MỤC
LỤC
Lời
Mở Đầu
Chương
1: Người Đạo Sĩ Thành Benares
Chương
2: Khoa Học Thực Nghiệm và Khoa Học Tâm Linh Bí Truyền
Chương
3: Trên Đường Thiên Lý
Chương
4: Thành Phố Linh Thiêng
Chương
5: Những Sụ Kiện Huyền Bí
Chương
6: Vị Đạo Sĩ Có Thể Chữa Mọi Thứ Bệnh
Chương
7: Đời Sống Siêu Nhân Loại
Chương
8: Cõi Giới Vô Hình
Chương
9: Hành Trình Về Phương Đông
Lời
mở đầu
Trong
cuộc sống vội vã, quay cuồng hiện tại, nhiều người đã
mất đi niềm tin. Họ quan niệm rằng sống để thụ hưởng,
thoả mãn các nhu cầu vật chất vì chết là hết. Không có
Thượng đế hay một quyền năng siêu phàm gì hết. Các đây
không lâu, một tờ báo lớn tại Hoa kỳ đã tuyên bố, “Thượng
đế đã chết!” Tác giả bài báo công khai thách đố mọi
người đưa ra bằng chứng rằng Thượng đế còn sống. Dĩ
nhiên, bài báo đó tạo nên một cuộc bàn cãi rất sôi nổi.
Một nhà thiên văn học tại trung tâm nghiên cứu Palomar cũng
cho biết, “Tôi đã dùng kính viễn vọng tối tân nhất, có
thể quan sát các tinh tú xa trái đất hàng triệu năm ánh sáng
mà nào có thấy thiên đường hay thượng đế cư ngụ nơi
nào?” Sự ngông cuồng của khoa học thực nghiệm càng ngày
càng đi đến chỗ quá trớn, thách đố tất cả mọi sự.
Tuy nhiên, trong lúc khoa học đang tự hào có thể chứng minh,
giải thích tất cả mọi sự, thì một sự kiện xảy ra :
Một phái đoàn ngoại giao do Tiểu vương Ranjit Singh cầm đầu
sang thăm viếng nước Anh. Trong buổi viếng thăm đại học
Oxford, vua Ranjit đã sai một đạo sĩ biểu diễn. Vị đạo
sĩ này đã làm đảo lộn quan niệm khoa học lúc bấy giờ.
Không những ông ta có thể uống tất cả mọi chất hoá học,
kể cả những chất cường toan cực mạnh mà không hề hấn
gì, ông ta còn nhịn thở hàng giờ đồng hồ dưới đáy một
hồ nước. Sau khi để một phái đoàn y sĩ do bác sĩ Sir Claude
Wade khám nghiệm, ông ta còn chui vào một quan tài để bị
chôn sống trong suốt 48 ngày. Khi được đào lên, ông ta vẫn
sống như thường. Đạo sĩ còn biểu diễn nhiều việc lạ
lùng, dưới sự kiểm chứng nghiêm khắc của các khoa học
gia. Điều này gây sôi nổi dư luận lúc đó. Hội Khoa Học
Hoàng Gia đã phải triệu tập một uỷ ban để điều tra những
hiện tượng này. Một phái đoàn gồm nhiều khoa học gia tên
tuổi được chỉ thị sang Ấn độ quan sát, sưu tầm, tường
trình và giải thích những sự kiện huyền bí. Phái đoàn
khoa học đã đặt ra những tiêu chuẩn rõ rệt để giúp họ
quan sát với một tinh thần khoa học tuyệt đối. Không chấp
nhận bất cứ một điều gì nếu không có sự giải thích
rõ ràng, hợp lý. Để soạn thảo bản tường trình, mỗi
khoa học gia trong phái đoàn phải tự mình ghi nhận những
điều mắt thấy, tai nghe vào sổ tay cá nhân. Sau đó, tất
cả cùng nhau so sánh chi tiết và kiểm chứng cẩn thận. Chỉ
khi nào tất cả đều đồng ý thì điều đó mới được
ghi nhận vào biên bản chính. Điều này đặt ra để bảo
đảm cho sự chính xác, không thành kiến đến mức tối đa.
