Chương
VIII
Cõi
Giới Vô Hình
Hamud
là một pháp sư có kiến thức rất rộng về cõi vô hình.
Khác với những đạo sĩ phái đoàn đã gặp, ông này không
phải người Ấn mà là một người Ai cập.
Ông
ta sống một mình trong căn nhà nhỏ, xây dựa vào vách núi.
Hamud không hề tiếp khách, nhưng trước sự giới thiệu của
bác sĩ Kavir, ông bằng lòng tiếp phái đoàn trong một thời
gian ngắn. Vị pháp sư có khuôn mặt gầy gò, khắc khổ và
một thân hình mảnh khảnh. Ông ta khoác áo choàng rộng và
quấn khăn theo kiểu Ai cập.
Giaó
sư Evans-Wentz vào đề :
- Chúng
tôi được biết ông chuyên nghiên cứu các hiện tượng huyền
bí…
Pháp
sư thản nhiên :
-
Đúng thế, tôi chuyên nghiên cứu về cõi vô hình.
-
Như thế ông tin rằng có ma…
Vị
pháp sư nói bằng một giọng chắc chắn, quả quyết :
-
Đó là một sự thật không những ma quỷ hiện hữu mà chúng
còn là đối tượng nghiên cứu của tôi.
-
Bằng cớ nào ông tin rằng ma quỷ có thật ?
-
Khắp nơi trên thế giới đều có các giai thoại về ma, vì
con người thường sợ hãi cái gì mà họ không thể nhận
thức bằng các giác quan thông thường nên họ đã phủ nhận
nó. Sự phủ nhận này mang đến niềm sợ hãi. Từ đó họ
thêu dệt các giai thoại rùng rợn, ly kỳ, không đúng sự
thật. Nếu chúng ta chấp nhận ma quỷ hiện hữu như một
con voi hay con ngựa thì có lẽ ta sẽ không còn sợ hãi. Các
ông đòi hỏi một chứng minh cụ thể chăng ?
-
Dĩ nhiên, chúng tôi cần một bằng chứng hiển nhiên …
-
Được lắm, các ông hãy nhìn đây.
Vị
pháp sư mở ngăn kéo lấy ra một cặp que đan áo, một bó
len và mang ra góc phòng để xuống đất. Ông ta thong thả :
-
Chúng ta tiếp tục nói chuyện, rồi các ông sẽ thấy.
Mọi
người ngơ ngác, không hiểu ông muốn nói gì, giáo sư Mortimer
nóng nảy :
-
Nếu ông nghiên cứu về cõi vô hình, xin ông giải thích về
quan niệm thiên đàng, địa ngục cũng như đời sống sau khi
chết ra sao ?
Vị
pháp sư nghiêm giọng :
-
Đó là một quan niệm không đúng, sự chết chỉ là một giai
đoạn chuyển tiếp chứ không phải là hết. Vũ trụ có rất
nhiều cõi giới, chứ không phải chỉ có một cõi này.
-
Khi chết ta bước qua cõi trung giới và cõi này gồm có bảy
cảnh khác nhau. Mỗi cảnh được cấu tạo bằng những nguyên
tử rất thanh mà ta gọi là “dĩ thái”. Tuỳ theo sự rung
động khác nhau mà mỗi cảnh giới một khác. Tuỳ theo vía
con người có sự rung động thanh cao hay chậm đặc, mà mỗi
người thích hợp với một cảnh giới, đây là hiện tượng
“đồng thanh tương ứng” mà thôi. Khi vừa chết, thể chất
cấu tạo cái vía được sắp xếp lại, lớp thanh nhẹ nằm
trong và lớp nặng trọc bọc phía ngoài, điều này cũng giống
như một người mặc nhiều áo khác nhau vào mùa lạnh, áo
lót mặc ở trong, áo choàng dầy khoác ngoài. Vì lớp vỏ bọc
bên ngoài cấu tạo bằng nguyên tử rung động chậm và nặng
nề, nó thích hợp với các cảnh giới tương ứng ở cõi
âm, và con người sẽ đến với cảnh giới này. Sau khi ở
đây một thời gian, lớp vỏ bao bọc bên ngoài dần dần tan
rã giống như con người trút bỏ áo khoác bên ngoài ra, tuỳ
theo các lớp nguyên tử bên trong mà họ thích ứng với một
cảnh giới khác. Cứ như thế, theo thời gian, khi các áp lực
vật chất tan rã hết thì con người tuần tự tiến lên những
cảnh giới cao hơn. Điều này cũng giống như một quả bóng
bay bị cột vào đó những bao cát; mỗi lần cởi bỏ được
một bao thì quả bóng lại bay cao hơn một chút cho đến khi
không còn bao cát nào, thì nó sẽ tự do bay bổng. Trong bảy
cảnh giới của cõi âm, thì cảnh thứ bảy có rung động
nặng nề, âm u nhất, nó là nơi chứa các vong linh bất hảo,
những kẻ sát nhân, người mổ sẻ súc vật, những cặn bả
xã hội, những kẻ tư tưởng xấu xa, còn đầy thú tánh.
Vì ở cõi âm, không có thể xác, hình dáng thường biến đổi
theo tư tưởng nên những kẻ thú tánh mạnh mẽ thường mang
các hình dáng rất ghê rợn, nửa người, nửa thú. Những
người thiếu kiến thức rõ rệt về cõi này cho rằng đó
là những quỷ sứ. Điều này cũng không sai sự thật bao nhiêu
vì đa số những vong linh này luôn oán hận, ham muốn, thù
hằng và thường tìm cách trở về cõi trần. Tuỳ theo dục
vọng riêng tư mà chúng tụ tập quanh các nơi thích ứng, dĩ
nhiên người cõi trần không nhìn thấy chúng được. Những
loài ma đói khát quanh quẩn bên các chốn trà đình tửu quán,
các nơi mổ sẻ thú vật để tìm những rung động theo những
khoái lạc vật chất tại đây. Khi một người ăn uống ngon
lành họ có các rung động, khoái lạc và loài mà tìm cách
hưởng thụ theo tư tưởng này. Đôi khi chúng cũng tìm cách
ảnh hưởng, xúi dục con người nếu họ có tinh thần yếu
đuối, non nớt. Những loài ma dục tình thì quanh quẩn nơi
buôn hương bán phấn, rung động theo những khoái lạc của
người chốn đó, và tìm cách ảnh hưởng họ. Nếu người
sống sử dụng rượu, các chất kích thích thì ngay trong giây
phút mà họ không còn tự chủ được nữa, các loài ma tìm
cách nhập vào trong thoáng giây để hưởng một chút khoái
lạc vật chất dư thừa. Vì không được thoả mãn nên theo
thời gian các dục vọng cũng giảm dần, các nguyên tử nặng
trọc cũng tan theo, vong linh sẽ có các rung động thích hợp
với một cảnh giới cao hơn và y sẽ thăng lên cõi giới tương
ứng. Dĩ nhiên, một người có đời sống trong sạch, tinh
khiết sẽ không lưu ở cõi này, mà thức tỉnh ở một cõi
giới tương ứng khác. Tuỳ theo lối sống, tư tưởng khi ta
còn ở cõi trần mà khi chết ta sẽ đến những cảnh giới
tương đồng, đây chính là định luật “đồng thanh tương
ứng, đồng khí tương cầu”.
