về đất liền. Con thấy có nhiều quày bán bán hàng
và có chiếc áo khoát mà con đã mua ngoài đảo, hỏi thử
thì biết là giá rẻ hơn mấy chục đô. Con liền phàn nàn
với vợ chồng người bạn đi cùng về sự chênh lệch giá
cả đó. Tuy nhiên, con lại học được bài học rất đẹp
từ người bạn nầy.
-
Này bạn! Tại sao mình lại quan niệm mắc rẻ như thế? Có
phải là mình đã may mắn có tiền để chia xẻ cho người
khác và trong cái lạnh lẻo ngoài đảo, vị Bồ tát nào đó
đã hiện cho mình có đầy đủ điều kiện tức thời, đúng
lúc để mua chiếc áo khoát che chở cơn lạnh không?...
Ba
mẹ biết không! Con mắc cở quá, khi nghe người bạn chia xẻ
ý tưởng nầy. Mình tự xưng là Phật tử mà đôi khi lại
không thông thoát, quan niệm bị chật lại, hay than phiền....”
Câu
chuyện nhỏ bên lề cuộc đi chơi của đứa con gái kể lại,
làm tôi chợt mỉm cười, suy nghĩ. Đời là những bài học,
tuy nhỏ nhưng là những bài học sống, đẹp. Khi chúng ta chuyển
nhận thức của mình trước những dữ kiện hay vấn đề
đang đối diện, mình sẽ chuyển được sự cảm nhận, cách
nhìn và thay đổi được hoàn cảnh, dù là nghịch cảnh.
Tất cả đều đến từ tâm và do tâm mà chuyển hoá, sẽ
chuyển khổ đau thành hạnh phúc, chuyển bất hạnh thành an
lạc.
Mấy
ai trên cuộc lữ làm người tự nhận mình có đầy đủ hạnh
phúc chân thật, dù là đang đầy đủ danh vọng, tiền tài,
sắc đẹp, của cải vật chất v.v...một cơn gió vô thường
thoáng qua, chợt thấy mọi sở hữu đều rơi rụng, biến
chuyển, vượt ngoài mọi nắm bắt.
Từ
những hụt hẫng trong đời sống qua sự chấp thủ, vô vọng
trong trò chơi nắm bắt, con người tự đặt lại quan niệm
sống, một nhân sinh quan cho chính mình.
Trong
thập niên 1960, tôi may mắn được quen vị Thầy khả kính-
giáo sư Tam Ích, là nhà văn và là nhà tư tưởng, nhưng ông
đã ngã gục vì tư tưởng của mình. Thầy Nghiêm Xuân Hồng-
sau nầy là Cư sĩ Tịnh Liên Nghiêm Xuân Hồng, với “ Đi
tìm một căn bản tư tưởng” hay “Xây Dựng Nhân sinh
quan” v.v… và đi cùng với biết bao nhiêu những
nhà văn, nhà tư tưởng khác…để tìm cho mình một sinh lộ,
khi chung quanh là đổ vỡ, là chiến tranh, là chết chóc, là
những sự vô lý dồn dập đày đọa lên thân phận con người.
Tuổi trẻ của chúng tôi lúc đó, trong thời gian đó, là sống
để sống, sống để chờ ngày chết, sống để đi tìm….và
dựa hơi trên những những nền tảng nhận thức của người
khác để làm của mình, vẫy vùng để sống với nhân sinh
quan vay mượn, nhưng đôi khi lại thấy rỗng không, không thích
hợp với mình..
Qua
biết bao nhiêu dâu bễ, biến thiên của trời người, của
đất nước, nhìn lại đoạn đường qua, chợt thấy mình
vô lý. Tại sao lại rong ruổi đuổi theo những tư tưởng,
theo những áng mây trời mênh mông, theo những vọng niệm bềnh
bồng, lại bỏ quên chính tâm mình.
Ta
cứ ngỡ thời gian là dĩ vãng
Là
hồ bơi thoáng ngát hương đời
mặt
trời lên, dòng thời gian vỡ vụn
hương
không còn, hồ cạn, bóng về đâu ?
