VÒNG
TRÒN CHUYỂN HOÁ
Một
xứ sở đẹp đẽ là một ảo ảnh như giấc mộng,
Thật
vô nghĩa khi bám chấp vào nó.
Trừ
phi thế lực nội tại của những cảm xúc tiêu cực bị chinh
phục,
Cuộc
chiến đầu với những kẻ thù bên ngoài sẽ không bao giờ
chấm dứt.
Khyentse
Rinpoche
Cuối
những năm 1950, người Trung Quốc xâm chiếm Tây Tạng, việc
ấy được tiến hành bằng sự thâm nhập từ từ trong
thập kỷ trước, đã nhanh chóng biến thành một cuộc xâm
lược quân sự toàn bộ – đặc biệt là tại Kham ở miền
đông Tây Tạng. Khi những viên chức Trung Quốc tới Denkhok
và hỏi về chỗ ở của Rinpoche, vợ ngài đã gởi cho ngài
một lá thư mật dặn ngài đừng về nhà. Bà hối thúc ngài
đi từ Khampagar, một tu viện khi ấy ngài đang thăm viếng,
tới thẳng Lhasa. Bản thân bà cũng thoát nạn trong đường
tơ kẽ tóc những người lính Trung Quốc có mặt khắp nơi
để gặp ngài đên đường đi. Họ vội vã tới Lhasa, bỏ
lại đằng sau mọi thứ, kể cả những quyển sách quý báu
của Rinpoche và hầu hết những tác phẩm của ngài. Chẳng
bao lâu những người còn lại của gia đình gặp được ngài.
Họ cùng đi hành hương tới miền Trung Tây Tạng. Sau đó,
trong sáu tháng, Khyentse Rinpoche ngồi trước pho tượng Đức
Phật Cao Qúy nổi tiếng ở Lhasa để tụng một trăm ngàn
bài cúng dường mạn đà la thế giới. Một trận dịch đang
hoành hành tại Lhasa, vì thế ngài cũng cử hành nhiều buổi
lễ và cầu nguyện cho người bệnh và người chết, như thể
không biết rằng gia đình ngài lo sợ bản thân ngài sẽ bị
nhiễm bệnh. Mẹ ngài và anh cả Shedrup của ngài đều chết
trong thời gian bị bệnh dịch.
Khi
ấy, có tin là người Trung Quốc đã sung công điền trang của
gia đình Dilgo ở Kham và lấy đi tất cả tài sản của họ.
Khandro Lhamo, vợ của Rinpoche thuật lại:
“Một
hôm tại Lhasa, vài viên chức Trung Quốc tới gặp tôi và hỏi:
‘Vị phối ngẫu tôn kính, bà đang làm gì?’
“Tôi
trả lời rằng tôi vừa mới ngồi ở đó, và tặng cho họ
ít trái cây. Họ hỏi các cô con gái của tôi đang làm gì
và tôi nói chúng đang lễ lạy tại chùa chính của Lhasa. Họ
hỏi tôi có nhớ nhà không và có phải Rinpoche và tôi đang
dự tính quay về. Tôi nói tôi nhớ nhà, và muốn nhanh chóng
trở về. Rồi họ hỏi tại sao chúng tôi tới miền Trung Tây
Tạng, và có phải chủ nghĩa Cộng Sản được thiết lập
ở Kham vào lúc chúng tôi ra đi. Tôi trả lời là chúng tôi
đi hành hương, còn về chủ nghĩa Cộng Sản thì đó là một
từ mà trước đây tôi chưa bao giờ nghe. Nhìn thấy ít kẹo
đỏ và trắng bày trên bàn, viên chức Trung Quốc hỏi có
phải chúng tôi có tục lệ ăn kẹo đỏ và trắng không. Khi
tôi trả lời là đúng như thế, họ nói chủ nghĩa Cộng Sản
thì hoàn toàn giống như kẹo đỏ và trắng. Tôi hỏi họ
mục đích của Cộng Sản là gì, họ nói đó là cái gì rất
tốt đẹp, giống như kẹo. Tôi bảo họ rằng nếu nó là
cái gì giống như kẹo thì tôi có một dịp may để thấy
yêu thích nó.