Toàn
thể phái đoàn im lặng nhìn nhau, vị pháp sư Ai cập đã diễn
tả bằng những danh từ hết sức khoa học, chính xác, chứ
không mơ hồ, viễn vông. Dù sao đây vẫn là một lý thuyết
rất hay, nhưng chưa chứng minh được. Có thể đó là một
giả thuyết của những dân tộc nhiều tưởng tượng như
người Á châu chăng ?
Hamud
mỉm cười như đọc được tư tưởng mọi người :
-
Nếu các ông biết rằng tôi cũng là một tiến sĩ vật lý
học tốt nghiệp đại học Oxford…
Giáo
sư Harding giật mình kêu lên :
-
Oxford ư ? Ông đã từng du học bên xứ chúng tôi sao ?
-
Chính thế, tôi tốt nghiệp năm 1864, và là người Ai cập
đầu tiên tốt nghiệp về ngành này.
(Ghi
chú của giáo sư Spalding : Phái đoàn đã phối kiểm chi tiết
này và hồ sơ đại học Oxford ghi nhận có một tiến sĩ người
Ai cập tên là Hamud El Sarim nhập học năm 1856 và tốt nghiệp
năm 1864 với bằng Tiến sĩ Vật lý).
-
Nhưng làm sao ông biết rõ được cõi giới này ? Ông đã đọc
sách vở hay dựa trên những bằng chứng ở đâu ?
-
Tôi đã khai mở các giác quan thể vía, nhờ công phu tu hành
trong nhiều năm. Ngay khi còn là sinh viên tôi đã say mê môn
Vật lý siêu hình (metaphysics). Tôi dành nhiều thời giờ nghiên
cứu sách vở khoa học, nhưng đến một lúc thì khoa học phải
bó tay. Sự nghiên cứu dẫn dắt tôi đến với Khoa Huyền
Bí học. Tôi học hỏi rất kỹ về môn này, khi trở về Ai
cập tôi may mắn gặp được các vị đạo sư uyên b ác, nên
sự nghiên cứu càng ngày càng tiến bộ. Sự nghiên cứu dẫn
dắt tôi sang Ấn độ, và Tây Tạng. Tại đây tôi gặp một
Lạt Ma chuyên nghiên cứu về cõi âm, tôi đã học hỏi rất
nhiều với vị này. Sau đó, tôi tu nhập thất trong 10 năm
liền, và khai mở được một vài giác quan đặc biệt. Từ
đó, tôi tha hồ nghiên cứu cõi âm vì tôi có thể sang tận
đây học hỏi và cõi này trở nên quen thuộc, tôi kết bạn
với rất nhiều sinh vật siêu hình, chúng giúp đỡ tôi rất
nhiều.
Giáo
sư Evans- Wentz ngập ngừng :
-
Ông muốn nói rằng ông kết bạn với ma ?
-
Dĩ nhiên, vì tôi dành trọn thời giờ hoạt động bên cõi
này, nên tôi có rất đông bạn bè, phần lón là vong linh người
quá cố nhưng cũng có một vài sinh vật có đường tiến hoá
riêng, khác với loài người, có loài khôn hơn người và có
loại không thông minh hơn loài vật là bao…
-
Giao thiệp với chúng có lợi ích gì không ?
-
Các ông nên biết cõi âm là một thế giới lạ lùng, phức
tạp với những luật thiên nhiên khác hẳn cõi trần. Sự
đi lại giao thiệp giúp ta thêm kiến thức rõ ràng…..
-
Như thế có nguy hiểm không?
-
Dĩ nhiên, có nhiều sinh vật hay vong linh hung ác, dữ tợn…Một
số thầy phù thuỷ, thường liên lạc với nhóm này để mưu
cầu lợi lộc, chữa bệnh hoặc thư phù, nguyền rủa….
-
Ông có thể làm như vậy không ?
Vị
pháp sư nghiêm mặt :
-
Tất cả những việc gì có tính cách phản thiên nhiên, ngược
luật tạo hoá đều mang lại hậu quả không tốt. Mưu cầu
lợi lộc cho cá nhân là điều tối kỵ của ai đi trên đường
đạo. Tôi không giao thiệp với những loại vong linh này, vì
chúng rất nguy hiểm, hay phản phúc và thường giết chết
kẻ lợi dụng chúng bất cứ lúc nào. Các ông nên nhớ tôi
là một khoa học gia chứ không phải một thầy pháp hạ cấp
hay một phù thuỷ chữa bệnh.
-
Xin ông nói rõ hơn về những cảnh giới cõi âm.
-
Các ông nên biết dù ở cõi nào, tất cả cũng không ra ngoài
các định luật khoa học. Thí dụ như vật chất có ba thể
: thể lỏng, thể đặc và thể hơi, thì bên cõi này cũng
có những thể tương tự. Luật thiên nhiên cho thấyvật nặng
sẽ chìm xuống dưới và vật nhẹ nổi lên trên thì cõi vô
hình cũng thế. Nguyên tử cõi âm rung động với một nhịp
độ khác với cõi trần, các nguyên tử rung động thật nhanh
dĩ nhiên phải nhẹ hơn các nguyên tử nặng trược. Tóm lại,
tuỳ theo nhịp độ rung động mà tạo ra những cảnh giới
khác nhau, có bảy loại rung động nên có bảy cõi giới. Các
nguyên tử rung động chậm chạp phải chìm xuống dưới vì
nếu ta mang nó lên cao, sức ép sẽ làm nó tan vỡ ngay. Thí
dụ ta đặt một quả bóng xuống nước nếu đến một độ
sâu nào đó sức ép của nước sẽ làm nó vỡ tan. Loài cá
cũng thế, có loại sống gần mặt nước, có loại sống tận
đáy đại dương. Nếu loại sống gần mặt biển bị mang
xuống đáy nó sẽ bị sức ép mà chết, ngược lại nếu
loài sống ở dưới đáycũng không thể lên sát mặt nước
vì đã quen với sức ép khác nhau. Cảnh giới thứ bảy lúc
nào cũng tối tăm, nặng nề với các vong linh hình dáng ghê
rợn, nhưng hoàn toàn không có vụ quỷ sứ tra tấn tội nhân.