Minh Thanh
Như
người chèo thuyền ra biển cả, thấy mảnh trăng non hiện
rõ trên bầu trời, long lanh, đẹp rực rở. Ai đã từng ngắm
trăng sẽ thấy trăng có sức thu hút kỳ lạ, quyến rủ đầu
óc tưởng tượng của con người. Vội vàng lấy cây khều
trăng để làm của riêng mình, để trăng cao vời vợi, để
nhón gót kéo dài thêm cây, mong với tầm nhìn. Vì cuộc sống
quá nhiều bận rộn, lo âu và vật chất thì quá đầy đủ,
nhất là đối với cuộc sống ở nước ngoài hay là của
người cầu tâm bên ngoài, vọng ngoại, quên hẳn tâm mình.
Một
cuộc đuổi bắt ròng rả, trăng vẫn cao và người thì rả
rời, vô vọng, cuốn mình theo sanh tử tử sanh. Chỉ có khi
nào dừng chân lại để trăng là trăng, để hơi thở vẫn
còn cuồn cuộn và để thấy trong mình, vầng trăng thực sự
vẫn muôn đời rạng sáng, không biến hoại- mảnh trăng của
tâm thanh tịnh.
Con
đường dài trên bước tiến tâm linh là một con đường kỳ
diệu, không chỉ vì chúng ta già tuổi đời nên mới ý thức
và cần tới, nhưng đó là con đường đưa đứa bé thành
người trưởng thành, đưa người lớn vững vàng, lớn lên
với vóc dáng của tâm hồn, là con đường của bao thế
hệ cần được nuôi dưỡng. Con đường tâm linh là con người
của đối diện với tử sanh, hãnh diện tiếp xúc với nghiệp
lực của chính mình trên thân phận một hữu tình, để tìm
được gút mắc mở đường hạnh phúc chân thật.
Đức
Phật nhận thức cuộc đời là khổ, sau khi dạo qua bốn cửa
thành, thấy sinh già bệnh chết, thấy sự khổ là chuổi dây
nhân duyên phủ lấp thân phận muôn loài. Giữa đêm khuya,
từ giả vợ con, giàu sang phú quí, địa vị danh vọng đang
chờ…để đi tìm chân lý.
Con
đường tâm linh như lời kêu gọi thống thiết, là hướng
đi của chi thứ hai- Trạch Pháp hay Phân biệt ( Dhammavicaya
) đến từ Chánh Niệm. Vì sao phải có sự đi tìm, khi
cuộc đời quá đầy đủ, khi dục lạc sung túc, khi nhìn thấy
bao quanh là hạnh phúc, vương quyền…nhưng Ngài nhìn thấu
rõ rằng tất cả đó chỉ là giả tạm, của mộng trong mộng,
của ảo ảnh trong đêm dài vô tận của kiếp người, là
khổ đau chồng chất thêm đau khổ khi bị ràng buộc trong
những triền cái, ngăn chặn hướng đi giải thoát. Đây là
sự chuyển tâm quan trọng, khám phá ra ngọn nguồn của sanh
tử là vô minh. Đó là cái nhìn Chánh Kiến về bản chất
của thực tại, của vạn pháp từ hữu đến vô vi pháp, bản
chất là khổ không- vô thường- vô ngã.
Bao
lâu, con người còn dễ duôi, mở rộng sáu căn, để cho thân
miệng ý thâu nhận những chất liệu làm sai lạc, ngộ nhận,
xem vô thường là thường, coi khổ đau là hạnh phúc và rồi
tham đắm, thủ chấp, thì sự ngụp lặn trong sanh tử vẫn
kéo dài. Đó không phải là cuộc chạy trốn kiếp người,
mượn nầy để thế nọ, mê muội tâm hồn, nhưng là tiếp
cận, quán chiếu và chuyển hoá, để sự sanh sự tử chỉ
là những nguyện lực vì lợi ích của con người.
Ngài
đã ra đi để tìm chân lý, đã thành tựu được Giác Ngộ
và để lại cho nhân loại một kho tàng vô giá của tâm linh,
một kho lương dược kỳ diệu có khả năng chuyển hoá mầm
mống sanh tử, chuyển khổ đau thành hạnh phúc, chuyển trói
buộc thành giải thoát, chuyển vô minh thành trí tuệ sáng
suốt, nếu biết khéo thực hành.
Tất
cả chúng ta- ai nấy đều cũng phải ra đi để tìm đáp số
cho cuộc đời chính mình. Hạnh phúc hay khổ đau đều do chính
mình định đoạt, không một ai có quyền sanh sát, ban ân huệ
trong nghiệp lực của mình.