Tất cả những điều gì xảy ra mà không có sự giải thích
khoa học, hợp lý đều bị loại bỏ.
Khi
ra đi, họ không mấy tin tưởng nhưng khi trở về, họ đều
đổi khác. Giáo sư Spalding đã cho biết, “Phương Đông có
những chân lý quan trọng đáng để cho người Tây phương
nghiên cứu, học hỏi. Đã đến lúc người Tây phương phải
quay về Đông phương để trở về với quê hương tinh thần.”
Điều
đáng tiếc là sự trở về của phái đoàn đã gặp nhiều
chống đối mãnh liệt từ một dư luận quần chúng đầy
thành kiến hẹp hòi. Các khoa học gia bị bắt buộc phải
từ chức, không được tuyên bố thêm về những điều chứng
kiến. Sau đó ít lâu, trưởng phái đoàn, giáo sư Spalding đã
cho xuất bản bộ sách, “Life and teachings of Masters of the East”
và nó đã gây ra một dư luận hết sức sôi nổi. Người
ta vội tìm đến những người trong phái đoàn, thì được
biết họ đã rời bỏ Âu châu để sống đời tu sĩ trong
dãy tuyết sơn. Tuy thế, ảnh hưởng cuốn sách này đã tạo
hứng khởi cho nhiều người khác trở qua Ấn độ để kiểm
chứng những điều ghi nhận của phái đoàn. Thiên ký sự
của Sir Walter Blake đăng trên tờ London Scientific cũng như loạt
điều tra của ký giả Paul Bruton, Max Muller đã vén lên tấm
màn huyền bí của Đông phương và xác nhận giá trị cuộc
nghiên cứu này.
Ấn
độ là xứ có rất nhiều tôn giáo. Tôn giáo gắn liền với
đời sống và trở nên một động lực rất mạnh làm chủ
mọi sinh hoạt người dân xứ này. Người Ấn thường tự
hào rằng văn hoá của họ là một thứ văn minh tôn giáo và
dân xứ này được thừa hưởng một kho tàng minh triết thiêng
liêng không đâu có. Vì thế Hội Khoa Học Hoàng Gia đã bảo
trợ cho phái đoàn đến Ấn độ để nghiên cứu những hiện
tượng huyền bí này.
Tuy
nhiên, sau hai năm du hành khắp Ấn độ từ Bombay đến Calcutta,
thăm viếng hàng trăm đền đài, tiếp xúc với hàng ngàn giáo
sĩ, đạo sĩ nổi tiếng , phái đoàn vẫn không thoả mãn hay
học hỏi điều gì mới lạ. Phần lớn các giáo sĩ chỉ lập
đi lập lại những điều đã ghi chép trong kinh điển, thêm
thắt vào đó những mê tín dị đoan, thần thánh hoá huyền
thoại để đề cao văn hoá xứ họ. Đa số tu sĩ đều khoe
khoang các địa vị, chức tước họ đã đạt. Vì không có
một tiêu chuẩn nào để xác định các đạo quả, ai cũng
xưng là hiền triết (Rishi), sư tổ (Guru), hay đại đức (Swami),
thậm chí có người xưng là thánh nhân giáng thế (Bhagwan).
Ấn độ giáo (Hinduism) không có một chương trình đào tạo
tu sĩ như Thiên chúa giáo, bất cứ ai cũng có thể vỗ ngực
xưng danh, ai cũng là tu sĩ được nếu y cạo đầu, mặc áo
tu hành, xưng danh tước, địa vị để lôi cuốn tín đồ.
