Chương
VIII
Cõi
Giới Vô Hình (tiếp
theo)
Hamud
im lặng một lúc rồi thong thả :
- Cứu
trợ, giúp đỡ các vong linh bên kia cửa tử là một điều
hết sức cần thiết vì người chết thì nhiều, mà người
hiểu biết lại chẳng có bao nhiêu….
-
Nhưng đâu phải ai cũng làm được việc này, phải có các
quang năng đặc biệt như ông, hay đợi lúc chết mới giúp
đỡ được chứ…
Hamud
lắc đầu :
-
Không phải khi từ trần mới làm được việc này. Khi còn
sống ta vẫn có thể làm được mà cũng không cần khai mở
quang năng nào cả. Bất cứ ai biết suy nghĩ đều có thể
làm được. Các ông nên hiểu rằng khi ngủ, thể vía của
ta được tự do có thể hoạt động bên cõi âm. Nếu ta tập
trung tư tưởng trước khi ngủ vào một sự giúp đỡ, an ủi
nhắm mục đích hướng dẫn, cứu trợ tất cả mọi người
không phân biệt thì điều này sẽ được thực hiện.
-
Chỉ thế thôi ư ? Như vậy thì ai làm chẳng được ?
-
Dĩ nhiên, điều này không nguy hiểm gì hết vì tư tưởng
có một sức mạnh thần giao đặc biệt và có một mãnh lực
phi thường ở cõi âm. Nếu ta tập làm những việc này khi
còn sống, ta sẽ không bỡ ngỡ, ngạc nhiên khi qua cõi bên
kia vì ta đã quen thuộc với nó rồi. Ta còn gặp những người
nhờ tư tưởng của ta mà được giúp đỡ, dĩ nhiên là họ
sẽ đón tiếp ta nồng hậu và từ đó sẽ tiếp tục làm
những công việc này…
-
Làm sao có thể dễ dàng như thế được ?
Hamud
mỉm cười :
-
Nghe thì dễ thật nhưng nó đòi hỏi một sự quyết tâm. Thứ
nhất việc làm của ta phải bất vụ lợi, vị tha, vô tư
vì cõi âm là cõi tư tưởng . Nếu ta có ý định mưu đồ
việc gì, những người khác biết ngay và hậu quả lại chưa
biết thế nào mà lường được. Thứ hai, đa số vong linh
đều u mê, ngoan cố, rất khó thuyết phục, vì các nghiệp
quả trói buộc hoặc lưu luyến cõi trần vì con cháu khóc
than, thương tiếc quá làm họ đâm ra xúc động khó siêu thoát.
Do đó, công việc này đòi hỏi sự tế nhị, khéo léo và
một tâm hồn an tĩnh, không bối rối, xúc động. Nhưng khi
ta đã phát tâm thì tư tưởng này sẽ là một khí cụ rất
tốt giúp đỡ ta rất nhiều. Theo ý kiến của tôi, thì việc
có một kiến thức rộng rãi về cõi âm là căn bản đầu
tiên.
Giáo
sư Allen lắc đầu :
-
Nếu nói rằng khi ngủ, ta qua cõi âm. Tại sao tôi không ý
thức một tí gì cả ? Phải có một bằng chứng nào rõ rệt
mới tin như vậy được .
-
Các ông hiểu thế nào về sự cấu tạo của con người. Trong
lúc tỉnh, thể vía là cây cầu cho tâm thức. Mọi sự va chạm,
rung động, cảm xúc bên ngoài do hệ thần kinh giao cảm, được
thể vía chuyển vào tâm thức, sau đó mới ghi nhận ở khối
óc. Bằng chứng là ta suy nghĩ trước khi ta hành động có
phải không ? Nguyên nhân giấc ngủ là sự mệt mỏi của thể
xác. Nó cần phục hồi sức khoẻ nên nằm yên, nhưng thể
vía lại khác. Nó vẫn hoạt động vì bằng chứng là đôi
khi ngủ say nhưng ta vẫn ý thức mọi việc xảy ra chung quanh,
có đúng thế không ? Thể vía luôn rung động để đáp ứng
với hoàn cảnh chung quanh, vì tính chất này nó rất mẫn cảm
với các rung động của bản năng, ham muốn, dục vọng. Các
tính xấu như giận hờn, oán ghét chẳng qua là sự cô đọng
của tư tưởng mà thôi. Sự cô đọng này tạo thành một
lớp vỏ bao trùm lên thể vía, và ảnh hưởng của nó. Do
đó, tính tình con người chỉ là một thói quen của tư tưởng.
Như tôi đã trình bày, tư tưởng thanh cao cũng như hèn hạ
đều bị thu hút vào thể vía và trực tiếp ảnh hưởng đến
tình cảm con người. Bằng chứng là một người có tâm hồn
thanh khiết không thể hợp với những nơi ồn ào náo nhiệt,
ngược lại kẻ có tâm hồn náo động không thể chịu nơi
vắng vẻ, êm đềm. Có người tự hỏi, tại sao họ không
thể ngồi yên một chỗ, không thể tu tập các pháp môn thiền
quán ? Ấy vì thể vía họ lao chao, giao động. Họ cần biết
cách chủ trị tình cảm, thanh lọc thể vía. Các món đồ
ăn nặng trọc như thịt cá, rượu, các chất kích thích cũng
đem vào thể vía những phần nặng trọc. Người tu phải triệt
để từ bỏ các món ăn này, vì nó rất có hại cho việc
tham thiền, quán tưởng. Thể xác và thể vía liên lạc với
nhau qua bảy trung tâm giao điểm sinh lực gọi là Luân xa. Tại
đây, có một tấm màn cấu tạo bằng nguyên tử cõi trần
để ngăn chận ảnh hưởng cõi âm. Vì thế, ký ức và sinh
hoạt lúc ngủ không chuyển sang khối óc vật chất. Tuy nhiên,
đôi khi ngủ dậy ta vẫn mường tượng có một cái gì mà
không sao nhớ được. Đối với một người bình thường
thì luân xa không thức động nên tấm màn này khép chặt nhưng
rượu, thịt, các chất kích thích có thể phá hoại tấm màn
này khiến nó bị rách và ảnh hưỏong cõi âm có thể chuyển
qua cõi trần khiến y bị điên khùng hay rối loạn hệ thần
kinh. Có khi cá nhân mất tự chủ, bị các loài ma quỷ nhập
vào sai khiến.