Bị lưu đày ở đây đã là khổ sở lắm rồi, các ông hãy
tưởng tượng bị dụcvọng hành hạ mà không thể thoả mãn
thì còn khổ gấp trăm lần bị tra tấn. Vong linh thèm muốn
nhưng không so thoả mãn được, như đói mà không thể ăn,
khát không thể uống. Do đó, theo thời gian y sẽ học bài
học chịu đựng, nhẫn nhục cho đến khi dục vọng giảm
bớt và tan ra thì y sẽ thăng lên cảnh giới thứ sáu. Cõi
giới thứ sáu, có sự rung động rất giống như cõi trần,
tại đây các vong linh ít còn thèm muốn vật chất như ăn
uống, dục tình, nhưng bận tâm với những nhỏ nhen của cuộc
sống như thoả mãn bản ngã, ích kỷ, ghen tuông, hờn giận,
v…v… Đa số có hình dáng giống như người cõi trần, nhưng
lờ mờ không rõ. Vì sự rung động của nguyên tử gần giống
như cõi trần nên họ hay trở về cõi này, họ thường nhập
vào đồng cốt, các buổi cầu cơ, cầu hồn để chỉ dẫn
bậy bạ, nói chuyên vu vơ nhằm thoả mãn tự ái, bản ngã
cá nhân. Vì đa số vong linh khi còn sống rất ham mê danh vọng,
chức tước, uy quyền nên khi họ nhập vào đồng cốt, họ
thường tự xưng là các đấng này, đấng nọ. Theo thời gian,
các rung động ham muốn, các cố chấp về bản ngã, danh vọng
cũng tan biến nên họ thăng lên cảnh giới thứ năm. Cõi thứ
năm có sự rung động thanh nhẹ hơn cõi trần nên vong linh
có thể biến đổi sắc tướng rất nhanh chóng. Đây là một
thế giới với những âm thanh màu sắc lạ lùng dễ bị mê
hoặc. Các vong linh ở đây đã bớt ham muốn về cá nhân,
nhưng còn ham muốn về tư tưởng, kiến thức. Đây là nơi
cư ngụ của những kẻ đạo đức giả, những kẻ bảo thủ
nhiều thành kiến, những người trí thức tự phụ, v…v…
Đây cũng là cõi có những sinh hoạt của loài Tinh linh. Loài
Tinh linh là những sinh vật vô hình có hình dáng hao hao giống
như người mà ta thường gọi là Thiên tinh (sylphs), Thổ địa
(gnome), Phong tinh (elves), v…v… Một số bị thu phục bởi
các phù thuỷ, pháp sư để làm ảo thuật hay luyện phép.
Cõi này còn có sự hiện diện của những “hình tư tưởng”.
Các ông nên biết, khi một tư tưởng hay dục vọng phát sinh
thì chúng sử dụng tinh chất cõi này tạo nên một hình tư
tưởng thích hợp. Đời sống của chúng tuỳ theo sức mạnh
của tư tưởng mạnh hay yếu. Vì đa số tư tưởng con người
còn mơ hồ nên hình tư tưởng chỉ tạo ra ít lâu là tan rã
ngay. Một người tập trung tư tưởng có thể tạo ra một
hình tư tưởng sống lâu trong vài giờ hay vài ngày. Một pháp
sư cao tay có thể tạo ra các hình tư tưởng sống đến cả
năm hay cả thế kỷ, không những thế hình tư tưởng này
còn chịu sự sai khiến của ông ta. Các phù thuỷ luyện thần
thông đều dựa trên nguyên tắc cấu tạo một sinh vật vô
hình để sai khiến. Hình tư tưởng không chỉ phát sinh từ
một cá nhân mà còn từ một nhóm người hay một quốc gia,
dân tộc. Khi một đoàn thể, dân tộc cùng một ý nghĩ, họ
sẽ tạo ra một hình tư tưởng của đoàn thể, quốc gia đó.
Hình tư tưởng này sẽ tạo một ảnh hưởng vô cùng rộng
lớn đối với tình cảm,phong tục, thành kiến của quốc
gia, dân tộc. Ta có thể gọi đó là “Hồn thiêng sông núi”
hay “dân tộc tính”. Khi sinh ra tại một quốc gia, ta ít
nhiều chịu ảnh hưởng của hình tư tưởng này, dĩ nhiên
chúng chỉ ảnh hưởng lên thể vía, nghĩa là tình cảm của
dân tộc đó, chứ không ảnh hưởng đến lý trí. Một người
sống nhiều bằng lý trí sẽ ít chịu ảnh hưởng như người
bình thường. Điều này giải thích tại sao một dân tộc
có tâm hồn mơ mộng như thi sĩ khi dân tộc khác lại có đầu
óc thực tế mặc dù trên phương diện địa lý, họ không
ở cách xa nhau mấy và ít nhiều chia sẻ một số quan niệm
về tôn giáo, phong tục, tập quán. Cảnh giới cõi thứ tư
sáng sủa hơn và dĩ nhiên nguyên tử cõi này rung động rất
nhanh. Phần lớn những vong linh tiến hoá, thánh thiện, những
nhà trí thức trầm mặc nhưng còn quyến luyến một ít dục
vọng khi chết đều thức tỉnh ở cảnh giới này. Đa số
đều ý thức ít nhiều, nên họ bắt đầu cởi bỏ những
ham muốn, quyến luyến. Đây cũng là chỗ họ học hỏi và
ảnh hưỏong lẫn nhau, và đôi khi kêt những liên hệ để
cùng nhau tái sinh trong một gia đình hay quốc gia. Cõi giới
thứ ba chói sáng, có những rung độgn nhẹ nhàng. Tại đâu
có những linh hồn từ tâm nhưng vụng về, những tu sĩ thành
tâm nhưng thiếu trí tuệ, những nhà lãnh đạo anh minh nhưng
thành kiến. Đây cũng là một cảnh giới của một số thần
linh (devas) như Cảm-dục thiên thần (Kamadeva), Hữu sắc thiên
thần (Rupadeva), và Vô sắc thiên thần (Arupadeva). Các thần
linh này có đời sống và tiến hoá cao hơn trình độ của
nhân loại. Cõi giới thứ hai và thứ nhất cấu tạo bằng
những nguyên tử hết sức thanh thoát, rung động rất nhanh
và tràn đầy ánh sáng. Đây là cõi giới mà những người
tiến hoá rất cao, rất tệ nhị không còn dục vọng, ham muốn,
lưu lại để học hỏi, trao đổi kinh nhigệm, phát triển
ccác đức tính riêng trước khi siêu thoát len cảnh giới cao
hơn.
-
Như thế người chết thường lưu lại ở cõi Trung giới bao
nhiêu lâu ?
-
Thời gian lưu lại đây hoàn toàn tuỳ thuộc vào dục vọng
con người, có người chỉ ghé lại đây vài giờ, lập tức
đầu thai trở lại. Có kẻ ở đây hàng năm và có kẻ lưu
lại đây hàng thế kỷ… Để siêu thoát, thể vía phải hoàn
toàn tan rã hết thì mới lên đến cõi Thượng thiên hay siêu
thoát. Tóm lại danh từ như thiên đàng hay địa ngục chỉ
là những biểu tượng của những cảnh ở cõi Trung giới
(Kamaloka). Tuỳ theo sự sắp xếp của thể vía khi chết, mà
ta thức tỉnh ở một cảnh giới tương ứng.
