LỜI
TỰA
Hình
ảnh của Bồ Tát Quán Thế Âm trong thân tướng nữ nhân,
tay cầm bình tịnh và cành dương liễu, còn được gọi dưới
danh hiệu PHẬT BÀ QUAN ÂM NAM HẢI, là 1 hình ảnh rất gần
gũi với dân tộc Việt Nam vì đã được ghi đậm nét trong
tâm trí của mọi người.
Bồ
Tát Quán Thế Âm tiêu biểu cho đức tánh Đại Từ Bi cứu
khổ nạn trong Phật giáo, giống như đức mẹ Maria được
các tín đồ Thiên Chúa giáo sùng kính từ lâu nay. Cả
hai vị đều thị hiện thân nữ vì nữ giới tượng trưng
cho bà mẹ ban phát tình thương cho các con. Tuy 2 vị khác
nhau về tướng mạo nhưng cũng đồng tâm, đó là tâm
bằng cứu vớt.
Từ
sau ngày 30-4-1975, có rất nhiều câu chuyện về thuyền nhân
Việt Nam, khi vượt biển gập nạn được Bồ Tát Quán Thế
Âm cứu thoát, những câu chuyện này đã không ngớt lưu truyền
trong các giới Phật tử, khiến cho mọi người Việt Nam ngày
càng thêm tin tưởng nơi tình thương cao cả Ngài.
Trong
tinh thần phát huy tâm Đại Từ Bi cứu khổ cứu nạn của
Ngài, chúng tôi nghĩ rằng cần phải sớm biên soạn và phổ
biến 1 quyển sách trình bày đầy đủ các pháp môn mà Ngài
đã từng hành trì trong vô lượng kiếp về trước để giúp
cho các giới Phật tử Việt Nam từ đây có thêm phương tiện
tu tập.
Pháp
hệ Đại Bi Quán Thế Âm là pháp hệ được nhiều dân
tộc ở Á Châu ngưỡng mộ và tu học, như ở Tây Tạng, Trung
Quốc và Việt Nam, bởi lẽ nó dễ hành và dễ có kết quả.
Sở dĩ nó được phổ biến rộng rãi khắp nơi từ thành
thị cho đến thôn quê, từ kẻ dốt nát cho đến người trí
thức lá vì nó rất thích hợp với chúng sanh đời mạt pháp,
xa Phật thiếu pháp, luôn bị lôi cuốn và mê mờ trước nền
văn minh khoa học vật chất. Hơn nữa, pháp Quán Thế Âm chẳng
phải là 1 pháp chỉ biết nương tựa vào tự lực mà bỏ
tha lực như pháp Thiền, trái lại nó lúc nào cũng phối hợp
chặt chẽ 2 lực này để giúp chúng ta khắc phục được
ma lực của thất tình, lục dục từ lâu đã ngự trị trong
thân tâm mình. Vì thế, pháp Quán Thế Âm còn được
gọi là pháp Thiền Mật song tu, được triển khai rải rác
trong các kinh như Thủ Lăng Nghiêm, Diệu Pháp Liên Hoa, nhứt
là trong Tâm kinh Bát Nhã.
Tâm
kinh tuy hết sức cô động, chỉ gồm có 260 chữ nhưng lại
được đúc kết bằng câu đại thần chú, đại minh chú,
vô thượng chú, vô đẳng đẳng chú : << YẾT ĐẾ,
YẾT ĐẾ, BA LA YẾT ĐẾ, BA LA TĂNG YẾT ĐẾ, BỒ ĐỀ TÁT
BÀ HA >> .
Câu
chú ngắn gọn này sẽ được triển khai đầy đủ để trở
thành Thần Chú Đại Bi Cứu khổ cứu nạn vô cùng linh hiển
mà bất cứ ai, nếu biết qua công năng vi diệu của nó, cũng
không thể lơ là mà không trì niệm.
Chúng
tôi mong rằng quyển sách bé nhỏ này sẽ đem lại nhiều lợi
lạc cho quý độc giả trong những năm còn lại của thế kỷ
20, nhưng đã và sẽ ghi nhận những biến cổ lịch sử lớn
nhứt có tính cách quyết định về tương lai của nhân loại.
Tuy
nhiên, trong tinh thần cầu tiến, chúng tôi hy vọng sẽ nhận
được những lời chỉ giáo của các bậc cao minh về những
sơ sót, khuyết điểm có thể tìm thấy trong quyển sách nhỏ
này. Khi có dịp, chúng tôi sẽ dựa theo đó để tu chỉnh
trong những lần tái bản về sau.
L.H.
Tịnh Huệ
Cần
khải.
Mùa
hè năm Nhâm Thân, 1992
HÀNH TRÌ PHÁP
QUÁN THẾ ÂM
Phần
A : DẪN NHẬP
I.
NHẬN ĐỊNH TỔNG QUÁT
Pháp
Quán Thế Âm là đệ nhứt tâm pháp vì nó là một sản phẩm
cao quý của lý tưởng Đại Thừa, được đức Phật đề
cập trong ba bộ kinh Thủ Lăng Nghiêm, Tâm Kinh Bát Nhã, và
Diệu Pháp Liên Hoa.
Pháp
Quán Thế Âm có tính cách phổ môn vì nó được phổ biến
khắp cửa nhà, khắp nơi chốn nhằm biến tối thành sáng,
biến sầu hận thành an vui, biến đau thương thành hạnh phúc.
Bồ
Tát Quán Thế Âm rất gần gũi với chúng ta. Tiêu biểu cho
đức tánh Đại Từ Bi, Ngài luôn cứu giúp chúng sanh đau khổ
và lâm nạn, không phân biệt nam nữ, tín ngưỡng, quốc gia,
dân tộc, dưới dạng một nữ Bồ Tát mà người đời thưòng
tôn xưng là Phật Bà Quán Âm Nam Hãi.
Tình
thương mà Ngài ban rãi cho muôn loài là một thứ tình thương
bất vụ lợi, vô tư giống như ngàn hoa cùng đua nở để
tô điểm cho cuộc đời được thêm tươi.
Trong
thế giới cuồng loạn ngày nay, mọi người đang tranh giành
quyền lợi, cấu xé lẫn nhau vì miếng cơm manh áo, vì bả
vinh hoa, phú quí nên đau khổ và phiền não là những hậu
quả đương nhiên, khó bề tránh khỏi.
Để
có thể giúp mọi người vượt qua khổ ách, chúng ta phải
phát huy tình thương bằng cách hành các pháp mà Bồ Tát Quán
Thế Âm đã thành tựu trong vô lượng kiếp về trước.
Những cảnh khổ đau càng diễn tả ra trên đời nhiều chừng
nào thì chúng ta càng phải ra sức công phu hành trì các pháp
ấy càng nhiều chừng nấy. Đời càng khổ, pháp Quán
Thế Âm mới càng có gía trị thiết thực. Đó là lý
mâu thuẫn, đối kháng luôn diễn bày trong cảnh giới nhị
nguyên, giữa hai thế lực, một của đau khổ phá hoại và
một của tình thương xây dựng. Đó cũng là nguyên nhân
chánh yếu chứng minh sự cần thiết của pháp Quán Thế Âm
trong thời kỳ mạt pháp, xa Phật thiếu pháp, nặng vật chất,
nhẹ tinh thần như thời kỳ mà chúng ta đang sống vào cuối
thế kỷ 20, sắp bước sang thế kỷ 21. Có thể nói mà
không sợ sai lầm, pháp Quán Thế Âm là pháp tu tập của thời
đại.
Vì
thế trước khi hành chúng ta phải tìm hiểu cho tường tận
pháp này, đúng theo một quy trình quen thuộc trong Phật pháp,
đó là quy trình TÍN, GIẢI, HẠNH, QUẢ.
Chúng
ta tin vào khả năng gia hộ của Bồ Tát, tin vào giá trị của
các pháp mà Ngài đã từng hành trì. Từ đó chúng ta
mới tìm hiểu sâu rộng, tìm biết cho đúng chánh pháp của
Ngài.
Thông
thường, hể nói đến pháp Quán Thế Âm thì người ta liền
liên tưởng đến pháp Phổ Môn, cứu khổ cứu nạn của Ngài
trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Pháp Phổ Môn nằm trong Phần
25, kinh Pháp Hoa, là pháp xiển dương công đức cứu độ của
Bồ Tát, bởi lẽ Quán Thế Âm là << ánh sáng thanh tịnh,
là mặt trời huệ soi sáng các chỗ tối tăm, hàng phục nạn
tai khói lửa, là tâm Đại Bi rưới mưa pháp cam lồ dứt trừ
phiền não xua đuổi hận thù nơi pháp đình cũng như nơi trận
địa >>. (Phẩm Phổ Môn, kinh Pháp Hoa).
Nhưng
thật ra, pháp Quán Thế Âm không phải đơn thuần chỉ có
pháp Phổ Môn, nó còn gồm có pháp tu Nhĩ căn viên thông trong
kinh Thủ Lăng Nghiêm, và pháp chiếu soi hay chiếu kiến ngủ
uẩn giai không trong Tâm kinh Bát Nhã.
Hai
pháp này rất quan trọng đối với những ai đang và sẽ tu
Phật vì chúng có khả năng giúp chúng ta bước vào cửa động
Thiếu Thất của Thiền Đông Độ để hòa nhập với bản
thể Chơn như thanh tịnh.
Không
hành hai pháp này, làm sao chúng ta có thể tỏ thấu được
pháp tánh vô sanh ? Tuy việc thể nhập Chơn Như chỉ là cái
bước đầu làm căn bản cho quá trình tu tập của chúng ta
để đi đến chứng đắc tam thân, tứ trí, ngũ nhãn, lục
thông, nhưng xét cho chùng bất cứ ai tu Phật mà không thể
nhập được Chơn Như, dù thể nhập từng phần, từng phần
cũng vậy, thì cũng như người đó không tu, không sửa, không
làm được điều gì có lợi cho người và cho mình.
II.
SỰ TÍCH CỦA BỒ TÁT QUAN THẾ ÂM :
Theo
kinh Thiên Thủ Thiên Nhản Quán Thế Âm Bồ Tát, quảng đại,
viên mãn, vô ngại đại bi tâm Đà la ni, được Samôn Bạc
Già Đạt ma (Bhagavaddharma) người Ấn dịch từ Phạn sang Hoa
ngữ, vào đầu thế kỷ thứ 7, sau Tây lịch, đời nhà Đường,
thì đức Phật Thích Ca khi ngự tại Đạo Tràng Bảo Trang
Nghiêm của Bồ Tát Quán Thế Âm, đã giới thiệu cho tự chúng
biết về sự tích và công hạnh của Bồ Tát Quán Thế Âm
qua việc hành trì thần chú Đại Bi mà Bồ Tát đã thọ nhận
trong vô lượng ức kiếp về trước nơi đức Phật Thiên
quang Vương Tịnh Trụ.
Lúc
được Phật Tịnh Trụ trao cho thần chú Đại Bi, Bồ Tát
vẫn còn ở đảng vị Sơ Địa. Vừa nghe xong thần chú,
Ngài liền chứng được đệ bát Địa. Vô cùng cảm
kích, Ngài vội vàng phát ra lời đại nguyện sau đây :
“Nếu
trong đời vị lai, con có thể đem lợi ích và an vui cho tất
cả chúng sanh với thần chú này thì xin khiến cho con được
1000 tay, 1000 mắt”. Phát nguyện xong, 1000 tay và 1000 mắt đều
hiện ra đủ nơi thân Ngài. Theo lời giải thích của
Phật thì mỗi tay tiêu biểu cho hạnh tùy thuận các sự mong
cầu của chúng sanh. Mà chúng sanh luôn mong cầu và mong
cầu rất nhiều việc, do đó Bồ Tát mới nguyện cho có đủ
1000 tay để giúp đở chúng sanh.
Theo
kinh Bi Hoa, tiền thân của Bồ Tát là Thái tử BẤT HUYỀN,
có em ruột là Vương tử Ni Ma mà kinh Phật thường gọi là
Bồ Tát Đại Thế Chí, cả hai đều là con của vua Vô Tranh
Niệm. Về sau, Vua thị hiện làm 1 trong 16 Vương tử,
còn của một vị vua bỏ ngôi đi tu thành Phật, hiệu là Đại
Thông Trí Thắng Như Lai (Kinh Pháp Hoa, Phẩm 7 : Thí dụ về
Hóa Thành). Tất cả 16 vương tử đều thành Phật, vị
thứ 9 là Phật A Di Đà, phạn ngữ là Amitabha, dịch nghĩa
là Vô Lương Thọ, Vô Lượng Quang ở phương Tây, còn vị
thứ 16 là Phật Thích Ca Mâu Ni ở cõi Ta Bà.