Giáo
sư Allen lên tiếng :
-
Những điều ông trình bày rất lạ lùng, nhưng cũng có lý.
Tuy nhiên, theo sự hiểu biết của chúng tôi thì khoa học không
thể chứng minh điều này. Liệu có cách nào khiến chúng tôi
cũng khai mở các quan năng để nghiên cứu cõi giới vô hình
như ông không ?
Hamud
gật đầu :
-
Sự khai mở quyền năng thuộc phạm vi tâm thức, trước khi
mở tâm phải tinh luyện các thể đã. Nếu chưa thanh lọc
được các thể thì đừng nói đến khai mở bất cứ một
giác quan nào.
-
Vậy ta phải luyện các thể bằng cách nào ?
-
Tinh luyện thể trí bằng sự suy tư chân chính. Trí tưởng
tượng con người là một công cụ sáng tạo hữu hiệu. Khi
ta suy tư, tưởng tượng, ta vô tình xây dựng thể trí. Nếu
ta chỉ suy tư những điều tốt lành, cao thượng thì ta đã
luyện trí rồi. Sau thể trí là thể vía, thể này chỉ luyện
bằng cách ham muốn chân chính. Hãy ham mê các điều cao thượng
thì tự khắc thể vía sẽ phát triển.
-
Ông nói nghe thật dễ dàng. Tư tưởng cao thượng và ham muốn
chân chính là những điều trừu tượng, làm sao có thể làm
được…
-
Đa số mọi người quan niệm như thế nên chả khi nào tiến
bộ được. Con người muốn quyền năng, giải thoát nhưng
chỉ chờ đợi một phép lạ, một tha lực ngoại giới, chứ
không tự tin rằng mình có khả năng làm những việc đó.
-
Dù tôi muốn thanh lọc các thể thì cũng phải có một phương
pháp, một sự hướng dẫn, một kỹ thuật nào đó, chứ nói
một cách trừu tượng thì ai nói chẳng được.
-
Theo sự hiểu biết của tôi thì tôn giáo nào cũng dạy những
điều cao đẹp và áp dụng những lời dạy này. Đây cũng
là một phương pháp, kỹ thuật thanh lọc các thể .
-
Như vậy, ông theo phương pháp nào ? Hãy nói về kinh nghiệm
của ông đã…
Hamud
trầm ngâm rồi gật đầu :
-
Được lắm, tôi được truyền thụ phương pháp này tại
một tu viện ở Tây Tạng, nên chịu ảnh hưởng Phật giáo
rất nhiều. Thứ nhất là luyện thể xác, phải biết cách
kiểm soát, kiềm chế thể xác hoàn toàn, quy định mọi hoạt
động như ăn, uống, ngủ cho thật đúng. Thức ăn được
phân làm ba loại : tỉnh, động và điều hoà. Người tập
phải tránh đồ ăn “tỉnh” vì nó làm thể xác hôn mê,
lười biếng, bất động. Các thức ăn có đặc tính “tỉnh”
là các món đang lên men, các thứ đồ khô, các loại rượu.
Các món ăn có đặc tính “động”, như thịt, cá, thường
đem lại các kích thích hăng hái nhất thời, xác chết thú
vật gồm nhiều nguyên tử nặng nề bởi các thú tính thấp
hèn không thích hợp cho việc tu hàn, thanh lọc. Chỉ có các
món ăn “điều hoà” là thứ có khả năng tăng trưởng,
chứa nhiều sụ sống như ngũ cốc, vì nó đâm mầm, nẩy
lộc, các loại trái cây vốn tràn đầy nhựa sống, các loại
rau cỏ vốn hấp thụ khí thái dương cần thiết cho một thể
xác cường tráng, nhạy cảm. Sau việc ăn uống, còn phải
thở hít, hô hấp cho đúng cách. Khoa học chứng minh con người
sống được là nhờ hơi thở nhưng thật ra đó nhờ sinh khí
(prana). Chính các sinh khí này thấm nhuần khắp cơ thể, mang
sự sống đến khắp tế bào. Prana xuất phát từ ánh sáng
mặt trời, nó rung động và pha trộn trong không khí. Bằng
cách hô hấp thật sâu, thong thả. Prana sẽ thấm vào thần
kinh hệ và lưu thông khắp châu thân, mang sự sống khắp xác
thể. Chính các Prana tích tụ trong hệ thần kinh tạo ra luồng
“nhân điện”, một yếu tố quan trọng của sự sống.
Tóm
lại, dinh dưỡng đúng cách bằng các món ăn có đặc tính
“điều hoà”, tập thở hít đúng cách là phương pháp tinh
luyện thể xác vô cùng quan trọng. Như các ông thấy, phương
pháp này không có gì trái với khoa học hiện tại. Cách thực
hành có thể khác nhau tuỳ cá nhân, người gọi là thể dục,
kẻ gọi là thiền định, điều này không quan trọng vì căn
bản chính chỉ nhằm đem lại một thể xác lành mạnh, cường
tráng. Người luyện thể xác cần sống nơi thoáng khí, nhiều
ánh sáng mặt trời để đón nhận các sinh lực prana, nhằm
bổ túc luồng nhân điện. Các món ăn như thịt cá mang lại
các rung động thô bạo, khiến luồng nhân điện này chạy
loạn lên khó kiểm soát, gây nên các bệnh tật hoặc phá
hoại hệ thần kinh. Các món ăn “tỉnh” như rượu làm tê
liệt bộ thần kinh khiến luồng nhân điện bị ngắt quãng
không đều, ngăn trở các sinh khí prana lưu thông mang sinh lực
nuôi thể xác, gây nên nhiều hậu quả không tốt.