Trạch
pháp là con đường đi tìm và trở về, khi có cái nhìn thấu
đáo, tường tận về bản chất của thực tại. Ai ra đi mà
không trở về. Sự sanh ra đời cũng là con đuờng nối dài
đến sự chết. Sự gặp gỡ cũng là khởi đầu của chia
tay. Đứa bé vừa chào đời cũng là một người già nua ngày
nào đó. Sự có cũng là đầu mối của mất mát….
Đã
biết nhau rồi, qua nhiều kiếp mộng
gọi
ngày vừa qua, bỗng thấy ngày mai
gọi
những cơn mê, nắng sớm mưa chiều
gọi
cơn gió đìu hiu còn qua lại
lời
mời gọi ngày nào, nay sao xa lạ
có
phải người là màu mắt năm xưa
sao
nhìn nhau. không thấy lời trọn vẹn
mồi
giây qua vụt rơi mất dấu về
bóng
dáng ngày nào, lụa là êm ả
tấn
tuồng vừa xong, cởi dấu hình hài
đứa
bé đó bổng già nua bênh cạnh
môi
còn son, mà nhân lớn tuổi đời…
Minh Thanh
Cuộc
Hành Hương tâm linh trên những vùng Thánh tích ở Ấn Độ,
làm cho tôi có những suy tư đến cuộc đời. Khi biết đến
đạo Phật và trở thành người Phật tử, áp dụng những
lời dạy của Ngài vào đời sống. Tôi trọng ân Đức Từ
Phụ vô cùng, đó là một hạnh lớn của đời người mà
mình được may mắn gặp, thực hành. Từng ngày qua, nhìn lại
tâm mình, dù nghiệp lực vẫn còn đầy dẫy, dù tham sân si
vẫn múa rồi bao lần, dù khổ đau vẫn luôn rình rập v.v…nhưng
trong lòng, tận chiều sâu, lại thấy mình vẫn luôn luôn có
ánh sáng của Tánh Phật soi rọi. Đó là một gia tài vô giá,
không có gì có thể đánh đổi được và từ đó, thấy cần
phải làm gì để báo đáp chút ân mọn lên Đức Phật và
Giáo Pháp của Ngài.
Tại
Thánh địa Lumbini- nơi Đức Phật Đản Sanh ở Nepal, tôi đã
gặp được Thầy Huyền Diệu- người Thầy mà tôi kính quí
trọng. Tôi không có thần tượng hoá một người nào, vì
trong tâm tôi đã có Đức Phật, nhưng luôn kính quí những
người biết hy hiến cuộc đời mình cho sự nghiệp Tâm linh,
và vì lợi ích cho mọi người. Gặp Thấy bằng xương bằng
thịt, và được nghe Thầy kể lại những việc làm khi xây
dựng ngôi Chùa Việt Nam đầu tiên tại Thánh địa nầy. Thầy
là người không thuộc Giáo Hội nào như lời Thầy kể, và
Thầy chỉ là người con Phật, tu theo Phật và làm Hạnh của
Phật làm.
Ngôi
Chùa Việt Nam Phật Quốc Tự khi bắt đầu khởi công
với biết bao nhiêu là chướng duyên : Kỳ thị tôn giáo, bị
ám hại để làm nản lòng, bị bao lời dèm pha, quấy nhiễu,
phá phách, gây hấn v.v…nhưng vì đại nguyện theo Hạnh Phật
và để tỏ lòng tri ân hồng ân của Phật trong muôn một,
Thầy không ngả lòng và Ngôi Chùa nay đã được thành hình
như ngày nay. Hiện Thầy đang mang trọng trách là Sứ giả
Hoà bình của đất nước Nepal. Xin thành tâm đảnh lễ những
sự hy sinh và tấm lòng cao quí vì Đạo vì Đời như vậy.
Trong
Lịch sử Phât giáo Việt Nam cận đại- vào năm 1963. Chúng
ta cũng bắt gặp hình ảnh của Bồ Tát Thích Quảng đức,
nguyện đem thân mình làm đuốc soi sáng vô minh, mong đem lại
Tự do- Bình Đẳng và Hạnh Phúc cho mọi người.