Đức
Phật A Di Đà chính là vua Vô Tranh Niệm thường được tượng
thờ chung với hai vị nữ Bồ Tát, bên trái là Bồ Tát Quán
Thế Âm đứng trên lưng rồng, tay câm hồ lô và cành dương
liễu, bên phải là Bồ Tát Đại Thế Chí, một vị tiêu biểu
cho tâm Bi, một vị cho Đại Trí.
Dưới
con mắt của người đời, Bồ Tát Quán Thế Âm chính là Phật
Bà Quan Âm Nam Hải luôn thị hiện cứu giúp chúng sanh lâm
nạn và hóa độ để tiếp dẫn họ về cõi Cực lạc của
Phật A Di Đà lúc lâm chung. Ngài là vị cổ Phật được
biết dưới danh hiệu là CHÁNH PHÁP MINH NHƯ LAI.
Do
đâu mà ngày nay các chùa chiền lấy ngày 19 tháng 2 Âm lịch
làm ngày vía đản sanh của Bồ Tát Quán Thế Âm? Đây
là một sự tích bên Trung Hoa ở đời nhà Tùy (581-618) của
một vị Hòa Thượng, sanh nhằm ngày 19-2 ÂL. Sau khi tịch
diệt, nhục thân của vị Hòa thượng được hỏa táng.
Ngay lúc đó, tự nhiên hiện ra giữa hư không một thân người
vô cùng tốt đẹp khiến cho mọi người cho đó là hóa thân
cùa Bồ Tát Quán Thế Âm.
*
*
*
Phần
B : CÁC PHÁP TU CỦA
QUÁN
THẾ ÂM
I.
PHÁP TU NHĨ CĂN VIÊN THÔNG
Sau
khi đã ý thức được điều kiện mở gút các căn, ông Anan,
nhân vật chánh đối thoại với đức Phật trong kinh Thủ
Lăng Nghiêm, mới thỉnh cầu Ngài chỉ dạy thêm cho ông biết
phải tu căn nào mới được viên thông ?
Đức
Phật bèn bảo 25 vị thánh trong pháp hội trần thuật lại
pháp tu nào đã giúp họ chứng đắc đạo qủa.
Lần
lượt 25 vị A La hán và Bồ Tát đứng lên trình bày pháp
tu chứng của mình. Trước tiên có 6 vị giải bày rằng
nhờ tu 6 trần là sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp mà được
thành đạo. Kế đó có 5 vị cho biết nhờ tu nhãn, tỷ,
thiệt, thân, ý căn mà được viên thông. Tiếp theo có
6 vị tu lục thức chứng được viên thông. Còn có 7
vị khác nhờ tu 7 đại mà cũng chứng được đạo quả.
Vị thứ 25 cũng là Bồ Tát Quán Thế Âm trần thuật trước
Phật và pháp hội pháp VĂN, TỰ, TU (nghe, suy tư và tu tập)
của Ngài.
Ngài
nói khi vừa nghe âm thanh, Ngài liền xoay cái nghe đó trở vào
Chơn tâm, nhờ đó thể nhập được Chơn tâm thanh tịnh, chứng
được hai quả thù thắng, đó là trên chỉ hiệp với đức
tánh Từ độ của chúng sanh. Ngoài ra Ngài còn hiện ra
32 ứng hóa thân hộ độ chúng sanh khiến cho họ được 14
món vô úy và 4 món vô tác vi diệu, khó thể nghỉ bàn.
Sau
khi 25 vị A La Hán và Bồ Tát trình bày xong, Phật bảo Bồ
Tát Văn Thù Sư Lợi hãy chọn lựa một pháp môn nào trong
số 25 pháp tu chứng của các vị A La Hán và Bồ Tát, có khả
năng giúp cho ông A nan và các chúng sanh đời sau để thành
đạo vô thượng Bồ Đề.
Bồ
Tát Văn Thù nói rằng pháp Đại Thừa vốn có nhiều, pháp
nào cũng có thể giúp đạt kết quả tốt, tuy rằng đối
với người tu sơ cơ thì thấy dường như có pháp dễ, có
pháp khó.
Ngài
nhận định rằng trong cõi Ta Bà, Phật đã dùng lời nói để
thuyết pháp, còn chúng sanh thì dùng nghe đễ lãnh hội, do
đó cũng nên dùng pháp tu nhĩ căn để tu chứng tam muội.
Bồ Tát Văn Thù liền xưng tán nhĩ căn vì nhĩ căn thông cùng
khắp và có 3 đức tánh viên, thông và thường hơn hẳn các
căn khác. Viên là tròn, giúp mình nghe được âm thanh
khắp 10 phương, thông là không ngăn ngại vì mình có thể
nghe cách vách, nghe được tiếng xa, tiếng gần thường vì
tánh nghe vẫn hoạt động dù mình đang hôn mê hay đã chết.
Bồ
Tát Văn Thù cũng không quên tán thán công đức của Bồ Tát
Quán Thế Âm vì Bồ Tát đã chứng được tánh nghe nhiệm
mầu, ứng hợp với mọi hoàn cảnh nhưng vẫn không rời chơn
tâm thanh tịnh.
Dưới
đây là bản văn pháp tu nhĩ căn viên thông trích từ bộ kinh
Thủ Lăng Nghiêm.
1.
PHÁP TU NHĨ CĂN VIÊN THÔNG
Pháp
này gồm có 3 giai đoạn sau đây :
Giai
đoạn 1: Sở ư văn trung, nhập lưu vong sở, sở nhập
kỷ tịch, động tịnh nhị tướng, liễu nhiên bất sanh.
Tạm
dịch : Trước tiên trong chỗ nghe, liền đưa những gì
mình nghe nhập vào tánh nghe (chơn tâm), nhờ vậy mà quên đi
những gì đã nghe. Khi chỗ nhập đã yên ỗn thì hai tướng
động tịnh rốt ráo không còn nữa.
Giai
đoạn 2: Như thị tiệm tăng, văn, sở văn tận,
tận văn bất trụ, giác, sở, giác không, không giác tịch
viên.
Tạm
dịch : Như thế cứ tăng dần, cái nghe và cái bị nghe
đều đứt. Nhưng không trụ ở chỗ hết nghe. Cái
biết rằng mình không trụ như thế và cái bị biết (chính
là sự việc mình không trụ ở chỗ hết nghe) cũng không.
Cuối cùng cái biết “tướng không” ấy được tăng trưởng
đến mức độ tròn đầy, vắng lặng.
Giai
đoạn 3: Không, sở Không diệt, sanh diệt dĩ diệt, tịch
diệt hiện tiền.
Tạm
dịch : Cái biết tướng không và cái tướng Không là
cái bị biết, cả hai cũng dứt luôn. Đến đây cãnh
giới sanh diệt, đối kháng hoàn toàn mất, chỉ còn trạng
thái tịch diệt, vắng lặng tuyệt đối mà thôi.
Cả
ba giai đoạn trên đây đều nhằm tạo cái “không” trong
đầu của hành giả. Giai đoạn 1 là không nghe, giai đoạn
2 là không biết, giai đoạn 3 là không cái không biết tức
là cái không biết cũng không luôn.
Nếu
chúng ta chấp văn tự thì chúng ta liền rơi vào lối suy diễn
của Nhị Thừa vốn chấp Không: không nghe, không biết, không
cái không biết. Thật vậy, Nhị Thừa chủ trương không
nghe, không biết vì họ muốn dứt bặt thọ và tưởng để
từ đó có thể đi vào cái không, tuyệt đối vắng lặng.
Chúng
ta thử phân tích từng giai đoạn một như sau.
Trong
giai đoạn 1, hành giả đưa cái gì đã nhe nhập vào bản thể
thanh tịnh của Chơn tâm, cốt đễ quên cái đã nghe.
Nhập được yên ổn rồi thì 2 tướng động, tịnh không
sanh. Động là nghe, tịnh là không nghe. 2 tướng
này cũng chi là 2 tướng đối đãi về mặt văn tự, chớ
thật ra không có ý nghĩa gì trong vấn đề thể hiện trạng
thái vắng lặng tuyệt đối, bởi lẽ trong giai đoạn 2, hành
giã còn phải lo dứt trừ cái biết, mà cái biết tức là
tưởng động.
Mục
đích của giai đoạn 1 là nhằm làm bặt cái khả năng nghe
âm thanh của lỗ tai, y hệt như nhét bông gòn hay bịt lỗ
tai vậy.
Trong
giai đoạn 2, hành giả không còn nghe gì nữa, nhưng còn biết,
biết rằng mình đã hết nghe. Cái biết này xuất phát
từ ý thức, cũng phải dứt luôn. Dứt bằng cách nào
?
Phải
chăng bằng cách đè bẹp tư tưởng biết, giống như người
ta lấy đá đè cỏ. Tư tưởng biết sẽ tạm thời chấm
dứt, nhưng sau đó sẽ tiếp tục xẹt ra trong đầu, vì tư
tưởng là dòng thác từ nguồn đổ xuống làm sao chận được
?
Vẫn
biết rằng hàng Nhị Thừa có thể làm tê liệt 6 thức, từ
nhãn thức cho đến ý thức nhưng họ chỉ có thể tạm thời
làm được công việc vô bổ này mà thôi. Do đó câu
“không giác tịch viên”, hoàn toàn không đúng với chơn
lý.
Đến
giai đoạn 3, hành giả phải dứt bặt hết mọi tư tưởng
như tư tưởng biết mình không còn nghe nữa, tư tưởng biết
mình đang ở trong trạng thái trống không. Dứt bặt kiểu
này là dứt bặt mọi cảm thọ liên quan đến cái nghe, dứt
bặt tư tưởng biết mình hết nghe, biết đầu mình đang rỗng
không.
Câu
“không, sở không diệt” được ghi trong giai đoạn 3 thật
hết sức khó hiểu. Vì sao ? Bởi lẽ nó quá vắn
tắt, khiến cho chúng ta phân vân về ý nghĩa của chữ không.
Ở trên đả đề cập đến “ không giác” là cái biết
mình đã không còn nghe nữa, nay lại nói đến chữ Không.
Phải chăng nó hàm ý rằng hành giả biết mình đang ở trong
trạng thái rỗng không. Đây là cái năng biết, còn trạng
thái rỗng không là cái bị biết mà kinh gọi là sở không.
Còn phân biệt năng, sở tức là còn trong vòng đối đãi.
Vì thế kinh dạy phải diệt phải dứt trừ cái tâm phân biệt
này mới có thể đạt được trạng thái tịch diệt.
Trạng
thái tịch diệt là như thế nào ?
Theo
phương pháp này thì hành giả phải ở trong trạng thái không
còn nghe, không còn biết gì hết, thậm chí không biết mình
có còn thở nữa hay không ? Đó là trạng thái tịch diệt
của người hành pháp Thiền DIỆT TẬN ĐỊNH, hoàn toàn vô
tri, vô giác, như gỗ đá.
Xét
cho chung, pháp tu nhĩ căn viên thông như được trích trên đây
không khác gì pháp Thiền Diệt Tận Định.
Như
thế thì pháp tu này có tánh không thiết thực, khó thực hành
đối với người đời, vì người đời trong ngày lúc nào
cũng nghe đủ thứ âm thanh, từ những lời chửi mắng, chê
trách, gièm pha đến những lời nịnh hót, tâng bốc, ngợi
khen. Không lẽ khi mới vừa nghe một tiếng nói nặng
của người láng giềng, mình vội chạy vào phòng riêng để
thực hành pháp tu nhĩ căn hay sao ?
Chỉ
có những đạo sĩ, các hàng Nhị Thừa, sống cô đơn, xa lánh
cuộc đời, nơi rừng sâu, núi thẳm, mới có thể hành pháp
Thiền Diệt tận định, nói cách khác, hành pháp tu nhĩ căn
viên thông như trên đã trình bày. Chúng ta nhớ lại trường
hợp ông Xá Lợi Phất đang nhập Diệt Tận định dưới gốc
cây trong rừng bị ông Duy Ma Cật chỉnh một phen mà không
biết cách nào để đối đáp.
Nhiều
nhà tu hành gọi pháp tu nhĩ căn viên thông là đại định
hay tam muội Thủ Lăng Nghiêm. Gọi như thế có phần nào không
đúng, bởi lẽ Thủ Lăng Nghiêm tượng trưng cho trí huệ Phật,
do đó khi đã nhập tam muội Thủ Lăng Nghiêm thì không có
pháp chi mà hành giả không liễu ngộ. Đằng này, trong
tiến trình nhập Diệt tận định với pháp nhĩ căn viên thông,
hành giã hoàn toàn không biết gì nữa hết, thì làm sao gọi
là liễu ngộ các pháp. Biết với tâm vô trụ mới gọi
là liễu ngộ, là trí huệ.