Sau
khi thanh lọc thể xác, ta bắt đầu luyện đến thể vía.
Thể vía là trung tâm của tình cảm, một khi tình cảm trong
sạch, vị tha, bác ái, đương nhiên các chất thanh nhẹ sẽ
được hấp thụ vào và các chất nặng trọc, xấu xa sẽ
bị đào thải ra ngoài, theo một nguyên lý giống như sự thấm
lọc (osmose). Khi thể vía thanh cao, nó sẽ rung động với các
tư tưởng cao thượng mang tâm thức lên một bình diện cao
hơn. Khi sự rung động đến một chu kỳ nào đó, các giác
quan thể vía bắt đầu khai mở tự nhiên, con người sẽ bắt
đầu có quyền năng đặc biệt. Nói một cách khoa học hơn,
các giác quan thể vía chỉ hoạt động ở một chu kỳ và
chỉ khi nào thể vía rung động đúng chu kỳ này nó mới được
đánh thức để hoạt động. Thể vía chỉ có thể rung động
ở chu kỳ này vì nó được cấu tạo bằng những nguyên tử
thật thanh, nhẹ, khi những nguyên tử nặng trọc bị khu trục
hết. Điều này chỉ xảy ra khi con người chỉ có các tình
cảm cao thượng, lòng bác ái tốt lành bao trùm mọi vật.
Đó là bí quyết cách luyện thể vía.
Khi
bảy giác quan của thể vía hoạt động, nó sẽ khai mở một
số bí huyệt để luồng hoả hầu Kundalini thức giấc. Khi
luồng hoả hầu này chạy dọc theo xương sống lên đỉnh
đầu, nó sẽ thúc đẩy, khai mở thể trí khiến nó khai triển
để hợp nhất với chân thần. Khi thể trí khai triển, mở
lớn ra nó sẽ khởi sự tiêu diệt cái phàm ngã ích kỷ của
con người để hướng đến các điều thánh thiện. Đây là
một giai đoạn vô cùng khó khăn, rất ít ai vượt qua nổi.
Danh từ Phật giáo gọi là Phật tánh biểu lộ, danh từ Thiên
chúa giáo gọi là quên mình để hoà nhập với đấng cứu
thế, danh từ Ấn giáo gọi là sự hợp nhất với Chân Ngã.
Nói một cách giản dị thì đây là lúc trí tuệ quy kết các
tư tưởng và hoạt động về tình huynh đệ, bác ái nhu thuận,
từ bi, trí tuệ, vị tha, hỷ xả để kết tinh thành chân
ngã. Khi phàm ngã hoàn toàn bị huỷ diệt, các thể cũng hoàn
toàn được thanh lọc thì không còn sự phân biệt giữa ta
và tha nhân, giữa chủ thể và đối tượng mà tất cả đều
là một. Thể trí không còn tính cách cá nhân mà đã thành
“đại trí”, hay trí tuệ “bát nhã”. Tâm thức cũng không
còn là tâm cá nhân mà thành tâm thức “bồ đề”, hoà hợp
hoàn toàn với tâm thức vũ trụ. Cả tâm lẫn trí mở rộng
đón nhận ánh sáng chân lý mà không còn phải học hỏi, lý
luận gì nữa. Đây chính là giai đoạn giác ngộ của người
tu. Họ trở nên một đấng siêu nhân, một vị Tổ, một vị
Thánh…
Giáo
sư Evan-Wentz thắc mắc :
-
Căn cứ vào đâu ta biết được như vậy ? Phải có bằng
chứng gì chứ ?
Hamud
lắc đầu :
-
Các kinh nghiệm quý báu, thiêng liêng đó chỉ có các bậc
giác ngộ rồi mới hiểu được. Không một vị thánh nào
vỗ ngực tự xưng đã đạt quả vị này hay quyền năng nọ.
Khi đã giác ngộ thì chức tước, danh vọng, địa vị đâu
có nghĩa lý gì nữa, vì họ đâu còn bản ngã thấp hèn như
chúng ta để phân biệt. Chỉ có các “bậc lừa bịp”, các
tu sĩ giả mạo mới thích danh vọng, chức tước , vì bản
ngã họ còn to lớn và cần các danh xưng, địa vị để lừa
bịp tín đồ nhẹ dạ.
-
Trên nguyên tắc thì như vậy, nhưng còn phương pháp, kỹ thuật
thì sao ?
-
Phương pháp, kỹ thuật thì rất nhiều, con đường đến chân
lý cũng thế, tuỳ theo nhân duyên, căn cơ cá nhân không thể
áp dụng một kỹ thuật nào cứng nhắc được. Phương pháp,
kỹ thuật có thể khác nhau, nhưng nguyên tắc chỉ có một.
Sự thật là chân lý luôn luôn được truyền dạy dưới hình
thức này hay hình thức khác., tuỳ theo điều kiện, hoàn cảnh
và phương tiện. Phương pháp tuy khác nhưng chân lý vẫn là
một giống như nước suối hay nước sông vẫn là nước mà
thôi. (Tuỳ duyên bất biến). Chân lý có thể được truyền
dạy bởi những thầy phù thuỷ trong các bộ lạc man dã hoặc
các bậc giáo chủ trong kinh điển tôn giáo. Kinh điển hay
tôn giáo có thể khác nhau về hình thức nhưng vẫn có điểm
tương đồng mà ta phải chấp nhận.
-
Chấp nhận phải chăng là một hình thức của tin tưởng ?