Lửa
đá cháy bùng lên thiêu thân xác
nhục
thân Ngài bỗng hoá biến vô biên
lòng
thù hận bao năm trời điên đảo
chợt
cúi đầu run sợ bóng từ bi
Có
xá gì đâu thân bốn đại
Có
màn gì vòng danh lợi lợi danh
Máu
đã đổ tẩm y vàng thanh khiết
lửa
vùng lên xoá bỏ hận thù
Trời
đất vẫy vùng lên cơn gió bụi
một
phút giây nầy ghi dấu đậm thiên thu
thân
có rả tan trong cơn bão lửa
nhưng
tâm tình dung chứa mọi sinh linh
Ngài
đã đến và đi như mộng ảo
dấu
từ bi rõ sáng trí trong ngần
hạnh
phúc muôn loài, lấy thân làm đuốc
gọi
bao lòng chia xẻ nổi đau thương
Ôi
ánh sáng vầng hồng chiếu rực rỡ
Đâu
sánh bằng trái tim hùng Bồ tát
sử
xanh ghi, bao oan khiên giải kết
trái
tim hồng, vô úy, chở nạn sinh linh ….
Minh Thanh
Từ
những tấm lòng biểu trưng đó, nhìn thấy rõ được tâm
Bồ đề vững mạnh trước bao phong ba bão táp của cuộc đời,
của dư luận, của thế lực, của tiền tài danh vọng….Lịch
sử Phật giáo Việt Nam đã nuôi dưỡng và nối kết với
dân tộc Việt Nam đã hơn Hai ngàn năm và đến ngày nay, bởi
những vị Thánh Tăng mà với những Hành trạng vì Đời vì
Đạo, quả là bất khả tư nghì, bất khả ngôn luận., đều
mang dấu ấn của tâm Bồ Đề. Vâng, cái tâm muốn báo ân
Phật qua những gì mình thực hành và thấu chứng được;
cái tâm vì lợi ích nhân sinh, muốn đem con người vượt qua
nổi trầm luân của kiếp người trước bao vấn nạn đè
nặng lên thân phận con người và do con người gây ra.
Cái
tâm đó cũng là cái tâm Vô úy- một tinh thần kỳ diệu, cao
cả của Đạo Phật, đến từ Tâm Từ Bi- Trí Tuệ và Đại
Hùng Đại Lực, dám đối diện trước Bát phong với tinh thần
Bất Bạo Động. Do hiểu được cuộc đời là vô thường,
coi thường danh vọng tiền tài là giẻ rách và cái chết chỉ
là sự chuyển đổi thân xác tứ đại, nên họ dám đối
diện với tất cả mọi vấn nạn, mọi áp lực, mọi thế
lực, mọi gây hấn, mọi thù hằn, chụp mũ, chia rẻ, mọi
chống đối, mọi hàm oan v.v…vì họ không sợ chết. Cái
chết mà không sợ, thì họ còn sợ gì nữa và với tâm Bồ
Đề Vô úy- đó là phương pháp tháo gỡ mọi vấn nạn của
cuộc đời.
Giữa
biết bao nhiêu biến động gây khổ đau cho con người trên
thế giới, một môi trường bất an, dầu sôi lửa bỏng, có
nguy cơ đưa nhân loại đến họa diệt vong. Các quốc trên
thế giới đã nhận thấy được giá trị Hoà bình, An Lạc
và Giải thoát của Đạo Phật- đáp ứng cho nhu cầu của
các xã hội như một lương dược giải án cho khổ đau của
nhân sinh. Đạo Phật đã ngày càng được lan rộng, được
mọi người tin tưởng và thực hành. Sự tu tập đưa con người
chuyển khổ đau, tâm bệnh của chính mình và của mọi người.
Có
một nhà thơ nói rằng:
Xuân
tằm đáo tử ly phương tận
lạp
cự thành hôi lệ thủy cạn
( Lý thường Ẩn )
Tạm
dịch :
Tằm
xuân đến chết, tơ mới cạn
nến
chảy thành khô, lệ mới ngưng….
( Minh Thanh )
Người
con Phật vì Đời vì Đạo, khi thân xác đã hoá tro bay, nhưng
trách nhiệm vẫn chưa xong. Chúng ta không thấy làm lạ khi
đã bao lần nghe được câu nguyện như:” hồi nhập Ta
bà, phân thân vô số, hoá độ chúng sanh..” Chí đó đâu
phải nhỏ, nguyện đó đâu đã mòn, vì để báo ân Phật
và Thầy Tổ, mà lòng luôn canh cánh một bên.