Ấn giáo không phải một tôn giáo thuần nhất, mà có hàng
ngàn tông phái khác nhau, mỗi tông phái lại chia làm nhiều
hệ phái độc lập chứ không hề có một tổ chức hàng dọc
như các tôn giáo Âu châu. Các giáo sĩ mạnh ai nấy giải thích
kinh điển theo sự hiểu biết của họ. Phần lớn cố tình
giảng dạy những điều có lợi cho họ nhất, ngoài ra họ
còn tụ họp để phong chức tước lẫn nhau hay chống đối
một nhóm khác. Sự tranh luận tôn giáo là điều xảy ra rất
thường, nhóm nào cũng tự nhận họ mới là chính thống,
mới là đúng với giáo lý của thượng đế. Do đó, cuộc
nghiên cứu tôn giáo của phái đoàn không mang lại một kết
quả mong ước, nhiều lúc mọi người thấy lạc lõng, rồi
rắm không biết đâu là đúng, là sai. Hội Khoa Học Hoàng
Gia chỉ thị việc nghiên cứu phải đặt căn bản trên nền
tảng khoa học, hợp lý nhưng lấy tiêu chuẩn này áp dụng
sẽ gặp nhiều trở ngại vì văn hoá Ấn độ và Âu châu
khác hẳn nhau. Người dân xứ này chấp nhận các tông phái
như một điều hiển nhiên, không ai chất vấn khả năng các
giáo sĩ hay suy xét xem lời tuyên bố của họ có hợp lý hay
không ? Họ sùng tín một cách nhiệt thành, một cách vô cùng
chịu đựng.
Thất
vọng về cuộc du khảo không mang lại kết quả như ý muốn,
giáo sư Spalding một mình lang thang đi dạo trong thành Benares.
Giữa rừng người hỗn tạp ồn ào, một thuật sĩ cởi trần
đang phùng má thổi kèn gọi rắn. Một con rắn hổ to lớn
nằm trong sọt ngửng cổ lên cao, phun phì phì. Tiếng kèn lên
bỗng xuống trầm, con rắn cũng lắc lư, nghiêng ngã. Đám
đông xúm lại xì xầm coi bộ khâm phục lắm. Nếu họ hiểu
con rắn đã bị bẻ răng, nuôi bằng bả á phiện và được
luyện tập cẩn thận… Khắp xứ ấn, các trò bịp bợm này
diễn ra không biết bao nhiêu lần trong ngày, nó sẽ kết thúc
khi một vài tên “cò mồi” đứng trong đám đông vỗ tay,
ném tiền vào rổ, và khuyến khích dân chúng ném theo… Đang
mãi mê suy nghĩ, Spalding bỗng thấy một người Ấn to lớn,
phong độ khác thường chăm chú nhìn ông mỉm cười. Người
Ấn lễ phép cúi đầu chào bằng một thứ tiếng Anh hết
sức đúng giọng, ông cũng đáp lễ lại. Câu chuyện dần
dần trở nên thân mật, Spalding bèn lên tiếng hỏi người
bạn mới quen nghĩ sao về những trò bịp bợm này. Người
Ấn trả lời :
- Các
vị minh sư đâu có cư ngụ trong đền thờ lộng lẫy, họ
đâu in danh thiếp với các chức tước, địa vị to lớn,
trọng vọng. Họ đâu cần phải quảng cáo các quyền năng,
đạo quả hoặc in tên trong điện thoại niên giám. Một vị
minh sư không nhất thiết phải có đông đệ tử, muốn tìm
gặp họ phải biết phân biệt. Các đạo sĩ mà ông đã gặp,
sở dĩ nổi tiếng có đông giáo đồ vì họ biết thu tập
đệ tử qua các hình thức quảng cáo, biết hứa hẹn những
điều giáo đồ muốn nghe, họ chả dạy điều gì ngoài một
số “từ chương” trong kinh sách. Điều này một người
thông minh có thể tự đọc sách, nghiên cứu lấy. Phải chăng
ông thất vọng vì các đạo sĩ ông đã gặp chưa từng có
các kinh nghiệm tâm linh?”
Giáo
sư Spalding ngạc nhiên :
- Tại
sao ông biết rõ như thế?