-
Con đường đạo đòi hỏi một đức tin, nhưng không phải
nhắm mắt tin tưởng bừa bãi. Đức tin chỉ đến sau khi người
tìm đạo tự mình nhận thức rõ ràng, sau khi hiểu biết chứng
nghiệm nó một cách rốt ráo. Các ông là những khoa học gia,
không đời nào các ông tin tưởng một sự kiện gì nếu không
kiểm chứng rõ ràng. Sự nghi ngờ là một điều cần thiết,
nhưng nếu có những sự kiện mà khoa học không thể chứng
minh hay chưa thể chứng minh được, các ông sẽ phải làm
gì ? Phủ nhận chăng ? Nếu phủ nhận, các ông đã bỏ qua
một cơ hội tìm hiểu nghiên cứu. Nếu chấp nhận mà không
kiểm chứng thì các ông đã mù quáng tin tưởng bừa bãi.
Tôi không mong các ông phải tin tưởng những điều tôi trình
bày, nhưng mong các ông hãy suy gẫm, nghiên cứu nó. Nếu chưa
thể sử dụng các dụng cụ khoa học thực nghiệm để chứng
minh thì hãy sử dụng lý trí, trực giác, vì sự nghiên cứu
cõi âm là một khoa học, chứ không phải một sự tin tưởng
bừa bãi. Kiến thức về cõi giới này sẽ giúp đỡ nhiều
người, tôi tin rằng trong một ngày không xa sẽ có nhiều
cuộc nghiên cứu về đối tượng này.
-
Tại sao ông không công bố những khám phá của mình cho mọi
người ? Tại sao ông lại ẩn thân một nơi hoang vu như thế
này ? Nếu ông muốn, kiến thức của cõi giới này được
nghiên cứu rộng rãi thì ông phải là người khởi xướng
nó lên để mọi người được biết , và biết đâu sau đó
lại chẳng có những cuộc nghiên cứu ?
Hamud
mỉm cười :
-
Khi trình độ con người chưa đến lúc, thì có những điều
chưa thể công bố được. Các bậc giáo chủ ngày trước
đã giảng dạy chân lý làm thành hai phần, Công truyền và
Bí truyền . Tại sao các ngài lại dạy riêng cho một thiểu
số môn đồ giáo lý Bí truyền ? Phải chăng các ngài biết
chỉ một thiểu số người mới có thể lãnh hội được
những điều ngài giảng dạy. Khoa học nghiên cứu về cõi
âm cũng có những sự nguy hiểm riêng của nó, không thể truyền
dạy bừa bãi cho tất cả mọi người.
-
Xin ông giải thích rõ hơn về việc này, tại sao lại nguy
hiểm ?
-
Tôi vừa trình bày cho các ông một phương pháp tinh luyện
các thể như tôi đã được truyền dạy. Dĩ nhiên, còn có
nhiều phương pháp khác cũng mang lại các kết quả tương
tự nhưng cứu cánh lại khác hẳn. Có hàng trăm phương pháp
phát triển năng khiếu thần thông, nhưng người tu phải hiểu
rằng quyền năng chỉ là những phương tiện thấp thỏi, giúp
ta mở rộng kiến thức. Quyền năng không bao giờ là một
cứu cánh, một mục đích. Sự tham luyến, vọng tưởng sẽ
đưa người có quyền năng vào ma đạo. Người tu hành cần
ý thức rõ rệt rằng chỉ khi nào phàm ngã hoàn toàn bị tiêu
diệt thì con người mới thoát khỏi ảo ảnh của màn vô
minh và thực sự chứng nghiệm chân lý. Quyền năng càng cao
ta càng phải lập hạnh, nghiêm khắc giữ gìn đề cao cảnh
giác các ảo ảnh của vô minh….
-
Ông nói đến vô minh như một cái gì trừu tượng, liệu ông
có thể lấy một thí dụ dễ hiểu hơn không vì danh từ này
còn xa lạ với chúng tôi ?
-
Hãy lấy thí dụ một người tu hành công phu khổ luyện đã
bắt đầu khai mở vài quyền năng thô thiển như Thần Nhãn
chẳng hạn. Vì số người có quyền năng này ở cõi trần
rất ít, người đó tưỏong mình tiến bộ vượt bực, đã
trở nên một đấng này, đấng nọ. Lòng kiêu căng phát triển
xúi dục họ nghĩ rằng mình đã đắc quả vị lớn lao, đã
được giao phó các sứ mạng cao cả. Họ tự phong cho mình
những chức tước, danh vọng hoặc đôi khi tín đồ xưng tụng
cho họ là đấng này, đấng nọ, thì họ cũng chấp nhận
tuốt. Họ nghĩ mình đã sáng suốt, cao cả thì còn lầm lạc
thế nào được nữa… Họ đâu hiểu rằng trong cõi âm có
rất nhiều vong linh bất hảo hay tìm cách hướng dẫn sai lạc
những người non nớt vừa bắt đầu khai mở quyền năng.
Dĩ nhiên với trí tuệ nông cạn, họ không có một tiêu chuẩn
nào để xét đoán, hiểu biết những hiện tượng, những
điều họ nhìn thấy và trắc nghiệm xem điều đó có hợp
với chân lý hay không ? Bởi thế họ dễ bị lung lạc để
trở nên một tay sai đắc lực của các vong linh, ma quỷ, các
sinh vật vô hình. Như các ông đã thấy những pháp sư, thầy
phù thuỷ, các tu sĩ thiếu sáng suốt, thiếu công phu tu hành,
thiếu trì giới, đều rơi vào cạm bẫy của vô minh cả.
Họ có một vài quyền năng thật nhưng không sử dụng nó
vào mục đích giúp dời mà sử dụng vào các việc ích kỷ
hại nhân…
-
Nhưng làm sao tránh được các điều này ? Làm sao một người
mới bắt đầu có quyền năng biết được những điều mình
nhìn thấy không phải là ảo ảnh của vô minh, những điều
mình chứng nghiệm không phải sự truyền dạy vu vơ của loài
sinh vật vô hình ?