Người
tu Phật Thừa luôn luôn niệm rằng hề mang thân tướng nào
thì phải sống và tiếp xúc với cảnh giới thân tướng đó,
nghĩa là không lìa cảnh giới nhộn nhịp của người đời,
vì nếu, lìa thì không thể nào biết các pháp để rồi, sử
dụng chúng một cách vô ngại.
Với
quan niệm trên, chúng ta phải sống với đời, sử dụng nhĩ
căn của mình để nghe trọn vẹn mọi thứ âm thanh ở trên
đời, nghe nhưng không để bị nhiễm, bị lôi cuốn, vì nếu
để bị ngoại cảnh lôi cuốn thì tâm mình sẽ mê mờ, làm
sao biết được thực tướng của các pháp, làm sao nhập được
bản thể chơn như ?
Vì
thế Chân sư của chúng tôi gọi pháp tu nhĩ căn viên thông
với cái tên mới cho phù hợp với thời đại ngày nay.
Đó là pháp nghe mà như không nghe, mà là nghe như thật, còn
gọi là pháp lắng nghe, lắng nhìn vô sở thọ.
Pháp
này không khác pháp chiếu Kiến trong Tâm kinh, vì chiếu kiến
hay chiếu soi của cặp mắt là thấy, nhìn, chiếu, soi của
lỗ tai là nghe.
2.
PHÁP LẮNG NGHE, LẮNG NHÌN VÔ SỞ THỌ.
Trong
phần trình bày trên đây, chúng tôi chỉ đề cập đến pháp
lắng nghe vì các sự thấy, nghe, hay, biết của mình đều
là những cảm thọ của lục căn có cùng một tánh chất.
Thật vậy, chúng ta thọ vui, thọ khổ, thọ không vui không
khổ, chớ không có cách cảm thọ nào khác hơn.
Do
đó, chúng ta chỉ cần nắm vững pháp lắng nghe là đủ rồi.
Hơn nữa lỗ tai có tới 1,200 công đức, trội hơn rất nhiều
công đức của mắt chỉ có 800 mà thôi. Chúng ta nên
nhớ rằng cứu cánh tu tập là hòa nhập Phật tánh, Chơn Như
tâm, pháp giới tánh. Tuy được gọi dưới nhiều tên
khác nhau, nhưng tất cả những danh từ ấy đều có cùng một
nghĩa. Hòa nhập Phật tính tức là hòa nhập trọn vẹn
4 đặc tánh: Thường hằng, Năng Sanh, Chiếu Soi và Thanh tịnh
hay tỏ thấu được 3 mặt: Thể, Tướng, Dụng của Phật
tánh.
Nếu
hòa nhập đầy đủ 4 đặc tánh thì gọi là đắc qủa Vô
thượng Bồ Đề, Hòa nhập chưa đủ thì gọi là từng phần
giác. Đó là trường hợp của các bậc A La hán, của
các vị Tam Hiền chỉ đạt được một đặc tánh Thanh tịnh
trong 4 đặc tánh nói trên, nên chưa phát huy được hết Tướng
và Dụng của Phật tánh.
Chúng
ta cũng nên nhớ rằng xưa nay tất cả động tác như suy nghĩ,
tính, toán, lý luận, phê phán, phân biệt v.v… của chúng
ta đều do tâm chủ động cả. Mà cái tâm ấy vốn vô
tướng, không thể lấy phàm nhân mà thấy được, lấy ý
thức mà biết được. Tâm vốn vô tướng nên không biến
đổi, không chết sống, không thọ dụng.
Thí
dụ như ý khởi niệm ăn, nhưng ý không ăn, chỉ có sắc thân
này ăn. Tâm khởi phát ý nghĩ có lấy, có bỏ nhưng thật
ra tâm chẳng có lấy chẳng có bỏ gì cả. Sở dĩ tâm
phân biệt có lấy, có bỏ là vì tâm lầm chấp, là vì tâm
còn mê vọng. Tâm mê vọng được gọi là vọng tâm,
tâm không lầm chấp là chơn tâm.
Như
vậy, chơn hay vọng cũng chỉ là tên gọi cái vô tướng đó
mà thôi, giống như ta gọi người uống rượu say là người
say rượu, khi người đó hết say thì gọi là người tỉnh
rượu. Say hay tỉnh rượu cũng chỉ là cách gọi một
người mà thôi.
Đề
cập đến vấn đề thọ tụng, chúng ta thấy rằng tâm vô
tướng không cảm thọ bất cứ điều gì. Vì tâm lầm
chấp nên cho rằng cảnh hát xướng là cảnh vui, cảnh tù
tội là cảnh khổ, nhưng trên thực tế, tâm không bao giờ
cảm thọ.
Đối
với các pháp ngoài sắc thân như núi sông, rừng rậm, đồng
cỏ, tinh tú, mặt trời, mặt trăng, tất cả đều biến hiện,
sanh diệt liên tục, nhưng cái vô tướng chỉ đạo không bao
giờ sanh diệt, giống như tâm sai khiến xác thân làm đủ
thứ việc nhưng bổn tâm vẫn hằng hữu.
Vậy
thì cái vô tướng chỉ đạo sơn hải đại địa và cái vô
tướng chi đạo xác thân này đều đồng một tánh năng sanh.
Như thế trong cái tướng hư vọng luôn có cái vô tướng.
Tốm lại, không phải chỉ có con người hay súc vật mới
có cái vô tướng mà nơi âm thanh, sắc tướng, sơn hà, đại
địa cũng có cái vô tướng. Trong kinh, Phật dạy ông
Tu Bồ Đề muốn hàng phục vọng tâm để hiển bày chơn tâm,
thì phải vô trụ, không chấp, nghĩa là muốn lấy nước thì
phải múc ngay nơi sống, muốn thấy chơn thì phải tìm nơi
vọng, muốn thấy đạo thì phải chung sống với đời.
Nay
muốn tìm chơn mà có thể lìa bỏ các pháp tức là làm bặt
cái nghe, cái thấy hay sao ?
Muốn
thấu triệt pháp tu nhĩ căn viên thông, chúng ta nên phân biệt
3 trường hợp như sau ?
a)
Nghe và không nghe.
b)
Nghe mà không nghe.
c)
Nghe như không nghe mà lại nghe như thật.
Trường
hợp 1. NGHE VÀ KHÔNG NGHE.
Đó
là trường hợp chung cho kẻ phàm phu chúng ta, có khi nghe, có
khi không nghe.
Không
nghe là khi chúng ta điếc hay lảng tai hoặc bị ngăn cách.
Dù có nghe hay không nghe, chúng ta cũng đều phát khởi ý niệm
phân biệt yêu ghét, lấy bỏ. Tâm chạy theo ngoại cảnh
được gọi là tâm nhiễm ô, tâm chấp tướng. Mà hễ
còn chấp tướng thì làm sao thấy được tánh ? Vì thế
phàm phu chúng ta phải bị lưu chuyển trong vòng sanh tử luân
hồi, phải thọ lãnh nghiệp báo vui sướng, khổ không khổ.
Trường
hợp 2. NGHE MÀ KHÔNG NGHE.
Hàng
Nhị Thừa vì chủ trương ngăn ngừa nhĩ căn không có cho tiếp
xúc với âm thanh bên ngoài nên không thể phân biệt được
tướng của âm thanh, êm dịu hay chua chát, thanh hay thô.
Do không phân biệt nên họ không khởi tâm yêu ghét, lấy bỏ,
tất nhiên không bị nhiễm ô, nên họ không tạo nghiệp ác
để lãnh quả báo sanh tử.
Trường
hợp này liên hệ trực tiếp đến đạo qủa của Nhị Thừa.
1)
Nghe là trường hợp của Thanh Văn, nhờ nghe được pháp Tứ
Đế mà đạt được quả giải thoát gọi là tiểu quả Niết
Bàn.
2)
Không nghe là trường hợp của A La Hán.
A La
Hán chủ trương không nghe tất cả mọi thứ âm thanh nên chẳng
những ngăn nhĩ căn không để bị tác động mà còn tìm cách
an trụ trong cái không, tịch diệt của Diệt tận định.
Dù đạt được quả vô sanh, nhưng A La Hán vẫn còn chấp
pháp vì còn phân biệt có pháp thanh thô, yêu ghét, lấy bỏ,
như họ nghĩ rằng tất cả các thứ âm thanh đều là ô trược
cần phải loại bỏ.
Tu
theo pháp nghe mà không nghe vẫn còn bị kẹt, vì khi chúng ta
không tiếp xúc với các pháp thế gian, chúng ta không thể
nào tỏ ngộ được tánh của chúng.
Trường
hợp 3. NGHE NHƯ KHÔNG NGHE MÀ LẠI NGHE NHƯ THẬT.
Do
nguyên tắc tướng của âm thanh tuy có thanh thô khác nhau, nhưng
tánh của nó là chơn không, bình đẳng, không thanh, không thô.
Nói cách khác, lìa sóng không thấy nước, lìa tướng không
thấy tánh, lìa thế gian không Phật, lìa vọng niệm hay chúng
sanh tánh, không thấy Phật tánh hay Phật tâm.
Vì
thế muốn lắng nghe một cách tự tại và viên thông, chúng
ta không nên phân biệt tướng thanh thô của âm thanh, không
nên phân biệt cái gì cần nghe, thích nghe, và cái gì không
cần nghe, không thích nghe. Nếu nghe được thì chúng ta cứ
nghe mà như không nghe, nghĩa là cứ nghe mà lòng không chấp,
không trụ, không sanh tâm ưa ghét, nhờ vậy mà chúng ta rốt
cuộc được nghe như thật.
PHƯƠNG
PHÁP THỰC HÀNH
Nói
không chấp, không trụ thì dễ nhưng khi thực hành mới thấy
khó khăn vô cùng. Nếu áp dụng khoa động lực học,
chúng ta sẽ tìm ra được một phương cách tương đối dễ
thực hiện.
Người
tu Bát Nhã không chủ trương tận diệt mọi tư tưởng.
Họ chỉ tìm cách dứt trừ mọi tư tưởng tham, sân, si, thất
tình, luc dục (tâm chấp ngã, chấp pháp) khi đối cảnh, đối
pháp hay những hình ảnh có sức quyến rũ được ghi trong
ký ức.
Thất
tình, lục dục, tham, sân, si là những tướng thô của các
thứ tâm chấp ngã là ngã si, ngã mạn, ngã kiến, ngã ái.
Thất tình gồm có: hỉ, nộ, ố, ái, dục, cụ còn lục dục
thì có tài, danh, sắc, thực, thùy (ngủ nghĩ), tật đố (ganh
ghét) hoặc 6 thứ ham muốn của 6 căn.
Vì
không chủ trương tận diệt tư tưởng nên người tu chỉ
muốn làm chủ tất cả tư tưởng, bất luận chơn hay vọng,
đang diễn biến trong nội tâm nghĩa là chẵng những họ không
để cho các thứ tâm chấp ngã lôi cuốn mà còn tùy nghi sử
dụng chúng để làm lợi người, lợi mình.
Có
đối pháp, tâm liền phát khởi. Tâm phát khởi là tâm
bị động, tâm nghe bên trong là tâm tịnh. Tuy nói hai
tâm nhưng cả hai đều cùng sử dụng một lực, đó là tâm
lực nói chung, trung tính, không thiện, không ác.
Tâm
lực đó có sẵn trong mỗi người chúng ta cũng như có sẵn
trong vũ trụ, trùm khắp không gian và thời gian. Vì vậy
tâm lực của chúng ta chính là LỰC của VŨ TRỤ còn gọi
là lực năng sanh của Chơn Như tâm.
Khi
đối pháp, nếu chúng ta sanh lòng tham thì liền đó có một
lực thúc đẩy chúng ta phải hành động. Nếu chúng ta
kịp thời lắng nghe nội tâm thì lực tham sẽ mất, khiến
cho tư tưởng tham lần hồi mất theo.
Vậy
thì với kỷ thuật làm tăng trưởng lực lắng nghe đến mức
tối đa, chúng ta đã làm tan biến ma lực của thất tình,
lục dục, bởi lẽ nếu mình đã tận dụng trước tâm lực
ở nơi lòng thì còn tâm lực nào khác để cho thất tình,
lục dục sử dụng ?
Thí
dụ như đi xem vở tuồng cải lương Lan và Điệp, các bà
mẹ và các cô thường hay rơi lệ khi nghe những lời ca oán
than não nùng của Lan quyết tâm cắt đứt mối tình xưa giữa
hai người. Do đâu mà các bà và các cô phải mgậm ngùi,
bi lụy như thế ? Có phải là vì các bà, các cô chưa
từng tu tập pháp lắng nghe nên đã vô tình để cho âm thanh
lôi cuốn. Nếu đã thuần thục được pháp này rồi
thì làm gì còn có vấn đề thương cảm số kiếp hồng nhan
đa truân ?