Người
Ấn mỉm cười :
- Các
ông đã bàn cãi với nhau rằng cuối tháng này, nếu không
thu thập thêm điều gì mới lạ, phái đoàn sẽ trở về Âu
châu và kết luận rằng Á châu chả có điều gì đáng học
hỏi. Giai thoại về các bậc hiền triết, thánh nhân chỉ
là những huyền thoại để tô điểm cho vẻ huyền bí Á châu.
Giaó
sư Spalding mất bình tĩnh :
- Nhưng
tại sao ông lại biết những điều này? Chúng tôi vừa bàn
định với nhau như thế, ngay trong phái đoàn còn có nhiều
người chưa rõ kia mà ?
Người
Ấn nở một nụ cười bí mật và thong thả nhấn mạnh :
- Ông
bạn thân mến, tư tưởng có một sức mạnh thần giao vượt
khỏi thời gian và không gian. Thái độ của ông bạn là lý
do mà hôm nay tôi đến đây để chuyển giao một thông điệp
ngắn ngủi, chắc hẳn ông bạn rất thuộc thánh kinh, “Hãy
gõ cửa, rồi cửa sẽ mở. Hãy tìm rồi sẽ gặp”. Đó là
thông điệp của một vị chân sư nhờ tôi chuyển giao.”
Sự
kiện người Ấn đứng giữa chợ Benares nhắc đến một câu
trong Kinh thánh làm giáo sư Spalding ngây ngất như say vừa tỉnh.
Toàn thân ông như rung động bởi một luồng điện cao thế.
Ông
lắp bắp:
- Nhưng
làm sao chúng tôi biết các ngài ở đâu mà tìm ? Chúng tôi
đã bỏ ra suốt hai năm trời đi gần hết các đô thi, làng
mạc xứ Ấn…
Người
Ấn nghiêm nghị trả lời :
- Hãy
đến Rishikesh, một thị trấn bao phủ bởi dẫy Hy Mã Lạp
Sơn, các ông sẽ gặp những đạo sĩ hoàn toàn khác hẳn những
người đã gặp. Những đạo sĩ này chỉ sống trong các túp
lều sơ sài, hoặc ngồi thiền trong các động đá. Họ ăn
rất ít và chỉ cầu nguyện. Tôn giáo đối với họ cần
thiết như hơi thở. Đó mới là những người dành trọn cuộc
đời cho sự đi tìm chân lý. Một số người đã thắng đoạt
thiên nhiên và chinh phục được các sức mạnh vô hình ẩn
tàng trong trời đất… Nếu các ông muốn nghiên cứu về
các quyền năng, phép tắc thần thông thì các ông sẽ không
thất vọng.
Người
Ấn im lặng một lúc và nhìn thẳng vào mặt giáo sư Spalding
:
- Nhưng
nếu các ông muốn đi xa hơn nữa, để tìm gặp các đấng
chấn sư (Rishi) thì các ông còn mất nhiều thời gian nữa…
Giaó
sư Spalding thắc mắc :
- Ông
vừa dùng danh từ Chân sư, vậy chứ Chân sư (Rishi) và đạo
sĩ (Yogi) khác nhau thế nào?
- Nếu
ông tin ở thuyết tiến hoá của Darwin, thì tôi xin tóm tắt
: “sự tiến hoá của linh hồn đi song đôi với thể xác.
Chân sư là một người đã tiến rất xa trên mức thang tiến
hoá; trong khi đạo sĩ chỉ mới bắt đầu…”
- Như
thế thì các vị chân sư có thể làm các phép lạ được
chứ ?
Người
Ấn mỉm cười khẽ lắc đầu :
- Chắc
chắn như thế, nhưng phép thuật thần thông đâu phải mục
đích tối hậu của con đường đạo. Nó chỉ là kết quả
tự nhiên do sự tập trung tư tưởng và ý chí. Đối với
các bậc chân sư, sử dụng phép thuật là điều ít khi nào
các ngài phải làm. Mục đích của con đường đạo là Gỉai
Thoát, là trở nên toàn thiện như những đấng cao cả mà
đức Jesus là một .
Giáo
sư Spalding cãi :
- Nhưng
chúa Jesus đã từng làm các phép lạ .