Hamud
nghiêm trang tuyên bố :
-
Người nào sống một đời tinh khiết về tư tưởng và hành
động, không bị ô nhiễm bởi ích kỷ thì sẽ được che
chở. Với các rung động thanh cao, các ảnh hưởng xấu không
thể xâm nhập, các vong linh bất hảo thấy người đó không
có gì để chúng lợi dụng được. Trái lại, một người
còn nhiều tham vọng, thiếu công phu trì giới thì chính sự
rung động bất thiện phát xuất từ nội tâm người đó,
sẽ hấp dẫn các vong linh, ma quái đến quanh. Trong họ còn
đầy đủ các khí cụ như Tham, Sân, Si, ích kỷ, mê muội
thì quá dễ dàng để các vong linh lợi dụng. Một tu sĩ bất
cứ tôn giáo nào cũng đều phải giữ giới, tuân các điều
răn vì các bậc giáo chủ sáng lập tôn giáo đã đi qua con
đưòong đó, đã biết các hiểm nguy và đặt ra cấm điều
để cho người theo sau biết đường mà tránh.
-
Nhưng các lối tu luyện thần thông vào mục đích nhất định
như chữa bệnh thì sao ?
-
Điều này tuỳ tâm thức người luyện, nhưng theo sự hiểu
biết của tôi thì bất cứ lối tập luyện nào thiếu sự
đứng đắn đều đưa vào con đường nguy hiểm. Các ông nên
biết một khi có quyền năng, dù là một quyền năng hạ cấp
rất thô thiển, kẻ sự dụng nó đều có thể làm nhiều
việc mà người bình thường cho là “phi thường”, vì đa
số nhân loại chưa có khả năng đó. Điều này khiến kẻ
luyện dễ trở nên kiêu căng và nếu không có tâm trong sạch,
y có thể sử dụng quyền năng này vào các điều tà vạy.
Giáo
sư Allen lắc đầu :
-
Ông nói điều xấu, điều tốt như có một tiêu chuẩn rõ
ràng vậy. Tại sao ông không nghĩ xấu hay tốt chỉ là những
điều tương đối. Một điều người Âu cho là vô lý có
thể người Á châu lại chấp nhận như một sự kiện hữu
lý.
Hamud
gật đầu :
-
Đúng thế, quan niệm xấu tốt, thiện ác ít nhiều chịu ảnh
hưởng xã hội, nhưng vượt lên cao hơn nữa, chúng ta vẫn
có luật vũ trụ kia mà. Theo sự hiểu biết của tôi, thì
có hai con đường: Chánh đạo và Tà đạo. Con người làm
chuyện tà đạo là khi y dùng quyền năng tiềm tàng của mình
để mưu lợi riêng cho sự phát triển cá nhân, và sẵn sàng
hy sinh hạnh phúc của kẻ khác. Phát triển cá nhân ở đây
có nghĩa là sự bành trướng về giác quan, cảm xúc hay tri
thức của cá nhân, mà không kể gì đến sự thiệt hại cho
kẻ khác. Một người lợi dụng sự ngu dốt, yếu đuối của
kẻ khác để thu lấy ít lợi lộc về tiền bạc hay thoả
mãn tham vọng cá nhân tức là đang đi trên con đường tà
đạo. Nếu y có chút quyền năng, y sẽ trở nên ghê gớm như
thế nào ? Chánh đạo cũng là việc sử dụng những quyền
năng của mình, nhưng để phụng sự nhân loại. Trong khi phụng
sự, con người sẵn sàng hy sinh mọi tiện nghi, tham vọng cá
nhân mình để làm việc hữu ích cho kẻ khác. Kẻ phụng sự
dứt tuyệt các thú vui về giác quan, từ bỏ mọi tôn kính
chính đáng mà y có quyền hưởng thụ, dẹp bỏ cái phàm ngã
cá nhân, chỉ nên chú trọng đến mục đích đạt đến sự
toàn thiện. Tà đạo sử dụng quyền năng qua các hình thức
lễ nghi, cúng bái trợ lực để tạo nên các đoàn thể hình
thức. Các hình thức này có thể là vật chất hay một tổ
chức mà công cụ của nó không phải lo cho đời sống hay
một lý tưởng cao thượng mà chỉ là một hình thức phát
biểu cho quan niệm riêng của mình. Chánh đạo là sử dụng
các quyền năng cố hữu của bản chất con người để vượt
qua mọi hạn định của hình thức. Để giải thoát tâm hồn
khỏi các trói buộc của cảm giác, của sự tưởng tượng
hay xu hướng nhất thời. Để tránh các cám dỗ, lừa gạt
của vô minh, để phục vụ cái phần tử thiêng liêng của
bản thể vũ trụ. Một người nghiên cứu huyền môn có thể
đi trên đường chánh cũng như tà. Họ có thể tìm cách phát
triển cá nhân qua sự tự chủ gắt gao để khai mở các quyền
năng, thu thập kiến thức. Họ cũng có thể ao ước cõi thiên
đàng mở rộng trong lòng mọi người, và chính trong họ, qua
các hành động bác ái, vị tha. Trong hai trường hợp, hạng
đầu cầu mong kiến thức, quyền năng; hạng sau muốn trở
nên người hữu dụng. Càng đi xa thì sự tiến bộ càng khác
biệt. Người sử dụng kiến thức, quyền năng để phụng
sự, sẽ trở nên một bậc “Bồ Tát” (Bodhisattva), và chỉ
có trái tim Bồ Tát mới là ánh sáng soi đưòng, chỉ lối
giúp họ đi trọn vẹn con đường đạo. Người cầu trí thức
cho mình chỉ quanh quẩn trong phạm trù cá nhân một lúc, thiếu
từ bi, trí tuệ, y rất dễ bị sa ngã vào ma đạo lúc nào
không hay. Không có trí tuệ bát nhã soi đường, y dễ trở
thành nạn nhân của vô minh. Điều này cũng như một người
đi biển mà không có bản đồ, la bàn định hướng, mà đi
bừa bãi thì làm sao đến nơi được. Đường đạo cũng thế,
một tu sĩ phải trì giới nghiêm minh để tu thân, nhưng vẫn
chưa đủ, mà còn phải lập những hạnh nguyện, xác định
mục đích rõ ràng để hành động. Có tu thì phải có hành,
phải biết đem kiến thức của mình ra để giúp ích cho những
người khác. Trí tuệ phải đi đôi với Từ Bi. Có “Trí”
mà thiếu “Tâm” chỉ là mớ kiến thức vô dụng, một cái
xác không hồn. Có “Tâm” mà thiếu “Trí” cũng không được
vì sẽ dễ sa ngã, đi lầm vào tà đạo. Đó là điều đã
xảy ra trong quá khứ, các tu sĩ thiếu kiến thức, trí tuệ,
đã bị vô minh che phủ. Họ coi thượng đế như một đấng
thần linh để thờ phụng, tách ngài ra khỏi tín đồ và dạy
bảo rằng thượng đế cao siêu quá, không thể nói chuyện
với những người tầm thường được, mà phải qua trung gian
của giới tăng lữ. Họ đặt đủ các ngôn từ hoa mỹ, thêu
gấm dệt hoa vào giáo điều để tín đồ quay cuồng trong
ngôn ngữ, mà xa lánh chân lý thực tế. Dần dần các chân
lý cao đẹp bị bao phủ bằng các hình thức mê tín dị đoan,
các điều xằng bậy, và đưa đến chỗ suy tàn…. Đó là
điều đã xảy ra cho tôn giáo Ai Cập.