Thực
hành liên tục pháp lắng nghe, tức là tập cho tâm lắng nghe
có một cái lực mạnh mẽ đủ sức hàng phục các vọng niệm
chấp ngã, chấp pháp cũng như thất tình, lục dục.
Câu
hỏi được đặt ra là tại sao có người hành pháp lắng
nghe mà vẫn bị lôi cuốn bởi các ma lực của vọng niệm
?
Chúng
ta nên hiểu tâm lực có tánh chất trung tính. Khi bắt
đầu tu tập pháp lắng nghe, chúng ta đã lấy một phần của
tâm lực chuyển sang cho tâm lắng nghe. Từ đó tâm lắng
nghe mới có được một lực, nhưng lực này vẫn còn yếu,
so với ma lực của tham, sân si vốn đã được un đúc từ
vô lượng kiếp về trước.
Lúc
bấy giờ tâm lực bị chia thành hai phân lực, một phân lực
đi với tâm lắng nghe, một phân lực đi với tham, sân, si,
thất tình, lục dục, phân lực này chính là ma lực nói trên.
Đừng
ngần ngại trốn tránh các cơ hội đối pháp, bởi lẽ mỗi
lần đối pháp, chúng ta có dịp huấn tập lực lắng nghe,
huấn tập nhiều chừng nào thì lực này sẽ được mạnh
chừng nấy. Dĩ nhiên ma lực của tham, sân, si sẽ yếu
dần cho đến cuối cùng không còn có đủ khả năng để lôi
cuốn chúng ta nữa. Do đó mới nói đời là một lò rèn
vô giá để tôi luyện tâm phàm phu thành tâm Phật. Đi
tìm đạo giác ngộ mà lìa đời là một sự sai lầm rất
lớn.
Bí
quyết dụng công nằm trong câu << Phản văn, văn tự tánh
>>. Phản văn là xoay cái nghe vào trong, vào chơn tâm thanh
tịnh. Văn tự tánh có nghĩa là lắng nghe chơn tâm, tức
là giữ cho tâm mình yên lặng. Sau khi tâm được yên
tịnh rồi thì dù có nghe trở lại âm thanh bên ngoài, mình
vẫn được bình thản, không còn cảm thọ.
Đối
với những vị mới tu tập, muốn thành tựu pháp lắng nghe
nội tâm cũng thật là khó khăn. Vì thế chúng tôi xin
đề nghị một phương pháp lắng nghe như sau: Mỗi buổi tối,
khi trong nhà được yên tĩnh, chúng ta có thể nằm hoặc ngồi
để tập lắng nghe nội tâm. Trong bốn uy nghi, ngồi là
tư thế lợi nhứt, vì nó có thể giúp mình dễ dàng theo dõi
tạp niệm có thể xẹt ra trong đầu mà không bị mệt mõi
hay buồn ngủ. Nếu tạp niệm, vọng niệm xẹt ra thì
phải cố gắng tỉnh táo giác cho kịp. Giác niệm đúng
lúc thì niệm liền mất. Nên nhớ rằng nhờ có lắng
nghe nội tâm, chúng ta mới có thể kịp thời giác niệm.
KHÔNG LẮNG NGHE, CHÚNG TA KHÔNG BAO GIỜ GIÁC ĐƯỢC NIỆM.
Đừng
sợ niệm xẹt ra, chỉ sợ chúng ta lơ là mà giác không kịp.
Vọng niệm, tạp niệm càng xẹt ra nhiêu chừng nào thì chúng
sẽ được chuyển hóa càng sớm chừng nấy.
Đối
với bất cứ loại âm thanh nào, dù là một bản nhạc tango
êm dịu, hay một bản nhạc rốc kích động, chúng ta phải
tập lắng nghe, tự tại, vô sở thọ, không duyên theo chúng,
nghĩa là không tỏ ra vui buồn, khen chê, thích không thích không
thích.
Pháp
môn NGHE NHƯ KHÔNG NGHE MÀ LẠI NGHE NHƯ THẬT thuộc Phật thừa,
vốn chủ trương nghe rốt ráo, đầy đủ cả âm thanh, không
phân biệt chơn vọng, thanh thô.
Người
đời khi đau khổ thường than thở đủ điều. Chư Phật
và Bồ Tát đều nghe hết nhưng như không nghe, vì các Ngài
không khởi tâm đau khổ, cảm xúc theo, mà lại nghe như thật,
vì các Ngài thấu rõ nhân duyên, nhân quả, hoàn cảnh, ảnh
hưởng hay hậu quả của âm thanh, từ đó các Ngài mới tùy
thuận sử dụng các phương tiện khéo léo nhằm cứu độ
các chúng sanh đau khổ.
Khi
nhĩ căn đã viên thông rồi, được mở gút rồi thì 5 căn
còn lại sẽ được viên thông theo. Tánh biết lúc đó
không còn bị các căn chi phối nữa, mà chỉ thời nhờ chúng
để hiện bày. Tánh biết là chủ, các căn là tớ.
Các căn sẽ dung thông nhau, 1 căn là 6 căn, 6 căn là 1 căn.
II.
PHÁP CHIẾU KIẾN TRONG TÂM KINH BÁT NHÃ.
Tâm
kinh Bát Nhã khởi đầu bằng một định lý như định lý
hình học, toán học. Đó là định lý thoát khỏi khổ
ách, nằm trong câu sau đây:
" QUÁN
TỰ BỒ TÁT HÀNH THÂM BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA THỜI, CHIẾU KIẾN
NGŨ UẨN GIAI KHÔNG, ĐỘ NHỨT THIẾT KHỔ ÁCH ".
Tạm
dịch:
" Khi
Bồ Tát Quán Tự tại thực hành sâu rộng Bát Nhã Ba la mật
đa (liền) soi thấy 5 uẩn đều không, (nhờ thế nên) vượt
qua mọi khổ ách ".
Theo
Phật giáo, việc đặt danh hiệu các vị Bồ Tát thường dựa
theo các pháp môn hay công hạnh mà các Ngài đã chuyên tu và
chứng đắc. Sở dĩ ở đây vị Bồ Tát này được gọi
là Bồ Tát Quan Tự Tại là vì nhờ hành pháp quán 5 uẩn đều
không nên tâm Ngài được tự tại. Bồ Tát Quán Tự
Tại còn được tôn xưng dưới nhiều danh hiệu khác nữa,
nào là Bồ Tát Quán Thế Âm, Bồ Tát Bất Nhị, Bồ Tát Bát
Nhã.
1.
Bát
Nhã và tánh KHÔNG.
Lý
Bát Nhã là nguyên lý tuyệt đối, bật hết mâu thuẫn mặc
dù trong đó có những thành phần mới thoáng qua, đường như
có tánh cách mâu thuẫn đối kháng nhau. Lý Bát Nhã còn
được gọi là lý sắc không vì nó bao gồm một cách hài
hòa, nói khác đi, vì nó viên dung cả sắc Không, cả tướng
lẫn tánh.
Chữ
KHÔNG ở đây, ngụ ý Chơn tâm hằng hữu còn sắc là tâm
còn mê vọng, là "vọng tâm". Vọng và chơn tuy hai mà
là một, giống như sóng và nước vậy. Nước không lìa
sóng, cũng như chơn không lìa vọng. Sóng yên trở thành
nước, cũng vậy vọng hết liền trở thành chơn.
Nhà
Phật còn gọi cái KHÔNG này là CHƠN KHÔNG, vì nó đã có từ
vô thỉ, trước khi có vũ trụ và con người, vì nó có tánh
cách thường hằng, không biến đổi trong không gian vô tận
và trong thời gian vô cùng.
Có
nhiều người hiểu lầm chữ KHÔNG, cho là không Cố định,
trong khi đó Tâm kinh đã định nghĩa rõ ràng chữ KHÔNG như
sau: tướng KHÔNG hay tánh của vạn pháp là không sanh, không
diệt, không dơ, không sạch, không thêm, không bớt, tức là
không có đối đải gì cả, không có ngã (được hình dung
bằng thân ngũ uẩn với 6 căn, 6 trần, 18 giới) và cũng không
có pháp nào cả, dù là các pháp xuất thế, giải thoát như
pháp Tứ Đế, pháp 12 Nhân Duyên, pháp Lục Độ.
Tuy
là Chơn Không nhưng cũng Diệu hữu vì nó có khả năng sanh
sanh, hoá hoá ra muôn loài, muôn vật.
Vạn
pháp duy tâm tạo, tâm ở đây là Chơn tâm, Chơn Không.
Sở dĩ tâm tạo ra vạn pháp là vì tâm có đặc tánh năng
sanh như đã nói ở trên. Tâm cũng còn có những đặc
tánh khác như Thường Hằng, Chiếu Soi và Thanh Tịnh.
Đặc tánh Chiếu Soi là Trí Huệ Bát Nhã, là Chơn Giác, Chơn
Trí, vượt lên trên các cặp đối đãi, mâu thuẫn của cảnh
giới nhị nguyên. Hành thâm Bát Nhã Ba la Mật đa có nghĩa
là lúc nào cũng sử dụng Chơn TRí, Chơn Giác để không còn
làm chấp ngã và pháp, như thế mới có thể đến bờ giác
bên kia. Sử dụng chơn trí để chiếu soi vạn pháp bằng
cách giữ tâm không trụ, không chấp. Tâm không trụ,
không chấp còn được gọi là tâm không.
Người
đời cũng như hàng Nhị Thừa vì hiểu sai hai chữ Tâm KHÔNG
cho đó là tâm rỗng không, không suy nghĩ, không tính toán,
không vọng niệm, không chơn niệm nên đã rơi vào trạng thái
KHÔNG, ngu đần mà nhà Phật gọi là ngoan không (ngoan có nghĩa
là ngu si, mê muội).
Nhờ
có tâm không trụ nên người tu trí huệ Bát nhã mới có thể
tỏ thấu được thực tướng, tướng hằng hữu của vạn
pháp, mới có thể thấy biết tất cả sự vật trên đời
đều như thật, đúng theo tướng đồng nhứt còn gọi là
tướng Chơn Như, tướng như thật. Tất cả chúng sanh
tuy tướng trạng bề ngoài có vô cùng sai khác nhưng đồng
một tướng Chơn Như.
Thấy
biết như thật hay thấy biết Trung Đạo là nhìn thấy ba mặt
TƯỚNG, THỂ, DỤNG của một vấn đề, của một sự vật.
Mặt ngoài, là mặt huyễn tướng, giả tướng mặt trong là
mặt thực tướng, là mặt của thể tánh và mặt hữu dụng
vô cùng thiết yếu cho đời sống vật chất và tinh thần
của muôn loài trên thế gian.
Người
tu trí huệ Bát Nhã lúc nào cũng tích cực hành động trong
tinh thần KHÔNG, VÔ TƯỚNG, VÔ TÁC. Không là tâm không,
tâm không chấp, không trụ theo nghĩa tổng quát, Vô Tướng
là tâm không chấp tướng, VÔ TÁC là tâm không chấp kết
quả việc làm.
2.
NGŨ UẨN GIAI KHÔNG.
Ngũ
uẩn hay ngũ ấm có nghĩa là 5 nhóm, 5 chúng ẩn tàng hay được
che lấp trong xác thân con người hay loài vật. Thân ngũ
uẩn chính là thân này do 5 chúng tạm thời kết hợp mà thành.
Vì thế mới có danh từ Chúng sanh để nói lên tính cách giả
hợp của 5 uẩn làm thành thân và tâm của 4 loài chúng sanh
(thai sanh, noãn sanh, thấp sanh là sanh ở chỗ ẩm ướt như
côn trùng, hóa sanh như các loài bướm).
Ngũ
uẩn gồm có: Sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành
uẩn, thức uẩn.
Sắc
uẩn thuộc thành phần vật chất bao gồm 5 đại, đất nước,
gió, lửa và hư không, làm thành thân người. Còn 4 uẩn
kia thuộc tinh thần được gọi chung là danh vốn bao gồm 2
đại còn lại của thất đại là kiến đại và thức đại,
tức là 2 khả năng thấy và biết của con người.
Vì
thế, hai chữ danh, sắc được dùng ghép để chỉ ngủ uẩn
hay thất đại.
a)
Do đâu mà có ngủ uẩn, có thân này ?
Nhà
Phật gọi thân này là thân ngủ uẩn vì nó gồm đầy đủ
hai phần: vật chất là thân, là sắc, là sắc thân và
tinh thần là tâm, là danh.
Nếu
biết được nguyên nhân sanh ra thân ngũ uẩn thì chúng ta có
thể tìm cách dứt trừ nó. Dứt trừ được thì chúng
ta sẽ thoát khỏi sanh tử luân hồi.
Trong
kinh Thủ Lăng Nghiêm, đức Phật đã từng dạy rằng nguồn
gốc nguyên nhân của ngủ uẩn là vọng tưởng, là vọng tâm.