Mọi
người yên lặng nhìn nhau, những điều Hamud giải thích hoàn
toàn hợp lý và hết sức khoa học, không hoang đường chút
nào. Nhưng làm sao chứng minh những điều mà khoa học thực
nghiệm không thể nhìn thấy được ? Dù sao Hamud cũng là một
Tiến sĩ Vật lý tốt nghiệp đại học nổi tiếng nhất Âu
châu chứ không phải một phù thuỷ vô học chốn hoang vu,
ít nhiều ông ta cũng có một tinh thần khách quan vô tư của
một khoa học gia chứ không mê tín dễ chấp nhận một lý
thuyết vu vơ, không kiểm chứng. Nhưng làm sao có thể thuyết
phục những người Âu Mỹ vốn rất tự hào, nhiều thành
kiến và tin tưởng tuyệt đối ở khoa học /
Hamud
mỉm cười tiếp tục :
-
Sự hiểu biết về cõi vô hình rất quan trọng, vì khi hiểu
rõ những điều xảy ra sau khi chết, ta sẽ không sợ chết
nữa. Nếu có chết chỉ là hình hài, xác thân chứ không phải
sự sống, và hình hài có chết đi, thì sự sống mới tiếp
tục tiến hoá ở một thể khác tinh vi hơn. Đây là một vấn
đề hết sức hợp lý và khoa học cho ta thấy rõ sự công
bình của vũ trụ. Khi còn sống, con người có dục vọng này
nọ, khi dục vọng được thoả mãn, nó sẽ gia tăng mạnh
mẽ, đồng thời các chất thô kệch, các rung động nặng
nề sẽ bị thu hút vào thể vía. Sau khi chết, dục vọng này
trở nên mạnh mẽ vì không còn lý trí kiểm soát nữa, chính
thế nó sẽ đốt cháy con người của ta. Sự nung đốt của
dục vọng chẳng phải địa ngục là gì ? Giống như đức
tính, phẩm hạnh khi còn trẻ, quyết định điều kiện sinh
sống lúc tuổi già, đời sống cõi trần quyết định đời
sống bên kia cửa tử. Luật này hết sức hợp lý và dễ
chứng minh. Khi còn trẻ ta tập thể thao, giữ thân thể khoẻ
mạnh, thì khi về già ta sẽ ít bệnh tật, khi còn trẻ ta
chịu khó học hỏi, có một nghề nghiệp vững chắc thì khi
về già đời sống được bảo đảm hơn, có đúng thế không
? Những người nào chế ngự được dục vọng thấp hèn,
làm chủ được đòi hỏi thể xác, thì các dục vọng này
không thể hành hạ khi ta chết. Luật thiên nhiên định rằng
khi về già thể xác yếu dần, đau ốm, khiến cho ta bớt đi
các ham muốn và nhờ thế, dục vọng cũng giảm bớt rất
nhiều nên thể vía cũng thanh lọc bớt các chất nặng nề,
ô trượt để khi chết, sẽ thức tỉnh ở cảnh giới cao
thượng hơn. Trái lại những người còn trẻ, lòng ham muốn
còn mạnh mẽ, nếu chết bất đắc kỳ tử thường đau khổ
rất nhiều và phải lưu lại cõi Trung giới lâu hơn. Nếu
hiểu biết như thế, ta cần phải duyệt xét lại đời sống
của mình ở cõi trần để khỏi lưu lại những cảnh giới
thấp thỏi, nặng nề bên cõi âm. Những người lớn tuổi
cần chuẩn bị để dứt bỏ các quyến luyến, ràng buộc,
các lo lắng ưu phiền, các tranh chấp, giận hờn, phải biết
xả ly, dứt bỏ mọi phiền não để mau chóng siêu thoát. Một
sự chuẩn bị ở cõi trần sẽ rút ngắn thời gian bên cõi
âm và chóng thúc đẩy thời gian lên cõi giới cao hơn.
-
Nhưng còn các ma quỷ thì sao ?
-
Các ông cứ cho rằng ma quỷ là một thực thể thế nào đó,
khác hẳn loài người. Thật ra phần lớn chúng là những vong
linh sống ở cảnh giới thứ bảy, thứ sáu mà thôi. Chúng
còn lưu luyến cõi trần, còn say mê dục vọng không sao thoát
ra khỏi cảnh giới này… Luật thiên nhiên không cho phép chúng
trở lại cõi trần, nhưng cũng có những trường hợp đặc
biệt, khiến người cõi trần trong một thoáng giây có thể
nhìn thấy chúng…Khoan đã, các ông hãy xem kìa, người bạn
của tôi đã làm xong việc.
Hamud
chỉ vào góc phòng nơi ông ta để bó len và cây kim đan áo.
Mọi người bước đến gần và thấy một chiếc áo len đan
bằng tay đã thành hình từ lúc nào không ai rõ. Chiếc áo
đan tay rất vụng, không khéo léo nhưng trên ngực có thêu
tên giáo sư Mortimer. Vị pháp sư giải thích :
-
Con ma này rất nghịch, và thường quanh quẩn ở đây. Tôi
yêu cầu hắn đan chiếc áo len cho các ông để làm bằng chứng.
Để tránh việc các ông cho rằng tôi làm trò ảo thuật, tráo
vào đó một chiếc áo len khá,c tôi yêu cầu hắn thêu tên
người nào trong phái đoàn có nhiều nghi ngờ nhất. Các ông
đều biết rằng từ khi gặp gỡ tôi không hề hỏi tên các
ông, và nếu chiếc áo này không đan riêng cho các ông thì
còn ai nữa ?
Qủa
thế, vị pháp sư gầy gò không thể mặc chiếc áo đan to
tướng , rất vừa vặn cho giáo sư Mortimer, một người Âu
mà kích thước đã rất ư quá khổ, so với những người
Âu khác, đó là chưa kể vòng bụng khổng lồ, rất hiếm
có của ông này. Hơn nữa, áo này cũng không thể may sẵn
để bán vì đường kim mũi chỉ rất ư vụng về, nếu có
bán, cũng chẳng ai mua. Tại nơi hoang vu, không có ai ngoài vị
pháp sư và phái đoàn, sự kiện này quả thật rất lạ lùng.
Giáo
sư Evans-Wentz thắc mắc :
-
Như vậy ông có thể sai khiến ma quỷ hay sao?
-
Tôi không phải là một phù thuỷ, lợi dụng quyền năng cho
tư lợi; mà chỉ là một người có rất nhiều bạn hữu vô
hình bên cõi âm. Tôi hiểu rõ các luật thiên nhiên như Luân
hồi, Nhân quả, và hậu quả việc thờ cúng ma quỷ để mưu
cầu một cái gì. Tôi chỉ là một khoa học gia nghiên cứu
cõi vô hình một cách đứng đắn. Sự nghiên cứu những hiện
tượng siêu hình là một khoa học hết sức đứng đắn, chứ
không phải mê tín dị đoạn. Nhiều người thường tỏ ý
chê cười khi nói đến vấn đề ma quỷ, nên những ai có
gặp ma, cũng chả dám nói vì sợ bị chê cười hay cho là
loạn trí. Nếu người nào không tin hãy nghiên cứu và chứng
minh một cách khoa học rằng ma quỷ chỉ là những giả thuyết
tưởng tượng, còn như phủ nhận không dám chứng minh chỉ
là một cái cớ che dấu sự sợ hãi. Điều khoa học chưa
chứng minh được không có nghĩa là điều này không có thật,
vì một ngày nào đó, khoa học sẽ tiến đến mức mà họ
có thể chứng minh tất cả. Những phương pháp thông thường
như cầu cơ, đồng cốt, thường gặp sai lầm vì như tôi
đã trình bày, các vong linh nhập vào phần lớn cũng có kiến
thức giới hạn ở cảnh giới nào đó. Đôi khi họ cũng trích
dẫn vài câu trong “Thánh kinh”, hoặc sách vở, kinh điển
để nâng cao giá trị lời nói, điều này có khác nào những
nhà chính trị khi diễn thuyết. Phương pháp khoa học chính
xác nhất là phải tự mình qua hẳn thế giới đó nghiên cứu.