Giáo
sư Evan-Wentz ngắt lời :
-
Xin ông nói rõ hơn về sự suy tàn của nền văn minh Ai cập.
Lịch sử vẫn chưa hiểu tại sao nền văn minh này lại suy
tàn nhanh chóng như vậy ?
Hamud
ngồi im lặng như hồi tưởng một ký ức xa xôi nào đó,
một lúc sao y gật đầu :
-
Có nhiều giả thuyết về sự suy tàn của nền văn minh Ai
cập. Đa số đỗ lỗi cho chiến tranh, bệnh dịch, thiên tai,
nhưng ít ai biết rõ nguyên nhân sâu xa. Tôi không có ý muốn
tiết lộ những điều này, vì mục đích buổi tiếp xúc hôm
nay là nói chuyện, tham khảo về cõi giới vô hình. Tuy nhiên,
tôi sẵn sàng tiết lộ những điều thầm kín như một nhân
duyên đặc biệt với các ông. Điều này không phải tự ý
tôi, nhưng do một thông điệp tư tưởng của một vị chân
sư chuyển giao. Tôi muốn tiết lộ những điều này như một
cảnh cáo đối với thế giới ngày nay, để họ không đi
vào vết xe của quá khứ…
Một
lần nữa, sự hiện diện của một vị chân sư bí mật lại
được nhắc đến khiến mọi người vô cùng cảm kích. Vị
pháp sư Ai cập ngửa mặt nhìn lên trời như ôn lại dĩ vãng
:
-
Trong thời buổi vàng son, nền văn minh Ai cập đã đến lúc
cực thịnh. Các đạo viện với những minh sư truyền dạy
khoa học huyền môn, đưa dân trí đến một mức tiến bộ
vượt xa thời buổi hiện nay. Tuy nhiên, theo thời gian, nhiều
tu sĩ đã không giữ gìn giới luật khắt khe, hoặc không thấu
hiểu các giáo điều cao siêu. Họ bèn tìm một lối đi ngắn
hơn và dễ hơn, chú trọng về phương pháp kỹ thuật để
đạt đến quyền năng. Thần thông trở nên mục đích chứ
không phải phương tiện nữa. Để đạt mục đích, họ không
ngần ngại hy sinh quyền lợi tôn giáo, quốc gia… Thiếu sáng
suốt nên họ đi vào ma đạo, và chịu sự sai khiến của
các động lực bất hảo. Các tăng lữ này lập thành phe nhóm,
liên kết lẫn nhau, để tạo một ảnh hưởng cực mạnh,
đến nỗi các vua Pharaoh hách dịch cũng phải kiêng dè. Họ
lạm dụng danh từ tôn giáo, thần linh, truyền bá các tà thuật,
phù phép, thần chú hắc ám để lôi cuốn tín đồ. Dĩ nhiên
với các tà thuật, họ có thể làm mọi thứ mà một người
bình thường vô phương chống lại. Chỉ một thời gian ngắn,
dân chúng đều trở thành nạn nhân của một thứ tà giáo.
Các vị pháp sư trở nên sứ giả của cõi âm, một thứ quỷ
sống đội lốt người. Họ còn kêu gọi những âm binh hung
ác nhất đến giúp họ đạt các mục đích ám muội. Trong
đền thờ, khoa phù thuỷ thay thế sinh hoạt tâm linh và các
tu sĩ chân chính bị loại trừ, đào thải nhanh chóng. Cũng
vì thế, khoa huyền môn chân chính trở nên thất truyền vì
không người tu học, nghiên cứu. Các tu sĩ chân chính phải
trốn tránh, từ bỏ các giáo đường uy nghiêm. Nền văn minh
đặt căn bản trên kiến thức huyền môn cũng tàn lụi, khi
cánh cửa huyền môn chân chính khép chặt. Các ông nên biết,
trong thời cổ, hầu hết các khoa học gia, y sĩ, các nhà toán
học kiến trúc đều xuất thân từ giới tu sĩ hoặc học
hỏi trong các tu viện; vì thời đó, không có trường học
hay nền giáo dục như bây giờ. Khi bùa chú, phép thuật mê
hoặc nhân tâm, thúc đẩy con người từ bỏ thượng đế
để tôn thờ các loài ma quái thì các thứ như chiêm tinh,
toán học, kiến trúc, không còn lý do để tồn tại. Thời
gian trôi qua, nền văn minh Ai cập huy hoàng đã xuống dốc
cực kỳ thảm hại. Chính các tu sĩ lầm lạc, ích kỷ đầy
tham vọng là nguyên nhân gây nên hoàn cảnh trên. Họ lợi
dụng danh nghĩa tôn giáo, một thứ tôn giáo ma quái để đưa
Ai cập vào con đường thoái hoá. Thay vì lo giải thoát cho
chính mình khỏi mê lầm, thì họ lại hướng dẫn quần chúng
vào ma đạo. Thay vì tuân theo các giới luật thì họ lại
phá giới, nguỵ biện bằng các danh từ hoa mỹ, tốt đẹp.