Vì
chúng ta lầm chấp từ vô lượng kiếp xác thân này là TA
thật, vì vọng tưởng kiên cố như thế nên mới sanh ra Sắc
uẩn.
Các
thứ cảm thọ của lục căn làm cho chúng ta thấy, nghe, hay,
biết không thật, đó là một thứ vọng thưởng u tối của
thọ uẩn.
Tư
tưởng của con người tuy có khả năng trùm khắp không gian
và thời gian, tuy có thể sanh khởi bất cứ lúc nào, lúc ngủ
cũng như lúc thức, nhưng nó vẫn là vọng tưởng vì nó còn
mang lấy cái tôi, còn chấp ngã. Đó là tưởng uẩn.
Ngoài
ra tư tưởng còn thiên diễn không ngừng, luôn sanh diệt, luôn
âm thầm tìm cách hiện hành bằng lời nói và việc làm.
Đó là hành uẩn.
Cuối
cùng tư tưởng tuy là huyễn nhưng nó có khả năng bám sâu
gốc rễ trong tàng thức của chúng ta khiến chúng ta khó dứt
trừ, khó chuyển hóa chúng. Đó là thức uẩn, do vọng
tưởng vi tế, nhỏ nhiệm tạo thành.
Qua
phân tích trên đây, chúng ta thấy rằng sở dĩ chúng ta mang
lấy thân ngủ uẩn là do vô minh, mẹ đẻ của vô số vọng
tưởng, vọng niệm chấp ngã.
b)
Làm thế nào để dứt ngủ uẩn tức là để thoát khỏi sanh
tử luân hồi ?
Tâm
kinh Bát Nhã dạy phải chiếu kiến ngũ uẩn giai không.
Có thể nói 6 chữ này là bí quyết tu tập để vượt qua
mọi khổ ách do thân ngũ uẩn gây nên và để đi tới bờ
đại giác. 6 chữ này cũng là chía khóa để mở cửa
giải thoát. Không có chìa khóa tức là không soi thấy
5 thứ vọng tưởng này đều là không mà hễ không soi thấy
được như vậy thì không được giải thoát.
Trong
kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật, Đức phật củng đem bí
quyết này ra giảng dạy, nhưng Ngài nói một cách khác như
sau:
" Phàm
Sở hữu tướng giai hư vọng ... Nhược kiến chư tướng phi
tướng tức Như Lai ".
Tạm
dịch:
Phàm
cái gì có sắc tướng đều là hư vọng, không thật... Nếu
soi thấy các sắc tướng chẵng phải tướng (tức là tướng
chơn thật) thì thấy Như Lai.
Thật
vậy, cái gì có hình tướng đều phải chịu quy luật vô
thường chi phối, đều biến đổi theo nguyên lý thành, trụ,
hoại, không. Vì thế kinh mới nói các tướng đều là
hư vọng, Không thật. Người tu Kim Cang Bát Nhã phải
soi thấy cái tướng hằng hữu, chơn thật. vô hình ẩn tàng
bên trong các tướng hữu hình. Cái tướng hằng hữu
vô hình đó là cái thực tướng, cái thể tánh của vạn pháp
vạn vật, còn được gọi là cái Chơn Không vô tướng.
Thiền
Tông do Tổ Bồ Đề Đạt Ma truyền sang đất Trung Hoa vào
đầu thế kỷ thứ 6 sau Tây Lịch cũng chủ trương trực chỉ
nhân tâm, kiến tánh thành Phật nghĩa là chỉ thẳng tâm người,
thấy tánh thành Phật.
Tóm
lại Tâm kinh Bát Nhã, Kim Cang Bát Nhã cũng như Thiền Tông
đều cùng dạy chúng ta 1 bí quyết giải thoát, đó là Soi
thấy cho được thể tánh KHÔNG của ngủ uẩn, thấy cho được
thực tướng của vạn pháp.
c)
Định
nghĩa 3 chữ PHÁP TƯỚNG TÂM.
Tâm
là nguồn gốc sanh ra vạn pháp, là tánh của vạn pháp.
Tánh này là tánh KHÔNG. Khi pháp chưa hiện hành, còn đang
chuyển biến trong tâm thì gọi là PHÁP TƯỚNG TÂM. Một
khi đã chuyển biến xong, pháp xuất hiện ra ngoài, thành pháp
tướng có thể nhìn thấy, sờ mó và hình dung được.
Như thế PHÁP TƯƠNG TÂM là trung gian giữa tâm và pháp tướng,
chính là pháp tướng còn trong giai đoạn chuyển biến
ở nội tâm.
Thân
người là pháp tướng, xuất phát từ tâm chúng sanh, nhưng
phải qua trung gian của sắc uẩn được coi là Pháp tướng
tâm.
d)
LÂN
TRẦN hay một siêu nguyên tử của ngày mai.
Căn
bản của vật chất được khoa học phát minh đến ngày hôm
nay, trước sau vẫn là nguyên tử. Trong nguyên tử có
những vật thể vi tế chỉ có thể thấy được qua kính hiển
vi mà thôi.
Về
mặt khoa học, thân người gồm có vô số tế bào, trong một
tế bào có vô số nguyên tử.
Trong
tương lai, nhân loại sẽ phát minh thêm một số siêu nguyên
tử nữa, nhỏ hơn rất nhiều so với kích thước và khối
lượng của nguyên tử hiện được biết. Trong số các
siêu nguyên tử của ngày mai, cái nhỏ nhứt mà chúng tôi tạm
gọi là lân trần, là một thứ vật thể vô cùng vi tế, có
thể ví như hư không. Do đó hư không mà chúng ta thường
xem như là một bầu trời rỗng không, thật ra là một kho
chứa vô lượng, vô biên, lân trần.
Theo
khoa học, không có gì mất mà cũng không có gì tự lập.
Khi
thân người chết, tất cả vật chất làm thành thân này,
liền trở về hư không, dưới dạn lân trần, vì thế mới
nói không có gì mất.
Thân
này cũng không thể tự lập. Dù cho khoa học có tiến
bộ tột đỉnh đi nữa cũng không tự nó làm ra con người,
bởi lẽ con người là kết qủa của một số nhân duyên,
của tứ đại tụ hợp lại làm thành. Mà tứ đại :
đất, nước, gió, lửa là vật chất, là tổng hợp các lân
trần trong hư không. Cũng vậy, vạn pháp đều do lân
trần kết hợp mà hình thành.
Với
thuyết lân trần được trình bày như trên, chúng ta mới hiểu
vì sao chơn không của nhà Phật lại trở thành Diệu Hữu.
Không có thuyết này, chúng ta không thể nào giải được do
đâu mà có vũ trụ, có tinh tú, có ngân hà, có cả hành tinh
v.v... ? Khi tìm cách giải thích những hiện tượng kỳ
bí ấy, các tôn giáo thương cho rằng tất cả những thứ
lạ lùng, vĩ đại hoặc vi tế ấy đều do một bàn tay của
Đấng Tạo Hóa làm ra. Rồi từ quan niêm ấy, các giáo
chủ mới bày ra những nghi thức tôn thờ lễ bái, cúng kiến
hướng về đấng Tối Cao, chính đấng ấy, cách đây trên
2.500 năm, đức Phật Thích Ca đã đơn thuần tạm gọi là
Chơn Không với dụng đích ám chỉ cái không thể mô tả,
không thể định danh, không thể nghĩ bàn, cái không tăng,
không giảm, không sanh, không diệt, không dơ, không sạch, tức
là cái không chấp, không trụ.
e)
Các
phương thức chiếu kiến ngũ uẩn.
Chiếu
kiến còn được gọi là quán chiếu, là chiếu soi. Có
nhiều phương thức quán chiếu ngũ uẩn. Chúng ta chỉ
cần quán chiếu một uẩn, đó là sắc uẩn, chớ khỏi
cần quán chiếu đầy đủ 5 uẩn. Nếu chúng ta quán thấy
Sắc uẩn là không, thì 4 uẩn kia còn lại đương nhiên cũng
là không.
Chúng
ta cũng có thể quán trực tiếp thân ngủ uẩn vì thân tướng
hữu hình là pháp tướng, còn ngũ uẩn là pháp tướng tâm.
Cuối
cùng, chúng ta cũng có thể chiếu soi vọng tâm của chúng ta,
vì vọng tâm là danh từ tổng hợp dùng để gọi các uẩn
: thọ, tưởng, hành, thức.
Từ
một câu chiếu kiến ngũ uẩn giai không, chúng ta tìm ra được
ba phương thức quán chiếu đó là quán chiếu sắc uẩn, quán
chiếu thân, quán chiếu tâm.
* e1.
PHƯƠNG
THỨC QUÁN CHIẾU SẮC UẨN.
Nguồn
gốc sanh ra sắc uẩn là vọng tưởng kiên cố. Như trước
đã nói, sắc uẩn là pháp tướng tâm còn trong giai đoạn
chuyển biến ở nội tâm, chưa hiện ra để trở thành pháp
tướng tức là thân người. Nhưng pháp tướng tâm, trong
khi chuyển biến lại tạo thành những làn sóng tư tưởng
với những tần số riêng biệt. Chính các làn sóng này
quy tụ các lân trần trong vũ trụ để cấu tạo vật chất,
cấu tạo tứ đại. Do ở chỗ vật chất được cấu
tạo từ lân trần, mà lân trần lại nằm trong hư không nên
vật chất hay tứ đại lúc nào cũng nằm trong hư không.
Vì thế tứ đại phải gắn liền với hư không. Đó
là lý do vì sao trong cơ thể con người lại có những chỗ
trống ấy thì làm sao chúng ta có thể cử động, phát triển
và tồn tại ?
Trong
buổi sơ khai, chưa có vật chất, vũ trụ và con gnười cũng
như chưa có các loài chúng sanh khác, chỉ có cái chơn không
mà thôi. Chơn không viên dung hai thế lực động và tĩnh,
vọng và chơn. Hai thế lực này ở thế cân bằng nên
tuy thấy hai nhưng mà như một. Do đặc tánh năng hóa
của chơn không nên hai thế lực ấy tạm thời mất sự cân
bằng. Thế lực động liền phát khởi, chuyển biến
các lân trần thành một thứ đại đầu tiên gọi là GIÓ
đại.
Gíó
thổi không ngừng, càng nhiều và càng mạnh, vì thế lân trần
tụ hợp lại càng đầy, càng kiên cố nên làm thành ĐẤT
đại, trong đó có cả loại kim khí.
Gió
thổi kim khí làm cho chúng cọ xát nhau mãi nên sanh ra LỬA
đại và vì có lửa nên kim khí chảy sanh ra NƯỚC đại.
Từ khi có tứ đại mới sanh ra côn, đảo, biển, núi non,
cây cối và các loài chúng sanh.
Qua
sự trình bày trên đây, chúng ta thấy thế lực động được
phát khởi từ tánh năng sanh của Chơn Không hay của Chơn Như.
Mà động tức là vọng, vì thế nhà Phật mới bảo do vọng
tâm mới sanh ra tứ đại. Tâm chúng sanh lại gồm có
2 phần vọng và chơn, chính là 2 thế lực động tịnh nằm
trong Chơn Không ở buổi sơ khai vậy.
Nếu
vọng tâm là một thế lực của Chơn Như Tâm, thế lực ấy
lại sanh ra tứ đại, sắc uẩn, ngược lại sắc uẩn tức
là con đẻ của Chơn Như Tâm, nói khác đi sắc uẩn tức là
Chơn Như Tâm, tức là Chơn Không. Do vậy SẮC TỨC LÀ
KHÔNG, 4 uẩn còn lại cũng tức là Không.
Chúng
ta cũng có thể quán chiếu trực tiếp Sắc tức là không,
không qua trung gian của Tứ đại.
Như
đã nói, Không, Chơn Không, Chơn Như, Chơn Như Tâm có đặc
tánh năng sinh, năng hóa. Đó là ý nghĩa của câu "Vạn pháp
duy tâm tạo". Nhưng trước khi hình thành vạn pháp còn
gọi là pháp tướng, các tư tưởng phải trải qua một giai
đoạn chuyển biến trong nội tâm với sự xuất hiện của
các pháp tướng tâm, sắc uẩn tức là pháp tướng tâm.
Chơn
Như vô hình, vô tướng, sắc uẩn cũng vô hình, vô tướng.
Sắc uẩn chính là một loại vọng tâm kiên cố. Mà vọng
tâm, chơn tâm, trên căn bản chỉ là một tâm mà thôi, giống
như sóng và nước. Vì thế, chúng ta có thể kết luận
Sắc tức là không.
* e2.
PHƯƠNG
PHÁP QUÁN CHIẾU THÂN NGŨ UẨN.
Như
đã nói, tứ đại hay sắc làm thành thân người.
Mà
thân thể chúng ta được hình thành vì nuôi dưỡng bằng vật
chất do đó thân thể gồm có vô lượng, vô biên tế bào.