Người
Ấn bật cười trả lời :
- Ông
bạn thân mến, bạn nghĩ rằng chúa Jesus làm vậy vào mục
đích khoe khoang hay sao ? Không bao giờ, đó chỉ là những phương
tiện để cảm hoá những người dân hiền lành, chất phác
và đem lại cho họ một đức tin mà thôi.
Một
lần nữa, người Ấn lạ lùng này lại nói về một đấng
giáo chủ mà hầu như mọi người Tây phương đều biết đến.
Giáo sư Spalding suy nghĩ và hỏi :
- Thế
tại sao các đấng Chân sư không xuất hiện dạy dỗ quần
chúng ?
Người
Ấn nghiêm nghị :
- Ông
nghĩ rằng các ngài sẽ tuyên bố cho người đời biết mình
là ai chăng ?
Nếu
đức Phật hay đấng “Christ” hiện ra tuyên bố các giáo
điều, liệu ông có chịu tin không ? Có lẽ các ngài phải
biểu diễn các phép thần thông như đi trên mặt nước hay
biến ra hàng ngàn ổ bánh mì cho dân chúng thì các ông mới
tin sao ? Điều này chắc rồi cũng sẽ có một số đạo sĩ
Hắc đạo biễu diễn để lôi cuốn tín đồ nhưng các đấng
cao cả đâu có làm thế phải không ông bạn ?
- Nhưng….nhưng
các ngài sống ẩn dật như thế có lợi gì cho thế gian đâu
?
Người
Ấn mỉm cười :
- Vì
không biết rõ các ngài nên thế gian không thể xét đoán các
ngài một cách đứng đắn. Ai bảo rằng các ngài không giúp
ích gì cho nhân loại ? Nếu tôi quả quyết rằng đấng “Christ”
vẫn thường xuất hiện và vẫn giúp đỡ nhân loại không
ngừng thì ông có tin không ? Có lẽ ông sẽ đòi hỏi một
bằng chứng, một hình ảnh hoặc một cái gì có thể chứng
minh được. Bạn thân mến, những tư tưởng sâu xa của các
đấng cao cả không dễ gì chúng ta hiểu thấu. Có lẽ câu
trả lời giản dị nhất là các ngài phụng sự thế gian một
cách âm thầm, lặng lẽ bằng cách phóng ra các tư tưởng
yêu thương, bác ái, tốt lành mà sức mạnh có thể vượt
thời gian và không gian. Tuy mắt ta không trông thấy nhưng hiệu
lực của nó vô cùng mạnh mẽ. Khi xưa, nhân loại còn ấu
trĩ nên các ngài đã xuất hiện để đặt một nền móng,
căn bản, hướng dẫn loài người. Đến nay, nhân loại đã
ít nhiều trưởng thành và phải tự lập, sử dụng khả năng
của mình, chịu trách nhiệm về những việc họ làm.
Giáo
sư Spalding suy nghĩ và hỏi :
- Lúc
nãy bạn nói rằng có một vị chân sư nhờ bạn chuyển giao
một thông điệp cho chúng tôi. Bạn có thể cho tôi biết địa
chỉ của ngài được không ?
- Bạn
thân mến, tất cả đều do Nhân Duyên, đến khi nào đủ duyên
bạn sẽ gặp các ngài.
Nói
xong, người Ấn độ cúi đầu chào và biến mất trong đám
người đông đúc, ồn ào giữa ngôi chợ thành phố Benares.
Xem
Tiếp: Chương 1: Người
Đạo Sĩ Thành Benares
Chân
thành cảm ơn Đạo hữu Chơn Nguyệt đã đánh máy vi tính
gửi tặng Thư Viện Hoa Sen phiên bản vi tính quyển sách này.
Ước mong Tác gỉa Blair T. Spalding, Dịch gỉa Nguyên Phong và
Nhà xuất bản Người Việt hoan hỷ cho phép TVHS được lưu
trữ văn bản vi tính này. (Tâm Diệu)