Thay vì kiểm thảo nội tâm, họ lập phe nhóm bênh vực lẫn
nhau để che dấu các hành vi tà muội. Khoa nghi thức hành lễ
mất hết các tính cách thiêng liêng, mà chỉ còn hình thức
bề ngoài, kêu gọi một năng lực ngoại giới đến trợ giúp
quyền uy giáo sĩ. Sự hiến dâng biến thành hối lộ, tu sĩ
lựa chọn các thứ mình thích nhất như món ăn, thiếu nữ
xinh đẹp để tế thần. Sau đó đem chia chác cho nhau cùng
hưởng thụ; thượng đế nhân từ bác ái bỗng biến thành
một thần linh toàn lực, toàn uy, trọn quyển thưởng phạt
mà giới giáo sĩ là trung gian. Để lung lạc nhân tâm, khoa
bùa chú, thôi miên được sử dụng tối đa như một phương
tiện cần thiết để thoả mãn tham vọng cá nhân. Để tránh
các tinh tuý huyền môn không lọt vào tay giới bàng môn tà
đạo, các tu sĩ chân chánh đã sử dụng khoa Ám Tự (chữ
tượng hình cổ Ai cập). Đây là một văn tự huyền bí ẩn
dấu nhiều ý nghĩa tâm linh mà chỉ các tu sĩ chân chính sau
khi vượt qua thử thách mới được tiết lộ. Sự sử dụng
ý nghĩa biểu tượng hoặc tỷ dụ được dùng tối đa, chính
Moses về sau đã sử dụng ngôn ngữ này trong các cuốn sách
của Do thái . Sự bành trướng của nhóm tà đạo quá mạnh,
các tu sĩ chân chính phải rút vào rừng sâu núi thẳm và cuối
cùng thì khoa huyền môn chân chính cũng thất truyền. Một
số giáo sĩ, khoa học gia, các nhà toán học, kiến trúc, trốn
sang Hy Lạp và truyền dạy các khoa này tại đây, mở đầu
cho một nền văn minh mới. Trong khi đó, để lôi cuốn phe
đảng, vấn đề truyền giáo được đặt ra và giới tăng
lữ buộc các vua Pharaoh phải gây chiến tranh để truyền bá
tôn giáo. Các cuộc “thánh chiến” này đã đem lại một
giai cấp mới – Nô lệ .
Giaó
sư Mortimer ngạc nhiên :
-
Như thế lúc trưóoc không có nô lệ hay sao ?
Hamud
lắc đầu :
-
Nền văn minh cổ đặt căn bản trên sự bác ái hoàn hảo
của từng cá nhân, làm gì có vấn đề nô lệ. Hiện tượng
nô lệ chỉ bắt đầu khi văn hoá suy đồi, giới tu sĩ lộng
hành và sau các cuộc chiến tranh. Lúc đầu họ là tù binh
chiến tranh, về sau họ trở thành nô lệ. Sau đó các giáo
sĩ đặt ra luật những ai không cùng tôn giáo đều bị coi
là nô lệ. Dân Do thái vì khác tôn giáo nên trở thành nạn
nhân đầu tiên. Tình trạng nô lệ thay đổi xã hội rất
nhiều, các giáo sĩ không cần sử dụng bùa chú, thôi miên
để thoả mãn dục vọng, các nô lệ đương nhiên phải làm
tất cả những gì chủ nhân muốn. Theo thời gian, pháp môn
phù thuỷ, bùa chú cũng thất truyền vì giới tu sĩ không cần
đến nó nữa. Khi các phép thuật biến mất thì uy tín các
giáo sĩ cũng giảm theo, và các vua Pharaoh bắt đầu hạn chế
quyền lực các giáo sĩ. Khi nền văn minh xuống dốc, các chân
lý tốt đẹp biến mất, đời sống hưởng thụ của tiện
nghi vật chất khiến các vua chúa trở nên ích kỷ, chỉ muốn
kéo dài đời sống, nên phong tục xây cất nhà mồ, ướp
xác trở nên thịnh hành,vì nó hứa hẹn một đời sống vĩnh
cữu. Công cuộc xây cất những ngôi mộ vĩ đại đã làm
khánh kiệt tài sản quốc gia, đưa xã hội Ai cập vào một
tình trạng suy thoái… Do đó, Ai cập trở nên một miếng
mồi ngon cho Ba Tư và Hy Lạp.. Lịch sử đã ghi chép khá rõ
ràng từ lúc này, tôi chắc các ông đã biết rõ….
Phái
đoàn im lặng nhìn nhau, sự suy yếu của Ai cập sau khi bị
Ba Tư, Hy Lạp cai trị không phải là một điều gì xa lạ,
nhưng tại sao một nền văn minh như Ai cập đã xây cất những
Kim tự tháp hùng vĩ, đã sản xuất bao nhân tài, ảnh hưởng
sâu rộng đến toàn cõi Trung đông, lại suy sụp mau chóng
vẫn còn là một câu hỏi lịch sử. Lời giải thích của
Hamud là một chìa khoá vô giá về lịch sử này.