Các ông nên biết thân thể chúng ta không phải môi trường
duy nhất của linh hồn và giác quan của nó cũng không phải
phương tiện duy nhất để nghiên cứu ngoại cảnh. Nếu ta
chấp nhận rằng vũ trụ có nhiều cõi giới khác nhau và mỗi
thể con người tương ứng với một cõi, thì ta thấy ngay
rằng thể xác cấu tạo bằng nguyên tử cõi trần nên chỉ
giới hạn trong cõi này được thôi. Các thể khác cũng có
giác quan riêng của nó và khi giác quan thể vía được khai
mở, ta có thể quan sát các cõi giới vô hình dễ dàng. Khi
từ trần, thể xác tiêu hao, các giác quan không còn sử dụng
được nữa thì linh hồn sẽ tập phát triển các giác quan
thể vía ngay. Nếu biết cách khai mở các giác quan này khi
còn sống, ta có thể nhìn thấy cõi âm một cách dễ dàng.
Giáo
sư Allen ngập ngừng :
-
Nhưng có một quan niệm lại cho rằng, sau khi chết linh hồn
sẽ lên thiên đàng hay xuống địa ngục vĩnh viễn, điều
này ra sao ?
Hamud
lắc đầu :
-
Đó là một quan niệm không hợp lý, vì điều này cho rằng
khi chết linh hồn sẽ đổi thay toàn diện. Sau khi chết, linh
hồn sẽ mất hết tính xấu để trở nên toàn thiện, trở
nên một vị thiên thần vào cõi thiên đàng hoặc là linh hồn
có thể mất hết các tính tốt để trở nên xấu xa, trở
nên một thứ ma quỷ bị đẩy vào địa ngục. Điều này
vô lý vì sự tiến hoá phải từ từ, chứ không thể đột
ngột được. Trên thế gian này, không ai toàn thiện hay toàn
ác. Trong mỗi chúng ta đều có các chủng tử xấu, tốt do
các duyên, nghiệp từ tiền kiếp để lại; tuỳ theo điều
kiện bên ngoài mà những chủng tử này nẩy mầm, phát triển
hay thui chột, không thể phát triển. Một người tu thân là
một người biết mình, lo vun xới tinh thần để các nhân
tốt phát triển, giống như người làm vườn lo trồng hoa
và nhổ cỏ dại. Thực ra, khi sống và chết, con người không
thay đổi bao nhiêu. Nếu khi sống họ ăn tham thì khi chết,
họ vẫn tham ăn, chỉ có khác ở chỗ, điều này sẽ không
còn được thoả mãn vì thể xác đã hư thối, tan rã mất
rồi. Sau khi chết, tìm về nhà thấy con cháu ăn uống linh
đình mà họ thì không sao ăn được, lòng ham muốn gia tăng
cực độ như lửa đốt gan, đốt ruột, đau khổ không sao
tả được.
-
Như ông đã nói, loài ma đói thường rung động theo không
khí quanh đó, như thế họ có thoả mãn không ?
-
Khi người sống ăn ngon có các tư tưởng khoái lạc thì loài
ma đói xúm quanh cũng tìm cách rung động theo tư tưởng đó,
nhưng không làm sao thoả mãn cho được. Điều này ví như
khi đói, nghĩ đến món ăn ngon ta thấy khoan khoái, ứa nước
bọt nhưng điều này đâu có thoả mãn nhu cầu bao tử đâu.
Các loại ma hung dữ, khát máu thường tụ tập nơi mổ sẻ
súc vật, lò sát sinh để rung động theo những không khí thô
bạo ở đó. Những người giết súc vật trong nhà vô tình
mời gọi các vong linh này đến, sự có mặt của họ có thể
gây nhiều ảnh hưởng xấu, nhất là cho nhũng người dễ
thụ cảm.
-
Đa số mọi người đều cho rằng ma quỷ thường xuất hiện
ở nghĩa địa, điều này ra sao ?
-
Sự hiện hình ở nghĩa địa chỉ là hình ảnh của thể phách
đang tan rã, chứ không phải ma quỷ, vong linh. Khi ta chết,
thể xác hư thối thì thể phách vốn là thể trung gian giữa
thể xác và thể vía cũng tan rã theo. Thể phách được cấu
tạo bằng những nguyên tử tương đồng với nguyên tử cõi
trần. Nhưng trong đó có nhiều nguyên tử ‘dĩ thái’, nên
nhẹ hơn, nó thu thập các sinh lực còn rơi rớt trong thể
xác, để cố gắng kéo dài sự sống thêm một thời gian nữa.
Vì đang tan rã nên thể phách không hoàn toàn, do đó, đôi
khi ta thấy trên nghĩa địa có những hình ảnh người cụt
đầu, cụt chân, bay là là trên các nấm mồ, người không
hiểu thì gọi đó là ma. Theo sự hiểu biết của tôi, thì
việc thiêu xác tốt đẹp hơn việc chôn cất, vì để thể
xác tan rã từ từ làm cho linh hồn đau khổ không ít và thường
ở trong một giai đoạn hôn mê, bất động một thời gian
rất lâu. Thiêu xác khiến vong linh thấy mình không còn gì
quyến luyến nữa nên siêu thoát nhanh hơn nhiều.
-
Ma quỷ thường thuộc thành phần nào trong xã hội ?
-
Chúng thuộc đủ mọi thành phần, tuỳ theo dục vọng khi còn
sống. Người chết bất đắc kỳ tử thường lưu lại cõi
âm lâu hơn người chết già vì còn nhiều ham muốn hơn. Những
kẻ sát nhân bị hành quyết vẫn sống trong cảnh tù tội,
giận hờn và có ý định trả thù. Một người tự tử để
trốn nợ đời cũng thế, y sẽ hôn mê trong trạng thái khổ
sở lúc tự tử rất lâu. Định luật cõi âm xác nhận rằng,
“Chính cái dục vọng của ta quyết định cảnh giới ta sẽ
đến và lưu lại ở đó lâu hay mau.”
-
Số phận của những người quân nhân tử trận thì ra sao
?
-
Họ cũng không ra ngoài luật lệ đó, tuỳ theo dục vọng từng
cá nhân. Tuy nhiên, người hy sinh tính mạng cho một lý tưởng
có một tương lai tốt đẹp hơn, vì cái chết cao đẹp là
một bậc thang lớn trong cuộc tiến hoá. Họ đã quên mình
để chết và sống cho lý tưởng thì cái chết đó có khác
nào những vị thánh tử đạo. Dĩ nhiên không phải quân nhân
nào cũng sống cho lý tưởng và những kẻ giết chóc vì oán
thù và chết trong oán thù lại khác hẳn.
-
Như ông nói thì người chết vẫn thấy người sống ?