“Khi
ấy tôi đã biết rằng người Trung Quốc đã chiếm toàn bộ
của cải và ngựa của chúng tôi ở miền Đông Tây Tạng,
nhưng tôi giả vờ không biết. Tôi sợ rằng họ có thể bắt
chúng tôi. Họ bảo tôi chuẩn bị trở về Kham, nơi chúng
tôi sẽ gặp những người lính Trung Quốc; Rinpoche sẽ phải
trả một ngàn yuan, và tôi phải trả năm trăm. Tôi cảm ơn
họ rất nhiều và nói chúng tôi sẵn sàng lên đường.
“Mọi
người từ Kham tới Lhasa đều bị bắt và đưa trở về.
Một số bị buộc phải bỏ lại con cái, và họ rụng rời
sửng sốt. Một số nhảy xuống sông để trốn hay tự vận,
nhưng hầu hết trong số đó bị trói lại và bị đẩy lên
xe vận tải. Vì thế tôi lập tức đi gặp Rinpoche tại Tsurphu,
trụ xứ của Karmapa ở tây bắc Lhasa. Bây giờ chúng tôi không
có sự lựa chọn nào khác ngoài việc trốn đi. Chúng tôi
đã để những con ngựa ăn cỏ gần Tsurphu, nhưng người Trung
Quốc đã lấy trộm hết. Vì thế tôi mượn một con ngựa
đi tới Lhasa và mua thêm mười hai con ngựa nữa. Tôi trở
về đêm đó và tới nơi lúc rạng đông. Pawo Rinpoche cũng
cho chúng tôi một con ngựa rất khoẻ. Những con yak mang hành
lý của chúng tôi. Rinpoche luôn luôn đi bộ. Khó có thể so
sánh Rinpoche với những Lạt Ma khác; ngài luôn luôn khiêm tốn
và thường chăm sóc mọi người. Chúng tôi có tất cả mười
ba người. Chúng tôi đi bộ khoảng một tháng rưỡi, dựng
lều vào ban đêm.
“Khi
chỉ còn cách biên giới Bhutan vài ngày đường thì chúng tôi
biết rằng quân đội Trung Quốc đang tới gần phía sau chúng
tôi. Vì thế không còn lựa chọn nào khác, chúng tôi đành
phải bỏ mọi hành lý, hầu hết sách và những pho tượng
quý báu để đi nhanh hơn và không bị chú ý, ẩn núp
vào ban ngày và đi vào ban đêm. Nhiều người Tây Tạng chạy
trốn và quân Trung Quốc bắn ngay khi nhìn thấy. Chúng tôi
leo một đèo núi và kiệt quệ tới nỗi phải ở lại đó
ban đêm. Trời lạnh dữ dội. Rinpoche ngồi trên một tảng
đá, Nyenpa Rinpoche ngồi bên kia. Tôi ngồi gần đó. Tất cả
những con yak vẫn còn thắng yên cương; chúng tôi không có
gì cho chúng ăn. Tuyết rơi suốt ba ngày đêm. Chúng tôi không
thể đốt lửa để pha trà bởi quân Trung Quốc sẽ nhìn thấy
khói. Chẳng có nơi nào để đi, chỉ có vô vàn những sườn
núi đầy đá nhỏ.
“Sau
cùng khi chúng tôi tới biên giới Bhutan, hầu như chúng tôi
không còn gì để ăn, chỉ có một mẩu nhỏ bột lúa mạch,
bơ và thịt khô. Chúng tôi phải đợi mười hai ngày trên
một ngọn núi cao ở biên giới trong khi lính Bhutan chờ chỉ
thị. Cuối cùng, chính phủ Bhutan cho phép chúng tôi vào. Họ
rất tử tế với chúng tôi và tặng mọi người lúa mạch
và gạo. Một phu nhân già cho mỗi người chúng tôi ít súp.
Chúng tôi đi xuyên qua những cánh rừng Bhutan trong màn mưa
không dứt, và có quá nhiều đỉa tới nỗi cả người và
những con ngựa bị hút máu khắp nơi.