Trong mổi tế bào còn có vô lượng, vô biên nguyên tử.
Khi
thân này chết, thịt xương lần hồi tan rã, các tế bào và
các nguyên tử cũng phải biến theo. Chúng trở về với
là cái kho tàng vĩ đại chứa đựng vô lượng, vô biên nguyên
tử, siêu nguyên tử còn gọi là lân trần.
Vì
thế thân ngũ rốt ráo chỉ là một tổng hợp của lân trần,
mà lân trần là một loại siêu nguyên tử của ngày mai, kích
thước và khối lượng không thể thấy được bằng mắt
thường, chỉ có thể thấy qua kính hiển vi siêu điện tử.
Lân trần do đó có thể ví như hư không.
Để
kết luận, thân ngũ uẩn sau một quá trình tan biến sẽ trở
thành hư không. Mà hư không lại là biểu tượng của
Chơn Như. Tóm lại, tuy thân tướng con người có hình,
có dạng nhưng bên trong luôn luôn có cái thể tánh Chơn Như
Xuyên qua tướng mà thấy được tánh như thế mới gọi là
chiếu kiến ngũ uẩn giai không. Với trí Bát Nhã, với
tâm không, không trụ, không chấp tướng, chúng ta mới có
thể thấy tánh, nói khác đi, KHÔNG, VÔ TƯỚNG là 2 đều kiện
cốt yếu có thể giúp chúng ta thấy Tánh, thoát khỏi sanh
tử, luân hồi, không còn bị bắt buộc phải mang lấy xác
thân nặng nề trong tương lai.
e3.
PHƯƠNG
PHÁP QUÁN TÂM.
Vì
tâm thuộc về tinh thần nên bao gồm 4 uẩn còn lại, đó là
thọ, tưởng, hành, thức. Quán chiếu tâm tức là quán
chiếu, chiếu soi 4 uẩn này.
4 uẩn
này là 4 vọng tưởng có sức tác hại lớn lao nhứt đối
với sự an vui và hạnh phúc của con người. Chúng ta
thành ma, quỉ, thánh, thần hay Tiên, Phật cũng đều do chúng.
" Trồng
bông kiểng, giống chi hưởng nấy.
Địa
ngục cũng tại tâm làm quấy,
Về
Thiên đàng, tâm ấy tạo ra.
Cái
chữ tâm là quỉ hay ma,
Tiên
hay Phật cũng là tại nó.
Vì
thế, người tu pháp chiếu soi cần phải hết sức thận trọng,
luôn tỉnh táo mới có thể kịp thời đối phó, chống trả
các ma lực của chúng.
Định
lý chiếu kiến ngũ uẩn giai không trong Tâm kinh Bát nhã là
do Bồ Tát Quán Tự tại hay Quán Thế Âm mà ra. Khi đưa
ra định lý này, Ngài đã xác định giá trị tuyệt đối
của nó. Nay trong chương trình tu học Bát Nhã, chúng ta
chỉ cần hiểu vì sao 5 uẩn đều là Không, đều là Chân
Như, nói khác đi, chúng ta chỉ cần tỏ thấu định lý "vọng
tâm, vọng niệm chính là chơn tâm, chơn niệm, vọng tức là
chơn, chơn tức là vọng".
Định
lý này chính là nguyên lý nhứt như hay bất nhị không hơn
không kém.
Chúng
ta đã rõ sắc uẩn là không, nếu suy diễn rộng ra, 4 uẩn
còn lại, tức là tâm, đương nhiên cũng là không.
Sở
dĩ chúng ta quán thêm phần tâm là vì chúng ta muốn phát huy
pháp chiếu soi bằng cách triệt để áp dụng định lý của
Bồ Tát Quán Thế Âm trong khi đối pháp, đối cảnh.
Chúng
ta nên nhớ rằng thân này cũng như sự vật và ngoại cảnh,
tức là ngã và pháp, tự chúng không gây tác hại nào cả.
Chúng là những phương tiện để chúng ta sử dụng trong cuộc
sống vật chất và tinh thần của chúng ta.
Vì
thế mới nói chúng có cái tướng dụng riêng. Nếu trong khi
đối pháp, chúng ta biết khai thác cái tướng dụng của chúng,
chúng ta sẽ làm cho đời càng thêm tươi đẹp. Nếu chúng
ta không biết thì chúng là chúng, ngã và pháp vẫn là ngã
và pháp, không có một chút liên hệ gì đến sự an vui và
hạnh phúc của chúng ta.
Tứ
tổ Đạo Tín có lần giải đáp như sau cho một đệ tử chân
truyền lá Pháp Dung : "Cảnh vật không có tốt hay xấu, tốt
xấu tại nơi tâm. Tâm chẳng khởi, thất tình làm sao
có ? Thất tình không khởi thì chơn tâm tha hồ hiện
bày ! "
Lời
nói của Tứ Tổ xác đáng làm sao ! Ngã và pháp là những
gì đã hình thành từ vô lượng kiếp về trước, đã được
cu sinh, nghĩa là sinh ra một lượt với con người, do đó chúng
ta hãy để yên ngã và pháp, bằng cách đừng chấp, đừng
Ôm ngã và pháp, thì tự nhiên chúng ta sẽ được an vui và
hạnh phúc.
Mà
muốn không chấp, không trụ ngã và pháp, tức là không chấp,
không trụ các thứ vọng tâm, vọng niệm, chúng ta hãy áp
dụng nguyên lý nhứt như theo đó thì vọng và chơn đều là
một.
Chúng
ta nên nhớ rằng, Chơn Như tuy bất biến mà tùy duyên, tuy
tịnh mà động. Tịnh là thể, động là dụng. Do
đó tất cả vọng tâm, vọng niệm, ngã và pháp đều là cái
dụng của Chơn Như, đều là Phật pháp, mà Phật pháp chính
là pháp giải thoát. Mặc dù cái dụng của ngã và pháp
là cái dụng thô trược, nhưng nó sẽ thúc đẩy chúng sanh
với thời gian đạt đến chỗ giác ngộ, giải thoát giống
như bùn lầy sẽ thúc đẩy hoa sen trổ bông thơm ngát.
Tu
bát Nhã, chiếu soi ngã pháp, chúng to hãy theo gương của chư
Phật và Bồ Tát chỉ thấy có tánh năng sanh trong bất cứ
việc gì, từ những tư tưởng chấp ngã cho đến lời nói
và hành động của mình và của người, chớ đừng để ý
đến hiện tượng, bởi lẽ hiện tượng chỉ là những vật
ảo hóa do tánh năng sanh biếc hiện ra mà thôi.
" Chiếu
soi ! Chiếu soi ! soi cho rõ.
Trăm
ngàn niệm, niệm khởi trong lòng.
Niệm
niệm chẳng khác nào niệm không,
Bát
Nhã ! Bát Nhã ! bừng sáng tỏ. "
Niệm
không trong bài kệ đây có nghĩa là niệm chơn, là chơn niệm,
còn niệm niệm là vọng niệm. Nếu chúng ta đã thấm
nhuần nguyên lý vọng chẳng khác nào chơn thì liền đó Bát
Nhã bừng sáng tỏ.
Mỗi
khi đối pháp, đối cảnh mà thấy thất tình, lục dục khởi
nơi lòng, chúng ta hãy nhớ ngay lúc đó chúng là cái dụng
của Chơn Như, củng là những hiện tượng do tánh năng sanh
biến hiện.
Biết
được như vậy, chúng ta sẽ không còn làm nô lệ cho ngã
pháp, chúng ta sẽ được an nhiên, tự tại, sẽ được hưởng
một thứ hạnh phúc tuyệt vời mà nhà Phật gọi là Đại
Bát Niết Bàn thường, lạc, ngã, tịnh.
Đừng
bao giờ nghỉ vọng niệm khác với chơn niệm, nghỉ như thế
tức là nghỉ theo lối nhị nguyên. Chúng ta hãy quán tưởng
cho thật nhuần nhuyễn nguyên lý nhứt như, hãy thâm nhập
nguyên lý để không còn phân biệt vọng chơn, thiện ác v.v...
Nhờ thâm nhập như thế, chúng ta sẽ soi thấy được cái
dụng của mọi vọng tưởng, vọng tâm chấp ngã, chấp pháp,
từ đó chúng ta mới thấu triệt được đặc tánh năng sanh
của bản thể chơn như của các hiện tượng đang diễn biến
trước mắt chúng ta hằng giờ, hằng phút.
Tóm
lại câu ngủ uẩn giai không sắc tức là không, không tức
là sắc đồng nghĩa với câu vọng tức là chơn, chơn tức
là vọng, bởi lẽ sắc cũng như ngũ uẩn đều do vọng tưởng
sanh ra nên chúng là vọng, còn không là chơn không, là chơn.
Vì
quen soi rọi các tư tưởng của mình nên lúc nào chúng ta cũng
tỉnh táo, bén nhạy để kịp thời biết các vọng niệm đang
xẹt ra trong đầu. Khi đối pháp mà thấy tâm mình động
thì liền biết một vọng tình sắp phát sanh. Biết kịp
như thế tức là mình đã làm chủ được nó rồi. Mà
làm chủ được nó thì đương nhiên mình đã chuyển hóa được
nó.
Trong
tất cả pháp môn tu tập của Bồ Tát chỉ có pháp chiếu
soi là pháp môn đem lại hiệu quả nhanh nhứt vì nó vốn bao
gồm cả Định lẫn Huệ. Từ lâu rồi, đa số các Phật
tử vì lầm chấp Định Huệ là hai pháp riêng biệt, họ cho
rằng định có trước ; Huệ mới có sau, nên đã quên mất
đi cái diệu thể đồng nhứt nằm trong 2 pháp, bởi lẻ nơi
Định có Huệ, nơi Huệ có Định. Đinh Huệ tuy nói hai
nhưng thật ra chỉ là một.
Gọi
là Huệ vì thấy được 3 mặt Tướng, Thể, Dụng của một
vấn đề, thấy được như thế là thấy đúng như thật mà
văn chương Phật giáo gọi là NHƯ THỊ.
Còn
gọi là Định vì trước mọi cảnh vật bên ngoài, vẫn được
bình thân, không dao động, không bị lôi cuốn, không bị nhiễm
ô.
Pháp
chiếu soi rất phù hợp với người đời nay vì hết sức
đơn giản, trong khi các loại Thiền khác rất phức tạp.
Bất cứ giờ phút nào, chúng ta cũng có thể thực hành được,
không cần phải có sẵn nơi thanh tịnh hay phải có đủ phương
tiện cần thiết.
Viên
bi đang lăn trên mặt bằng tượng trưng cho 2 pháp Định và
Huệ, bởi lẽ nó không bị cát bụi bám vào, đó là Định.
Mặt ngoài của viên bi càng lăn càng thêm bóng láng, sáng sủa
nhờ cọ xát, đó là Huệ.
Pháp
Chiếu soi chính là pháp hành thâm Bát nhã. Gíá trị của
nó có tánh cách muôn đời và vô cùng lớn lao. Nếu được
hành trì liên tục, nó có thể giúp mọi người một mạch
đi đến quả vị giác ngộ.
III.
PHÁP PHỔ MÔN TRONG KINH PHÁP HOA
Pháp
này nằm trong Phẩm 25 của bộ kinh Diệu Pháp Liên Hoa, được
đức Phật giảng dạy trong giai đoạn chót của cuộc đời
Ngài.
Dưới
đây là phần tóm lược những gì có liên quan đến pháp này.
1.
TÓM
LƯỢC.
Lúc
bấy giờ, Bồ Tát Vô Tận Ý Bạch Phật ! Thế Tôn ! Do nhân
duyên nào mà Bồ Tát Quán Thế Âm có danh hiệu là Quán Thế
Âm ?
Phật
bảo : “ Chúng sanh nào đang đau khổ mà một lòng xưng niệm
danh hiệu của Bồ Tát thì Bồ Tát biết ngay và chúng sanh
ấy liền thoát khỏi đau, liền được giải thoát ”.
Người
nào trì niệm danh hiệu của Bồ Tát Quán Thế Âm thì :
•
Vào lửa, lửa chẳng cháy.
•
Bị nước cuốn trôi thì liền đến chổ cạn,
•
Đi thuyền giữa đại dương tìm châu báu mà tấp vào nước
của quỉ La Sát thì dược thoát nạn La Sát.
•
Sắp bị người đánh chém, thì dao gậy liền gãy.
•
Không bị quỉ Dạ Xoa, La Sát, Cưu Bàn Trà, Tỳ Xá Xà, Phú
đơn Na ám Hại.
•
Bị xiềng xích, gông cùm thì xiềng gông tan rã.
•
Đi lạc vào nơi hiểm trở, gặp giặc cướp thì liền thoát
khỏi và không sợ sệt.