Nhà
pháp sư Ai cập mỉm cười nhìn tất cả mọi người :
-
Lịch sử nhân loại luôn luôn biến đổi theo chu kỳ, nhiều
việc xảy ra trong quá khứ sẽ tiếp diễn lại. Có sống trong
thời buổi đen tối, hỗn loạn, đầy đau khổ hoang mang, nhân
loại mới ao ước cõi tâm linh cao thượng . Nhu cầu này sẽ
được đáp ứng, và một đấng thánh nhân sẽ chuyển kiếp
xuống trần, mở rộng cánh cửa tâm linh, hướng dẫn nhân
loại dưới một hình thức, phương tiện thích hợp với hoàn
cảnh thời gian và không gian khi đó. Điều này đã xảy ra
nhiều lần tại các nơi khác nhau trên thế giới, từ Trung
hoa qua Ấn độ, đến Trung đông. Các bậc thánh nhân đều
rao truyền những chân lý cao siêu, đẹp đẽ, nhưng vì nhân
loại cứ u mê, thiếu hiểu biết, nên chỉ ít lâu sau tất
cả lại quay cuồng vào vết xe cũ. Các chân lý cao đẹp bị
xuyên tạc, sửa đổi, giảng giải sai lạc bởi các giáo sĩ
mê tín, thành kiến , đầy cuồng tín. Dù sao đi nữa bánh
xe tiến hoá vẫn quay đều và trong mọi hoàn cảnh, thời đại
nào cũng có các cá nhân cố gắng vượt mức để tự giải
thoát ra khỏi ảo ảnh của màn vô minh để nhận định chân
lý…
Hamud
im lặng một lúc rồi thong thả :
-
Tôi muốn các ông ghi nhận một điều này, các ông có thể
coi đó như một lời tiên đoán hay cảnh cáo trước cũng được.
Thời gian sắp đến sẽ là một giai đoạn cực kỳ tiến
bộ về tri thức, nhưng thoái bộ về tâm linh. Mọi sự hiểu
biết chỉ nhắm vào hiện tượng thay vì nguyên nhân bản chất.
Do đó, nền khoa học tương lai không thể chuyển biến được
lòng người hoặc giúp cho con người có cái nhìn sáng suốt,
có được một tâm hồn bình an. Nền “khoa học hiện tượng”
chỉ kích thích giác quan, cảm xúc hướng ngoại sẽ khiến
cho con người cực kỳ bất mãn, lo âu và trở nên hoang mang
phiêu bạt. Thêm vào đó, sự khai quật các ngôi cổ mộ Ai
cập sẽ tháo củi xổ lồng cho vô số âm binh, các động
lực cực kỳ hung dữ. Như tôi vừa kể với các ông, thời
kỳ chót của nền văn minh Ai cập, các giáo sĩ đã thực hành
tà thuật tối đa, mà khoa ướp xác là một bí thuật mang
sự liên lạc của cõi vô hình vào cõi trần. Tất cả các
ngôi mộ cổ đều là nơi giam giữ các động lực vô hình
để canh giữ, duy trì ảnh hưởng tà môn. Khi được tháo
củi xổ lồng, chúng sẽ mang nền tà giáo cổ Ai cập trở
lại thế kỷ này. Dĩ nhiên, dưới một hình thức nào nó
hợp thời hơn. Một số pháp sư vốn là sứ giả cõi âm sẽ
đầu thai trở lại, hoặc nhập xác để tác oai, tác quái,
tái tạo một xã hội tối tăm, sa đoạ, đi ngược trào lưu
tiến hoá của thượng đế. Thế giới sẽ trở thành nạn
nhân của thứ tôn giáo ma quái này.. Chiến tranh, đau khổ,
bất an cùng các kích thích của cảm giác mới lạ do nền
“khoa học hiện tượng” mang lại, sẽ thúc đẩy con người
vào các cùng cực của cuộc sống. Trong thời buổi này, khối
óc ly trí không giúp được gì mà chỉ có sự hiểu biết
và ý thức bản chất thầm lặng của nội tâm mới đáp ứng
được. Đó là lối thoát duy nhất mà thôi.
Giáo
sư Allen ngắt lời :
-
Nhưng đã có bằng chứng gì về sự hiện diện của các động
lực vô hình này. Làm sao có thể cảnh cáo mọi người về
sự trở lại của pháp sư thời cổ ? Người Âu Mỹ sẽ chẳng
bao giờ chấp nhận một điều hoang đường, vô lý nếu không
có bằng chứng rõ rệt.
Hamud
mỉm cười bí mật :
-
Cõi âm là đối tượng nghiên cứu của tôi, nên tôi có thể
trình bày một vài dữ kiện để các ông suy nghiệm, như một
bằng chứng. Chuyện xảy ra đã bắt đầu xảy ra, theo thời
gian các ông sẽ thấy. Dù các pháp sư tà đạo thời cổ này
có khéo léo dẫn dụ con người bằng những danh từ hoa mỹ,
những chủ thuyết đẹp đẽ thế mấy đi nữa, thì họ vẫn
chỉ có thể sống như một con người. Dù thế nào họ cũng
không thể bỏ qua các thói quen cũ của quá khứ, họ sẽ đội
lốt tôn giáo, họ sẽ kêu gọi sự hợp tác của thần quyền,
họ sẽ đặt ra các giáo điều mới, thay thế các chân lý
cao đẹp để lôi kéo con người từ bỏ thượng đế. Họ
sẽ sử dụng danh từ, ngôn ngữ để đánh lạc hướng mọi
người, tuy nhiên trước sau gì họ cũng phải chết và trước
khi chết, họ sẽ di chúc yêu cầu ướp xác họ và xây dựng
những nhà mồ vĩ đại bằng đá như họ đã từng làm trong
quá khứ…
Giáo
sư Allen bật cười :
-
Như vậy thì nhận diện họ quá dễ, nhưng tôi không tin thời
buổi này còn ai ướp xác, xây cất nhà mồ như vậy, ông
nên nhớ chúng ta đã bắt đầu vào thế kỷ 20, không phải
tám ngàn năm trước ?
Hamud
mỉm cười :
-
Rồi các ông sẽ thấy, tôi mong các ông ghi chép những điều
này cẩn thận rồi đúng hay sai thời gian sẽ trả lời.
Xem
Tiếp: Chương
9: Hành Trình Về Phương Đông