Phật
giáo Việt Nam đang qua một khúc quanh lớn, và người con Phật
Việt Nam đang đổ dồn tâm lực và cầu nguyện. Chúng ta phải
làm gì để tháo gở mọi áp lực, thế lực vô minh đang manh
tâm chia rẻ, đánh phá lương tâm, lương tri của con người.
Chúng
ta ý thức rằng là người con Phật, đã bao lần mình đã
xót xa khi thấy mình sanh ra đời không được gặp Phật, không
được gặp Chánh Pháp, luân chuyển với bao nhiêu kiếp người
lên xuống, nay, may mắn được nghe Phật Pháp và được Thầy
Tổ dạy dỗ tu học để cầu giải thoát và luôn luôn cầu
nguyện rằng, dù sinh ra trong chỗ nào cũng đều gặp được
Phật Pháp.
Chúng
ta đã từng được dạy phải sống theo tinh thần Lục hoà-
đó là phương pháp Hoà bình của Đạo Phật.
Chúng
ta đã từng đọc Bốn Đại Hoằng Nguyện mỗi ngày: “ Chúng
sanh vô biên, thệ nguyện độ. Phiền não vô tận, thệ nguyện
đoạn. Pháp môn vô lượng, thệ nguyện học. Phật Đạo vô
thượng, thệ nguyện thành”.
Chúng
ta cũng thường tâm đắc khi đọc Mười nguyện của Bồ Tát
Phổ Hiền như là một kim chỉ nam cho cuộc sống tiếp cận
với mọi người, vì Đạo và Đời, vì báo ân Phật.
“Nhất
giả lễ kính chư Phật.
Nhị
giả xưng tán Như Lai.
Tam
giả quảng tu cúng dường.
Tứ
giả sám hối nghiệp chướng.
Ngũ
giả tùy hỷ công đức.
Lục
giả thỉnh chuyển pháp.
Thất
giả thỉnh Phật trụ thế.
Bát
giả giả thường tùy Phật học.
Cửu
giả hằng thuận chúng sanh.
Thập
giả phổ giai hồi hướng”
Ngày
nào, chúng ta còn tự nhận mình là người Phật tử, là người
noi theo dấu chân của Đấng Cha Lành để làm lợi mình, lợi
người. Ngày nào. Chúng ta vẫn còn nghỉ đến Đức Phật,
đến ân đức sâu dầy của Ngài, đến Thầy Tổ v.v…thì
không có bất cứ lý do gì, chúng ta không dám Kinh Lễ - Xưng
Tán – Cúng Dường Chư Phật, để sám hối nghiệp chướng
của mình và người, để tùy hỷ công đức, để thỉnh Phật
Pháp còn mãi, để chuyển Pháp luân, để được học Phật,
để hằng thuận chúng sanh, và để mọi người, mọi loài
đều được An Lạc và Hạnh Phúc trong Giáo Pháp Từ Bi của
Đức Phật.
Nếu
chúng ta vì thế lực, vì áp bức, vì sợ nầy sợ nọ, sợ
mất danh mất lợi, sợ chụp mũ, sợ phe phái, sợ đến nổi
phải nói xấu lẫn nhau, tạo đất bằng dậy sóng, vu cáo
lẫn nhau, chà đạp hại lẫn nhau một sống một còn v.v….
thì đó là sự đau lòng vô cùng cho người con Phật, vì đánh
mất tinh thần Vô Úy, trốn lánh, sợ sệt được phủ lấp
bởi những hình dung từ cao đẹp …vì không dám xưng tán,
cúng dường Đức Phật- Người Cha Lành của muôn loài, mà
chúng ta đang theo dấu chân Ngài, cũng như mang trọng ân Ngài.
Cầu
xin cho mọi người không ai gây hại ai. Mọi oán thù đều
dập tắt. Mọi chia rẻ đều vô hại. Chiến tranh đều ngưng
lại và mọi người đều được sống trong An Lạc và Hạnh
Phúc.
Với
tất cả lòng kính thành dâng lên tất cả mọi người, nhân
sau ngày đi Hành Hương Trở Về Tâm Linh.
Kính
mong lắm thay!
Ngày
21.12.2007
Cư
sĩ Liên Hoa
01-03-2008
05:23:12