•
Nếu chúng sanh nào còn nhiều ái dục, giận hờn, ngu si mà
niệm hồng danh Quán Thế Âm thì sẽ hết dục, hết giận
hờn và ngu si.
Người
nữ nào lễ bái, cúng dường để cầu con trai thì được
con trai đầy đủ phước huệ. Cầu con gái thì được
con gái xinh đẹp, hiền lành, được nhiều người mến yêu.
Lễ
bái, cúng dường Bồ Tát Quán Thế Âm được phước đức
nhiều như phước đức của người trì niệm danh hiệu và
cúng dường 62 ức hằng Sa Bồ Tát.
Bố
Tát Vô Tận Ý Bạch Phật : “ Thế Tôn ! Bồ Tát Quán Thế
Âm làm cách nào đi dạo khắp cõi Ta Bà ? Sức phương
tiện của Bồ Tát về việc này như thế nào ? ”
Phật
bảo : “ Nếu cần 1 thân Phật để độ thoát 1 chúng sanh
nào đó thì Bồ Tát Quán thế Âm liền niệm hìện thân Phật
để nói pháp. Nếu đáng dùng thân của Duyên Giác, Thinh
Văn, Phạm Vương, Đế Thích, Tự Tại Thiên, Đại Tự Tại
Thiên, Thiên Đại Tướng Quân, Tỳ Sa Môn, Tiểu Vương, Trường
Giả, của cư sĩ, của tể quan, của Ba là môn, thân con trai,
con gái, thậm chí đến thân của Bát Bộ chúng để độ chúng
sanh ở nước nào đó, thì Bồ Tát Quán Thế Âm tùy thuận
mà hiện thân. Này Vô Tận Ý ! Công đức của Bồ
Tát Quán Thế Âm to lớn như thế các ông phải một lòng cúng
dường. Bồ Tát vốn được cõi Ta Bà tôn vinh là bậc
bố thí Vô Uý ”.
Đáp
câu hỏi của Bồ Tát Vô Tân Ý về danh hiệu của Bồ Tát
Quán Thế Âm Phật nói bài kệ đại ý như sau :
“
Ông đã biết công danh của Quán thế Âm, đó là vì Quán Thế
Âm đã phát thệ sâu rộng, khó nghĩ bàn, nhằm hầu hạ vô
lượng đức Phật để đạt sự thanh tịnh tuyệt đối ”.
Những
người luôn tưởng nhớ Bồ Tát Quán Thế Âm thì thoát khỏi
mọi nạn tai. Bồ Tát Quan Thế Âm hiện thân cùng khắp,
nhằm dứt trừ 4 thứ khổ và 3 đường dữ cho cúng sanh.
Hãy thường xuyên chiêm ngưỡng Bồ Tát bằng cách áp dụng
thứ quán sau đây:
Chơn quán
Thanh tịnh quán
Trí huệ quán
Từ Bi quán
Quán
Thế Âm là ánh sáng thanh tịnh, là mặt trời Huệ, soi sáng
các chỗ tối tăm, hàng phục nạn tai khói lửa, là tâm đại
bi rưới mưa pháp cam lồ, dứt trừ phiền não, xua đuổi hận
thù nơi pháp đình cũng như nơi trận địa.
Bồ
Tát Quán Thế Âm là Diệu Âm, Phạm Âm, Hải triều Âm Vi diệu
hơn tất cả các tiếng thế gian. hãy thường xuyên trì
niệm và lễ bái.
Phần
TÓM LƯỢC trên đây được trích dẫn trong quyển PHÁP HOA
TÂM ẤN do chúng tôi biên soạn năm 1990.
Việc
trước tiên mà chúng ta có thể tự hỏi là vì sao Phẩm Phổ
Môn được đức Phật giảng trong kinh Pháp Hoa, Tại sao Ngài
không giảng trong các kinh khác như Thủ Lăng Nghiêm, Viên Giác
?
Kinh
Pháp Hoa Được Ngài nói không bao lâu trước khi Ngài tịch
diệt. Từ lúc mới bắt đầu hoằng pháp cho đến giờ
phút nhập diệt, Ngài đã dẫn dắt các đệ tử qua nhiều
đoạn chứng ngộ, từ thấp đến cao.
Qua
Pháp Tứ Đế, các đệ cử đã tỏ ngộ đời là bể khổ,
cần phải sớm nhàm chán để lo tu các pháp giải thoát.
Đó là giai đoạn chứng khổ đầu tiên.
Thời
gian trôi qua, các môn đồ của Ngài đã thấm nhuần pháp Tứ
Đế, cảm thấy quả thật mình đã nhàm chán cuộc đời,
không còn luyến tiếc những gì mình đã ôm ấp trước kia.
Để giúp cho họ thật sự buông bỏ mọi thứ có ở trên
đời, Phật bèn giảng dạy các pháp trong kinh Thủ Lăng Nghiêm,
kinh Viên Giác... theo đó chỉ vạn pháp thế gian này đều
là huyễn hóa, người tu biết huyễn liền phải lìa ngay.
Giai đoạn 2 này là giai đoạn ngộ được tánh chất huyễn
hóa của cuộc đời để từ đó thật sự dứt trừ tâm chấp
ngã, chấp pháp.
Nhưng
đức Phật chưa ngừng tại đây. Tiến lên một tầng
nữa. Ngài liền đem chơn lý "vạn pháp đều không" ra
giảng dạy cho các cao đồ. Giai đoạn 3 này là giai đoạn
dài nhứt nói về lý Bát nhã, chiếm trọn 22 năm trời hoằng
pháp của Ngài. Sở dĩ Ngài kéo dài thời gian nói pháp
KHÔNG là vì pháp này vốn là pháp căn bản tối yếu của
người tu Phật. Chẳng liểu ngộ lý KHÔNG thì làm sao
hòa nhập được bản thể Chơn Không Diệu Hữu ? Phật
dạy Bát Nhã suốt 22 năm chỉ nhằm mục đích giúp các đệ
tử có đủ thời gian tu tập để thấm nhuần cái tâm không
chấp, không trụ nhưng lại có thể dung nhiếp vạn pháp, vạn
vật để rồi hoàn tất lộ trình tu Huệ đi từ Sắc trở
về Không.
Cuối
cùng khi thấy có một số đệ tử đã hòa nhập được bản
thể chung cùng, đức Phật mới giảng các bộ kinh Viên Giác
như Pháp Hoa, Duy Ma Cật, cốt để thúc giục các vị này sớm
phát đại hạnh nguyện, lăn lộn trở lại thế gian để xây
dựng, củng cố và hoàn mãn công đức độ sanh, đồng thời
để thành tựu và trang nghiêm quốc độ thanh tịnh của mình.
Đó là lộ trình thứ hai tu Phước, ngược với lộ trình
đầu, còn gọi là lộ trình đi từ Không trở về Sắc.
Trong
lộ trình này, các Bồ Tát sẽ sắp vào hạng ưu tiên 1, tất
cả những gì phải làm để cứu độ chúng sanh, khai thị
ngộ nhập cho họ nhằm giúp họ thoát khỏi căn nhà lửa của
3 cõi.
Chính
trong thời kỳ cuối này, Phật mới nói pháp Phỗ Môn của
Bồ Tát Quán Thế Âm vốn được chúng sanh vinh tặng danh hiệu
là Bồ Tát bố thí vô úy.
Hôm
nay, tu tập pháp Phổ Môn, chúng ta cũng ôm ấp một hoài bảo
độ sanh như Bồ Tát, bởi ở thời buổi cuối thế kỷ 20
này, tất cả mọi người đang cấu xé lẫn nhau vì miếng
cơm, manh áo, vì của cải vật chất, do đó đã vô tình tạo
ra không biết bao nhiêu nỗi khỗ đau cho nhân loại, khiến
cho chúng ta mặc dù chưa hoàn tất lộ trình tu Huệ không lẽ
nhắm mắt ngồi yên mà không ra tay cứu vớt ? Tuy không
làm được những công tác xã hội lớn lao như các tổ chức
từ thiện quốc tế, nhưng chúng ta cũng phãi góp công sức,
tiền bạc, để giúp đỡ phần nào những kẻ nghèo đói,
bệnh tật, cô đơn đang chịu tai trời, ách nước. Ngoài
những phần đóng góp bằng vật chất, chúng ta cần đạt
trọng trâm vào công việc giải thích cho các tín hữu đang
chịu khổ hiểu rõ về bộ máy nhân quả, về sự cần thiết
phải làm lành lánh dữ, nhứt là về khả năng thánh Phật
của mỗi người, bởi lẽ ai ai cũng có Phật tâm, cũng có
ngội Tam Bảo nơi lòng.
Đây
là lý do vì sao pháp Phổ Môn được Phật giảng dạy trong
kinh Pháp Hoa trước khi Ngài nhập diệt.
Diệu
Pháp Liên Hoa, cái tên của bộ kinh vĩ đại mà Phật đã để
lại cho chúng ta, cái tên ấy có nghĩa là vạn pháp đang diễn
biến hằng ngày trước mắt chúng ta đều có tánh cách vi
diệu đều là Phật pháp. Vì thế người tu Phật khi
đã nhìn thấy các pháp đều là diệu rồi thì tâm sẽ trở
nên bất nhiễm giống như hoa sen đang tỏa hương thơm ngát
trên vũng bùn lây nước đọng. Với cái tâm bất nhiễm
ấy, người tu sẽ tự tại hành trì pháp Phổ Môn cứu khổ
cứu nạn của Bồ Tát Quán Thế Âm, hành như không hành mà
là hành. Đó là hạnh vô công dụng của Bồ Tát từ
đệ bát Địa trở lên. Ở phần trước, chúng tôi đã
trình bày rằng muốn hòa nhập bản thể Chơn Như, chúng ta
phải đi qua hai cửa ải, đó là cửa KHÔNG và cửa VÔ TƯỚNG.
Nay cửa ải thứ ba đang chờ chúng ta, đó là cửa VÔ TÁC.
Qua
lọt cửa ải này, chúng ta đã hoàn tất lộ trình tu Phước,
đi từ Không trở về Sắc.
Noi
gương của bồ Tát Quán Thế Âm, chúng ta hãy phát đại nguyện
hành trì pháp Phổ Môn của Ngài. Với pháp này, chắc
chắn chúng ta sẽ có ngay hoàn mãn sự nghiệp xây dựng công
đức và phát huy trí huệ.
2.
NGUỒN
GỐC CÁC NỖI KHỔ CỦA CHÚNG SANH.
Người
đời chịu muôn thứ khổ, nào là khổ vì nghèo đói, vì bệnh
mà không có thuốc uống, hoặc tuy được chữa trị mà không
lành, khổ vì tật nguyền, vì gia đình xào xáo, con cái ngỗ
nghịch, khổ vì bị chà đạp, áp bức, tù tội, sợ hãi v.v...
Cảnh
ngộ trên đời tự nó không làm mình khổ, chính tâm mình
vì còn mê vọng nên mới làm mình khổ. Thật vậy, cảnh
ngộ tuy có ngang trái, éo le, khắc nghiệt nhưng nếu tâm mình
giữ được bình thản, an nhiên thì làm gì khổ ? Vì
thế, sau khi truy nguyên, chúng ta mới thấy rằng các nổi khổ
không xuất phát từ sự việc và cảnh vật bên ngoài, trái
lại chúng đều bắt nguồn từ nơi tâm.
Có
những người tuy sống trong cảnh cô đơn, nghèo đói mà vẫn
cãm thấy an, vui, không khổ. Cũng có những tù nhân sống
nhiều năm trong các trại cải tạo, đáng lẽ họ phải buồn
rầu, oán hận, trái lại họ vẫn an phận, bình thản chấp
nhận trả nghiệp.
Riêng
về những kẻ khùng điên, dù họ đang sống trong cảnh vất
vả, đói khát, bệnh tật họ không khi nào cảm thấy khổ
đau. Đó là vì họ không có ý thức để có thể nhận
định đâu là khổ, đâu là vui sướng ? Tuy ngũ căn của
họ vẫn có đầy đủ, nhưng giữa các căn và cảnh vật bên
ngoài, ý thức vốn đóng vai trò trung gian mà nay không còn
hoạt động nữa. Người ta chửi mắng họ, nhưng vì
không biết ý nghĩa của lời chửi mắng, nên họ không phản
ứng giận hờn. Do đó, chúng ta mới thấy rắng thức
đóng vai trò chủ yếu, ý thức là nguồn gốc sinh ra các cảm
giác khổ đau.
Và
điểm này, trong kinh Thủ Lăng nghiêm, đức Phật đã dạy
ông A Nan như sau:
“
Căn trần (tức là ngã pháp) đều phát sinh từ một nguồn
gốc, đó là Chơn Như. Chúng không thể tách rời nhau
giống như hai cánh tay của con người. Chúng sanh vì vô
minh nên phân biệt chúng thành năng và sở, năng là các căn
vốn là chủ sở là trần tức là Khách.”