-
Thật ra phải nói như thế này. Khi chết các giác quan thể
xác đều không sử dụng được nữa, nhưng người chết vẫn
theo dõi mọi sự dễ dàng vì các giác quan thể vía. Không
những thế họ còn biết rất rõ tư tưởng, tình cảm liên
hệ; mặc dù họ không còn nghe thấy như chúng ta. Nhờ đọc
được tư tưởng, họ vẫn hiểu điều chúng ta muốn diễn
tả.
-
Như vậy thì họ ở gần hay ở xa chúng ta ?
-
Khi mới từ trần, người chết luôn quanh quẩn bên gia đình,
bên những người thân nhưng theo thời gian, khi ý thức hoàn
cảnh mới, họ sẽ tách rời các ràng buộc gia đình để
sống hẳn ở cõi giới của họ.
-
Như thế có cách nào người sống tiếp xúc được với thân
nhân quá cố không ?
-
Điều này không có gì khó. Hãy nghĩ đến họ trong giấc ngủ.
Thật ra nếu hiểu biết thì ta không nên quấy rầy, vì làm
thế chỉ gây trở ngại cho sự siêu thoát. Sự chết là bước
vào một đời sống mới, các sinh lực từ trước vẫn hướng
ra ngoài, thì nay quay vào trong, linh hồn từ từ rút khỏi thể
xác bằng một bí huyệt trên đỉnh đầu. Do đó, hai chân
từ từ lạnh dần rồi đến tay và sau cùng là trái tim. Lúc
này người chết thấy rất an tĩnh, nhẹ nhàng không còn bị
ảnh hưởng vật chất. Khi linh hồn rút lên óc, nó sẽ khơi
động các ký ức, cả cuộc đời sẽ diễn lại như cuốn
phim. Hiện tượng này gọi là “hồi quang phản chiếu” (Memory
projection). Đây là một giây phút hết sức quan trọng vì nó
ảnh hưởng rất lớn đến đời sống cõi bên kia. Sợi dây
từ điện liên hệ giữa thể xác và thể phách sẽ đứt
hẳn. Đây là lúc người chết hoàn toàn hôn mê, vô ý thức
để linh hồn rút khỏi thể phách và thể vía bắt đầu lo
bảo vệ sự sống của nó bằng cách xếp lại từng lớp
nguyên tử, lớp nặng bọc ngoài và lớp thanh nhẹ ở trong.
Sự thu xếp này ấn định cõi giới nào vong linh sẽ đến.
-
Ông du hành sang cõi âm thế nào ?
-
Nói như thế không đúng lắm, vì ám chỉ một sự di chuyển
từ nơi này đến nơi khác. Các cõi thật ra ở cùng một nơi
chỉ khác nhau ở chiều không gian và thời gian. Sang cõi âm
là sự chuyển tâm thức, sử dụng giác quan thể vía để
nhận thức chứ không phải đi đến một nơi nào hết. Sở
dĩ cõi trần không thấy cõi âm vì nguyên tử cấu tạo nó
quá nặng nề, rung động quá chậm không thể đáp ứng với
sự rung động nhanh của cõi âm. Quan niệm về không gian cũng
khác vì đây là cõi tư tưởng, nghĩ đến đâu là ta đến
đó liền, muốn gặp ai chỉ cần giữ hình ảnh người đó
trong tư tưởng ta sẽ gặp người đó ngay. Khi di chuyển ta
có cảm giác như lướt trôi, bay bỗng vì không còn đi bằng
hai chân như thể xác.
-
Những người chết nhận thức về đời sống mới ra sao ?
-
Trừ những kẻ cực kỳ hung dữ, ghê gớm, đa số mọi người
thức tỉnh trong cảnh giới thứ năm hoặc thứ sáu, vốn có
rung động không khác cõi trần là bao. Lúc đầu họ còn bỡ
ngỡ, hoang mang nhưng sau sẽ quen đi. Tuỳ theo tình cảm, dục
vọng mà họ hành động. Tôi đã gặp vong linh của một thương
gia giàu có, ông này cứ quanh quẩn trong ngôi nhà cũ nhiều
năm, ông cho tôi biết rằng ông rất cô đơn và đau khổ.
Ông không có bạn và cũng chả cần ai. Ông trở về căn nhà
để sống với kỷ niệm xưa nhưng ông buồn vì vợ con ông
vẫn còn đó nhưng chả ai để ý đến ông. Họ tin rằng ông
đã lên thiên đàng, vì họ đã bỏ ra những số tiền, tổ
chức các nghi lễ tôn giáo rất lớn, một tu sĩ đã xác nhận
thế nào ông cũng được lên thiên đàng. Tôi khuyên ông ta
nên cởi bỏ các quyến luyến để siêu thoát nhưng ông ta
từ chối. Một vài người thân đã qua đời cũng đến tìm
gặp, nhưng ông cũng không nghe họ. Có lẽ ông ta sẽ còn ở
đó một thời gian lâu cho đến khi các lưu luyến phai nhạt
hết. Tôi đã gặp những vong linh quanh quẩn bên cạnh cơ sở
mà họ gầy dựng nên, họ vô cùng đau khổ và tức giận
vì không còn ảnh hưởng được gì, họ rất khổ sở khi
người nối nghiệp, con cháu có quyết định sai lầm, tiêu
phá cơ nghiệp. Tôi đã gặp những người chôn cất của cải,
phập phồng lo sợ có kẻ tìm ra, họ vẫn quanh quẩn gần
đó và đôi khi tìm cách hiện về doạ nạt những người
bén mảng đến gần nơi chốn dấu. Vong linh ghen tuông còn
khổ sở hơn nữa; họ không muốn người họ yêu mến chia
sẻ tình yêu với kẻ khác. Đôi khi họ điên lên khi chứng
kiến sự âu yếm của người họ yêu mến và người khác.
Dĩ nhiên họ không thể làm gì được nên vô cùng khổ sở.
Những nhà lãnh đạo, những vua chúa, những người hống hách
quyền uy thì cảm thấy bất lực khi không còn ảnh hưởng
gì được nữa, nên họ hết sức đau khổ. Hãy lấy trường
hợp một vong linh chết đuối, vì y không tin mình đã chết,
nên cứ ở trong tình trạng lúc chết, nghĩa là ngộp nước.
Vì đầu óc hôn mê, nên y không nhìn thấy cõi âm, mà vẫn
giữ nguyên hình ảnh cõi trần, dĩ nhiên nó chỉ nằm trong
tư tưởng của y mà thôi. Nói một cách khác, thời gian như
ngừng lại, y cứ thế hôn mê trong nhiều năm. Tôi đã cố
gắng thuyết phục nhưng nói gì y cũng không nghe, tôi bèn yêu
cầu y trở về nhà, đầu óc y hôn mê quá rồi, nên cũng không
sao trở về được. Nhờ các bạn bè cõi vô hình, tôi tìm
được tên tuổi, và địa chỉ thân nhân vong linh. Tôi tiếp
xúc với họ và yêu cầu lập một nghi lễ cầu siêu để
cảnh tỉnh vong linh. Nhờ sức chú nguyện mãnh lực của buổi
cầu siêu, tôi thấy vong linh từ từ tỉnh táo ra, nghe được
lời kinh. Y trở về nhà và chứng kiến buổi cầu siêu của
con cháu gần 60 năm sau khi y qua đời. Sau đó y chấp nhận
việc mình đã chết và siêu thoát…
-
Ông cho rằng sự cầu nguyện có lợi ích đến thế sau ?