Phân
biệt căn trần thành hai thứ riêng biệt như thế, đó là
do thói quen vọng chấp. Chư Phật và Bồ Tát giác ngộ
căn trần là đồng thể, là như một, tuy chúng đối đãi
nhau nhưng các Ngài không phân biệt năng sở nên được giải
thoát khởi các sự ràng buộc của chúng.
Căn
trần chính là nơi chúng ta bị cột trói mà cũng là nơi chúng
ta được cởi mở. Nếu chúng ta thuận theo 6 căn, chạy
theo chúng nghĩa là chúng ta để chúng lôi cuốn thì chúng ta
không sẽ cảm thọ liên tục, từ khổ đến sướng từ buồn
đến vui. Tâm của chúng ta không lúc nào mà không loạn
động. Nhưng thật ra căn trần không có lỗi trong việc
cột trói hay cởi mở chúng ta. Kẻ gây tội lỗi chính
vì ý thức vọng chấp, làm trung gian giữa căn trần.
Sở
dĩ chư Phật và Bồ Tát không bị căn trần lôi cuốn là vì
ý thức của các Ngài đã được chuyển hóa thành trí huệ.
Chính nhờ có trí huệ này nên các Ngài mới thấy biết căn
trần là đồng thể. Đó là trí bình đẳng vô phân biệt.
Phàm
phu chúng ta vì chưa chuyển hóa được ý thức phân biệt,
chưa làm chủ được vọng tâm chấp ngã, chấp pháp, chấp
căn trần là nên còn bị các nỗi niềm sướng khổ,
vui buồn chi phối.
3.
NHỚ
TƯỞNG QUÁN THẾ ÂM LÀ PHÁP GIẢI KHỔ VI DIỆU.
Nếu
không tu tập các pháp thích nghi thì người đời khó thoát
khỏi các nỗi khổ đau, phiền não.
Pháp
giải khổ được ví như cái phao mà người rớt xuống biển,
đang chơi vơi giữa dòng nước, phải mau mau nắm lấy.
Pháp giải khổ còn được gọi là Phật pháp, bởi lẽ Phật
pháp gồm có những pháp tu nhằm giải thoát tâm thức mình
khỏi những sợi dây trói buộc vô hình vốn là những nguyên
nhân gây khổ. Nhưng Phật pháp có tới 84.000 pháp môn,
pháp môn nào cũng có công năng giải khổ. Sở dĩ có
nhiều pháp môn là vì căn cơ, trình độ, hoàn cảnh, xử sở
của chúng sanh có nhiều sai biệt. Hơn nữa, chư Phật
và Bồ Tát vì thương xót chúng sanh nên trong sự nghiệp giáo
hóa, các Ngài luôn tùy thuận các sở thích và mong cầu của
họ.
Như
đã nói, ở thời buổi văn minh vật chất, nghiệp chướng
của chúng sanh quá đầy, những nỗi khổ đau ngày càng chồng
chất, nhân loại phải liên lụy khổ chung.
Mỗi
người chúng ta phải sớm tìm cho được pháp giải khổ có
công năng mạnh nhứt, nhanh nhứt, vi diệu nhứt. Qua Phẩm
Phổ Môn, chúng tôi hết sức tin tưởng nơi lời dạy của
đức Phật khi Ngài nói : “ Chúng sanh nào đang đau khổ mà
một lòng xưng niệm danh hiệu của Bồ Tát Quán Thế Âm thì
Bồ Tát biết ngay và chúng sanh ấy liền thoát khỏi khổ đau
”.
Lời
dạy trên đây tuy đơn giản nhưng nó có rất nhiều diệu
nghĩa. Trước tiên, khi xưng danh hiệu của Bồ Tát, chúng
ta phải có tâm chí thành, phải một lòng một dạ chú tâm
vào lời nguyện cầu. Bồ Tát có nơi xa xăm nhưng
có thể nghe lập tức, vì Ngài từ lâu đã thành tựu pháp
tu nhĩ căn viên thông. Khả năng nghe của Ngài, đối với
các tiếng kêu cứu của chúng sanh, lúc nào cũng trùm khắp
10 phương pháp giới. Đừng nghĩ rằng Ngài không nghe
được những lời nguyện cầu của chúng ta, chỉ sợ một
nỗ là chúng ta có thành tâm hay không, khi niệm hồng danh của
Ngài, nghĩa là chúng ta có thật tâm cảm niệm đến Ngài hay
không ?
Cảm
niệm càng mãnh liệt bao nhiêu thì sự đáp ứng càng nhanh
bấy nhiêu. Đó là luật cảm ứng trong nhà Phật.
Cảm
là nhân, là nguyên động lực, ứng là quả là động lực
đáp lại. Như nói cảm điều lành thì phước ứng, còn
cảm điều ác thì họa ứng. Quy luật cảm ứng còn gọi
là quy luật nhân quả.
Chúng
ta thành tâm, một lòng cảm niệm Quán thế Âm thì Ngài sẽ
tùy theo lời nguyện cầu của mình mà ứng hiện hộ trì.
Mổi ngày thường xuyên cảm niệm, nghĩ tưởng đến ngài,
chúng ta sẽ tạo được một niệm lực ngày càng mạnh, nhờ
đó chúng ta mới có thể bắt đầu liên lạc với Ngài.
Liên lạc được với Bồ Tát, chúng ta sẽ luôn gần gũi với
Ngài vì Ngài ở khắp mọi nơi. Đối với chư Phật và
Bồ Tát, không gian và thời gian không còn là những ngăn cách
nữa.
Gần
gũi với Ngài, chúng ta sẽ được Ngài hộ trì, giúp chúng
ta thoát khỏi những khổ mà người đời thường gặp phải,
bởi lẻ Bồ Tát Quán Thế Âm có nghĩa là quán sát, thấu
rõ những tiếng kêu than, nguyện cầu của người đời, thấu
rõ như thế nào mới có thể diệu dụng các phương tiện
khéo léo để cứu giúp. Tuy danh hiệu của ngài là Quán
Thế Âm, nhưng trong kinh đã nó, Ngài cũng là Diệu Âm, Phạm
Âm, Hải Triều Âm vi diệu hơn tất cả. Theo nguyên lý
nhứt như, bình đẳng, người đã quán triệt thế âm phải
là bậc ban phát lời nói vi diệu có khả năng làm tan biến
những nỗi sợ sệt, khổ đau của chúng sanh, đó là Diệu
Âm... Người đó phải là đấng từ phụ thương và dạy con
bằng những lời lẽ đầy minh triết, bằng những Phạm Âm.
Sau cùng, chúng ta nên nhớ rằng Diệu Âm, Phạm Âm, Thế Âm
không bao giờ mất, lúc nào cũng tồn tại trong không gian,
trong vũ trụ bao la, giống như những làng sóng trên mặt đại
dương, đó là Hải Triếu Âm.
4.
PHÁP
HỆ QUÁN THẾ ÂM.
Chúng
ta tu pháp Quán Thế Âm giống như những sinh viên đang theo
học môn học, chẳng hạn như môn y khoa. Hoàn thành môn
y khoa, sinh viên liền trở thành bác sĩ có khả năng chữa
trị cho bệnh nhân. Cũng vậy, chúng ta tu pháp Quán Thế
Âm, sau khi thành tựu còn được gọi là đắc pháp sẽ thuộc
về pháp hệ Quán Thế Âm, chúng ta sẽ lảnh lấy nhiệm vụ
cứu khổ, cứu nạn cho chúng sanh như ngài vậy. Chúng
ta sẽ phát huy 4 đức tánh của Ngài, đó là Từ, Bi, Hỉ,
Xả.
Thật
vậy, càng nhớ tưởng đến Ngài, chúng ta càng huân tập 4
đức tánh ấy còn gọi là tứ vô lượng tâm để biến chúng
thành những tâm vô lượng, vô biên, trùm khắp pháp giới
10 phương.
Trong
Phật giáo có rất nhiều pháp hệ, bởi lẽ nhân đại phát
hạnh và pháp tu để đối trị một vọng tâm đặc biệt
đó luôn có sai biệt.
Pháp
hệ Bồ Tát Quán Thế Âm là pháp hệ BI, TRÍ trong đó có tình
thương và trí huệ chiếm địa vị độc tôn và tối thẳng.
Trong
kinh Kim Cang Bát Nhã, ở Mục 7, Phật đã từng nói : "Hết
thảy hiền Thánh đều tu pháp vô vi nhưng kết quả có tầng
bực khác nhau".
Cũng
vậy, hiện nay chúng ta đang tu tập các pháp của Bồ Tát Quán
Thế Âm, nhưng vì căn cơ, trình độ của chúng ta mỗi người
mỗi khác, hoàn cảnh thuận nghịch trong quá trình tu tập cũng
khác, thành thử kết quả gặt hái của mỗi người chúng
ta, sau một thời gian tu tập, sẽ khác hẳn nhau.
Có
người đắc một phần pháp, có kẻ đắc hai hay ba phần,
cũng có những vị, nhờ có sẵn pháp khí đại thừa, tức
là đã có vốn lớn do ở chỗ đã dày công tu tập trong vô
lượng kiếp trước, nên đắc đa số phần hay toàn phần.
Tuy
cùng một pháp hệ Quán Thế Âm nhưng rồi đây, mỗi người
chúng ta sẽ thực hành Bi, Trí trong những phạm vi khác nhau.
Có vị sẽ thành tựu việc cứu khổ, cứu nạn cho vô số
người, có vị chỉ có thể cứu độ một số ít mà thôi.
Dù vậy, tất cả chúng ta, trước sau rồi, với sự hộ trì
của Bồ Tát Quán Thế Âm, sẽ được an vui và hạnh phúc
trong đời sống hằng ngày, sẽ được hoàn toàn tự tại,
vô ngại trong nội tâm.
Ý
NGHĨA SÂU MẦU CỦA 4 CHỬ TỪ, BI, HỈ, XẢ.
Nằm
trong pháp hệ Quán Thế Âm, chúng ta phải hiểu rõ ý nghĩa
sâu mầu của 4 chữ Từ, Bi, Hỉ, Xả. Nếu không tận
biết thì làm sao chúng ta có thể thực hành cho đúng ?
4 tâm
vô lượng Từ, Bi, Hỉ, Xả của Bồ Tát Quán Thế Âm là những
tâm quảng đại, tròn đầy, trên thì thông với chư Phật
đồng một từ lực, dưới thì hiệp với chúng sanh trong 3
cõi 6 đường đồng một lòng bi ngưỡng.
Nói
4 tâm nhưng thật ra chỉ là 1, 1 mà là 4 vì chúng bất khả
phân do ở chỗ chúng xuất phát từ bản thể chung cùng, bản
thể chơn tâm thường, lạc, ngã, tịnh. Nói khác đi,
Thường, lạc, ngã, tịnh chính là THỂ, Từ, Bi, HỈ, Xả là
Tướng Dụng. Nhưng chúng ta phải hành Tứ vô lượng
tâm như thế nào mới đúng với ý nghĩa tướng dụng ?
Chúng
ta phải hành Tứ Vô Lượng tâm, Vô trụ, bởi lẽ nếu hành
trì pháp này mà còn thấy đối tượng ngã, nhân chỉ vẫn
còn ở cấp bực sơ cở, còn bị kẹt, không phát huy được
trọn vẹn ý nghĩa sâu mầu của 4 chữ Từ Bi Hỉ Xả vốn
là tướng dụng của Chơn Như,
a)
Tâm Từ là tâm bình đẳng ban phát an vui trong tinh thần Vô
Trụ, cho mọi loài chúng sanh vì chúng có đồng một thể tánh
như mình, cũng như đối nới tất cả chúng sanh tánh tức
là đối với các niệm trong tâm mình bất luận là niệm chơn
hay vọng, thanh hay thô.
Muốn
hành tâm từ cho thật rốt ráo, chúng ta phải hành tâm từ
đối với mình trước, nghĩa là chuyển hóa tất cả vọng
niệm của mình thành những chơn niệm, sau đó mới hành tâm
từ đối với các chúng sanh, hướng dẫn họ chuyển hóa các
vọng niệm của họ. Hành Tâm Từ như thế còn gọi là
tự giác, giác tha, làm được như vậy chúng ta mới có thể
làm những những việc nhiều ích, đem lại nhìều lời lạc
cho quần sanh.
b)
Tâm Bi là tâm thương xót các chúng sanh đang đau khổ, đang
lâm nạn. Đó là tâm hằng cứu vớt.
Thương
xót người thì phải tìm cách cứu người, không lẽ thương
xót trên đầu môi, chót lưỡi.
Các
thuyền nhân Việt Nam trong khi vượt biển thường gặp tai
nạn. Họ cầu nguyện Ph