-
Cầu siêu cho vong linh là một điều hết sức quan trọng và
ích lợi , vì nó chứa đựng một sức mạnh tư tưởng vô
cùng mãnh liệt. Oai lực lời kinh và âm hưởng của nó thật
là vô cùng ở cõi âm nếu người ta tụng niệm chú tâm, sử
dụng hết cả tinh thần. Tiếc thay, người đời chỉ coi tụng
niệm như một hình thức. Họ chỉ biết đọc các câu kinh
trên đầu môi, chót lưỡi chứ không biết tập trung tinh thần,
nên mất đi phần nào hiệu nghiệm. Sự cầu nguyện có một
sức mạnh kinh khủng, có thể dời núi lấp sông, đó là bí
huyết khoa “Mật tông Tây Tạng”.
-
Như ông nói thì tôn giáo Tây Tạng có hiệu nghiệm nhiều
hay sao ?
-
Vấn đề cầu nguyện cho người chết không phân biệt tôn
giáo và cũng không cần theo một nghi thức, nghi lễ nào nhất
định, mà chỉ cần tập trung tư tưởng, hết sức chú tâm
cầu nguyện. Theo sự hiểu biết của tôi thì tôn giáo nào
cũng có những nghi lễ riêng và nghi lễ nào cũng tốt nếu
người thực hành thành tâm.
-
Như vậy nghi lễ rửa tội trước khi chết có ích lợi gì
không ?
-
Một số người tin rằng, hạnh phúc vĩnh cữu của con người
tuỳ thuộc tâm trạng y lúc từ trần. Nếu lúc đó y tin rằng
mình được cứu rỗi thì như được một vé phi cơ lên thiên
đàng, còn không y sẽ xuống địa ngục. Điều này gây nhiều
sợ hãi, lo âu vô ích. Nếu một người chết thình lình thì
sao? Phải chăng họ sẽ xuống địa ngục ? Nếu một tín đồ
hết sức ngoan đạo nhưng chết ngoài trận mạc thì sao ? Họ
đâu được hưởng nghi lễ rửa tội ? Sự chuẩn bị hữu
hiệu nhất là có một đời sống thanh cao, nếu ta đã có
một đời sống cao đẹp, thì tâm trạng khi chết không quan
trọng. Trái lại, ta không thể ao ước một tương lai tốt
đẹp dù tang lễ được cử hành bằng các nghi lễ to lớn,
linh đình nhất. Dù sao, tư tưởng chót trước khi lìa đời
cũng rất hữu ích cho cuộc sống mới bên kia cửa tử . Nó
giúp vong linh tỉnh táo, dễ thích hợp với hoàn cảnh mới
hơn. Một cái chết thoải mái, ung dung phải hơn một cái chết
quằn quại, chết không nhắm mắt được. Theo tôi thì sự
hiểu biết về cõi vô hình, sự chuẩn bị cho cái chết là
điều hết sức quan trọng, cần được phổ biến rộng rãi,
nhưng tiếc là ít ai chú ý đến việc này.
-
Vậy theo ông, chúng ta cần có thái độ gì ?
-
Đối với người Âu tây, đời sống bắt đầu khi lọt lòng
mẹ, và chấm dứt lúc chết, đó là một quan niệm cần thay
đổi. Đời sống cõi trần chỉ là một phần nhỏ của chu
kỳ kiếp sống. Chu kỳ này được biểu hiện bằng một vòng
tròn mà sự sống và chết là những nhịp cầu chuyển tiếp
giữa hai cõi âm, dương, giữa thế giới hữu hình và vô hình.
Trên con đường tiến hoá, còn hằng ha sa số các chu ký, các
kiếp sống cho mỗi cá nhân. Linh hồn từ cõi thượng giới
cũng phải qua cõi trung giới. Phần ở cõi trần chỉ là một
phẩn nhỏ của một kiếp sống mà thôi. Trong chu kỳ này,
phần quan trọng ở chỗ vòng tròn tiến sâu vào cõi trần
và bắt đầu chuyển ngược trở lên, đó là lúc linh hồn
hết tha thiết với vật chất, mà có ý hướng về tâm linh.
Các cổ thư đã vạch ra một đời sống ở cõi trần như
sau : 25 năm đầu để học hỏi, 25 năm sau để lo cho gia đình,
đây là giai đoạn tiến sâu vào trần thế, 25 năm sau nữa
phải từ bỏ việc đời để lo cho tâm linh, đó là thời
điểm quan trọng để đi ngược lên, hướng về tâm linh,
và 25 năm sau chót phải từ bỏ tất cả, chỉ tham thiền,
quán tưởng ở nơi rừng sâu, núi thẳm. Đối với người
Á châu thì 50 tuổi là lúc từ bỏ vật chất để hướng
về tâm linh, nhưng người Âu châu lại khác, họ ham mê làm
việc đến độ mù quáng, cho đến già vẫn tranh đấu hết
sức vất vả, cho dục vọng, cho bản ngã, cho sự sống còn,
cho sự thụ hưởng . Do đó, đa số mất quân bình và khi chết
hay gặp các nghịch cảnh không tốt. Theo ý tôi, chính vì sự
thiếu hiểu biết về cõi âm nên con người gây nhiều tai
hại ở cõi trần. Chính vì không nhìn rõ mọi sự một cách
tổng quát, nên họ mới gây lầm lỗi, chứ nếu biết tỷ
lệ đời sống cõi trần đối với toàn kiếp người, thì
không ai dồn sức để chỉ lo cho 1/3 kiếp sống, mà sao lãng
các cõi trên. Nếu con người hiểu rằng quãng đời ở cõi
trần rất ngắn ngủi, đối với trọn kiếp người và đời
sống các cõi khác còn gần với chân lý, sự thật hơn thì
có thể họ đã hành động khác đi chăng ? Có lẽ vì quá
tin tưởng vào giác quan phàm tục, nên đa số coi thế giới
hư ảo này là thật và cõi khác là không có…
-
Nhưng nếu ông cho rằng các cõi kia còn gần với sự thật
hơn, thì tại sao ta lại kéo lê kiếp sống thừa ở cõi trần
làm gì ? Tại sao không rũ nhau đi sang cõi khác có tốt hơn
không ?
Hamud
mỉm cười :
-
Tuy cõi trần hư ảo, nhưng nó có những lợi ích của nó,
vì con người chỉ có thể tìm hiểu, và phát triển xuyên
qua các rung động thô thiển này thôi. Cõi trần có các bài
học mà ta không tìm thấy ở đâu khác. Chính các bậc chân
tiên, bồ tát trước khi đắc quả vị đều phải chuyển
kiếp xuống trần, làm các công việc vĩ đại như một thử
thách cuối cùng. Muốn khai mở quyền năng, con người phải
tiếp nhận các bài học ở cõi trần, nhờ học hỏi những
bài học này, họ mới trở nên nhạy cảm với các rung động
ở cõi trên.
-
Ông muốn nói sự nhạy cảm như thế nào ?
-
Sự mở mang trí tuệ giống như một máy thu thanh, và các rung
động ví như các tầng sóng. Một người không hiểu biết,
ví như máy thu thanh không bắt trúng đài, không thay đổi băng
tầng. Họ sinh ra sao thì chết cũng vậy, chả học được
điều gì, vì như máy không bắt trúng đài chỉ kêu rè rè.
Một người hiểu biết là người biết thay đổi con người
của mình để bắt trúng những tầng sóng. Dĩ nhiên có nhiều
làn sóng, băng tầng khác nhau và con người sẽ bị tràn ngập
bởi các làn sóng này cho đến khi họ điều hoà, phân biệt
điều hay, lẻ dở, để chọn những bằng tầng thích hợp
hơn. Khi đó, họ bắt trúng những đài phát thanh, nghe được
điệu nhạc họ muốn. Huyền âm của thượng đế lúc nào
cũng vang lừng trong vũ trụ cho những ai muốn nghe, biết chuyển
tâm thức để nghe, biết thay đổi tâm hồn để bắt được
làn sóng thanh cao, tế nhị đó.
Mọi
người gật đầu thán phục vị pháp sư Ai cập đã dùng những
thí dụ cụ thể để giải thích một điều phức tạp. Giaó
sư Mortimer thắc mắc :
-
Ngoài việc khai mở giác quan để nghiên cứu cõi âm, ông còn
làm gì nữa ?
-
Việc nghiên cứu sẽ không có ý nghĩa gì, nếu ta chỉ quan
sát như một khách bàng quang, đứng ngoài nhìn ngắm. Con người
cần học hỏi những điều gì xảy ra khi họ từ trần, để
thay đổi thích hợp với cuộc sống mới, không những cho
họ mà còn cho những người thân. Càng hiểu biết bên kia
cửa tử, họ càng dễ dàng hướng dẫn các vong linh khác.
-
Nói một cách khác, ông hay giúp đỡ những vong linh vừa từ
trần ?
-
Chính thế, đó là công việc của tôi. Phần lớn người chết
thường xúc động và không chấp nhận rằng họ đã chết,
họ muốn bám víu lấy cõi trần, và trở nên các loài ma vất
vưởng. Công việc của tôi là trấn an họ, giải thích cho
họ rằng ở cõi âm nếu muốn siêu thoát cần thay đổi trọn
vẹn lối sống. Việc này dĩ nhiên rất khó vì các vong linh
không chịu nghe, hơn nữa nhiều người luyến tiếc cõi trần
, vì họ có những việc chưa giải quyết xong, tâm hồn họ
chưa được an để siêu thoát. Vì thế sự hiện diện của
một người còn sống như tôi rất hữu ích, tôi có thể giúp
họ hoàn tất các tâm nguyện để họ siêu thoát…
-
Công việc này có kết quả gì không ?
-
Đây là một việc hết sức khó khăn, nên tôi phải kết thân
với một số bạn bè bên cõi âm. Nếu vong linh u mê nhất
định không nghe, thì tôi phải nhờ những bạn bè, người
thân của họ thuyết phục, giúp đỡ. Thí dụ như một vong
linh bị chết trong một trận hoả hoạn tại Luân đôn. Y bị
kẹt trong toà nhà ba tầng, không sao thoát được, nên chết
ngộp bởi khói. Y không tin mình đã chết, nên thần thức
vẫn vùng vẫy, tìm chỗ thoát thân. Tôi khuyên bảo nhưng y
quá lo sợ chết cháy, nên không chịu tin lời tôi. Sau tôi
phải nhờ mẹ y đã từ trần từ nhiều năm trước đến
khuyên bảo thì y mới chấp nhận và siêu thoát.
-
Ông muốn nói rằng thân quyến có thể làm việc đó, dù họ
chết đã lâu ?
-
Dĩ nhiên, sự liên hệ giữa con người với nhau đâu phải
tình cờ mà do nhiều duyên nghiệp từ trước. Nếu sợi dây
thân ái vẫn còn, thì dù qua đời họ vẫn để ý lưu tâm
đến những người họ yêu mến. Dù đã siêu thoát lên cảnh
giới riêng, nhưng họ vẫn sẵn sàng trở lại khuyên bảo,
giúp đỡ con cháu của họ.
- Như
vậy sau khi chết ta có thể gặp lại cha mẹ, ông bà, họ
hàng thân thích hay sao ?
- Dĩ
nhiên, như tôi vẫn nói con người khi sống ra sao thì chết
vẫn vậy, đâu có đổi thay gì. Nếu tình cảm vẫn còn thì
họ vẫn tìm đến gặp nhau. Thật ra nếu ta xem sự chết như
đi du lịch qua một thế giới mới, quang đãng, sáng sủa hơn
thì chúng ta sẽ không có cảm tưởng xa người quá cố. Sự
thật là không có điều gì chia cách linh hồn cả, khi ta yêu
mến ai bằng những rung động chân thành, ta yêu mến họ qua
linh hồn của họ chứ đâu phải chỉ xác thân. Xác tuy hư
hoại nhưng hồn họ vẫn ở quanh ta, tuy ta không thấy họ
nhưng họ vẫn cảm nhận được tình thương của ta. Họ còn
biết các đau buồn, cảm giác của ta, vì họ đọc được
tư tưởng. Dĩ nhiên, nếu họ vẫn theo dõi thì khi ta chết
đi, họ sẽ đón tiếp để trấn an ta. Đây là một vấn đề
cần được lãnh hội cẩn thận, vì khi hiểu biết ta sẽ
không còn sợ hãi, ta chấp nhận sự chết như một việc hiển
nhiên. Bên kia cửa tử cũng như cõi trần, luật thiên nhiên
luôn luôn biểu hiện và hết sức công bằng.
- Làm
sao chúng tôi có thể biết chắc rằng khi chết ta sẽ gặp
người thân ?
- Như
tôi đã trình bày, có bảy cảnh ở cõi trung giới và sự
thức tỉnh ở cảnh nào hoàn toàn tuỳ theo tâm thức con người
rung động cùng với nhịp rung của cảnh đó. Con người chỉ
có thể tiếp xúc với vong linh ở cảnh đó hoặc cảnh thấp
hơn mà thôi. Đa số những người qua đời đã lâu, thể vía
đã được thanh lọc nên thường sống ở cảnh giới cao hơn,
do đó họ có thể tiếp xúc với những người ở cảnh giới
thấp hơn nếu họ muốn. Ngược lại những kẻ thức tỉnh
ở cảnh thứ bảy hay thứ sáu chỉ muốn tìm về cõi trần
mà thôi, ít khi ý thức cảnh giới khác. Có nhiều vong linh
sau khi đã lên đến cảnh giới cao lại tìm về những cảnh
thấp hơn, không phải họ ham mê gì cõi này, nhưng vì lòng
thương người, họ muốn giúp đỡ những người cùng cảnh
ngộ, những kẻ lạc lõng, bơ vơ không ý thức.
Xem
Tiếp Trang 2 của Chương 8