“Khi
chúng tôi tới một nơi gọi là Wangdi, có người nghe tin tức
trên một radio nhỏ là Khyentse Chokyi Lodro đã mất tại Sikkim.
“Khi
chúng tôi tới Ấn Độ, tôi rất ngạc nhiên khi nhìn thấy
những xe hơi và xe lửa. Khi ấy Khyentse Rinpoche bốn mươi chín
tuổi. Ngài đi Sikkim để cử hành lễ hoả táng Khyentse Chokyi
Lodro. Tại Kalompong và Darjeeling ngài cũng gặp những đại
Lạt Ma khác như Dudjom Rinpoche và Kangyur Rinpoche mà ngài trao
đổi giáo lý với những vị này.”
Theo
khẩn cầu của hoàng gia Bhutan, Khyentse Rinpoche tới sống ở
Bhutan. Ngài trở thành thầy giáo gần thủ đô Thimpu. Chẳng
bao lâu sự viên mãn nội tại của ngài đã cuốn hút nhiều
đệ tử tới với ngài, và năm tháng qua đi, ngài trở thành
Đạo Sư Phật Giáo lỗi lạc ở Bhutan, được mọi người
từ nhà vua cho tới người nông dân tầm thường nhất tôn
kính.
Một
buổi tối tại Paro, ngài thình lình yêu cầu một tu sĩ của
ngài đi tới thủ đô Thimpu, cách hai giờ lái xe, để đưa
một tấm hình nhỏ của nữ bảo hộ Ekajati cho vị vua trẻ,
cùng một lá thư nói rằng nhà vua nên mang nó theo người vào
ngày hôm sau. Sáng hôm sau, khi nhà vua đùi xe xuống biên giới
Ấn Độ, chiếc xe jeep của vua bị lạc tay lái ở khúc quanh
trên đường núi, va vào bờ núi dốc và lộn nhào, bật lên
vài lần trước khi vỡ tan ở tuốt bên dưới. Mọi người
đều chết ngoại trừ nhà vua, người ta tìm được ông bị
tống ra ngoài khi xe rơi xuống và bình yên vô sự. Những sự
kiện tương tự đã củng cố mạnh mẽ sự trung thành và
niềm tin của mọi người nơi Rinpoche.
Từ
khi Phật Giáo Kim Cương thừa được Đức Padmasambhava đưa
vào Bhutan lần đầu tiên vào thế kỷ thứ tám và sau đó
vào thế kỷ mười lăm bởi vị terton Bhutan Pema Lingpa và vị
Thầy Tây Tạng thế kỷ mười bảy có ảnh hưởng to lớn
Shabdrung Ngawang Namgyal, vương quốc núi non này đã liên tục
thành công trong việc duy trì sự độc lập và không bị
xâm chiếm. Nền văn hoá Phật Giáo có thể phát triển mà
không bị trở ngại, và giá trị của nó được in dấu sâu
xa trong tâm thức của người dân. Mỗi ngọn đồi được
một ngôi chùa nhỏ che phủ, vây quanh là những lá cờ cầu
nguyện bay phần phật trong gió. Những bánh xe cầu nguyện
chuyển động suốt ngày đêm nhờ những dòng nước lũ và
những con lạch nhỏ. Núi và rừng được tô điểm lấm tấm
những ẩn thất trong đó các ẩn sĩ hiến dâng thời gian của
họ cho việc thiền định. Mỗi năm một lần, họ đi xuống
những thung lũng vào mùa gặt hái để khất thực, và tại
mỗi trang trại họ được cúng dường gạo và rau khô. Trong
một tháng họ nhận đủ lương thực để trải qua thời gian
còn lại của năm trong ẩn thất cô tịch.
Ở
Bhutan, dù Khyentse Rinpoche đi tới đâu, mỗi buổi sáng trước
rạng đông rất lâu, những người sùng mộ đã bắt đầu
nối đuôi trước cửa nhà ngài, chờ ngài chấm dứt bài cầu
nguyện buổi sáng. Sau hết, họ đi vào cúng dường ngài những
miếng cơm, bột lúa mạch nướng, phó mát không kem, và bơ
tươi được chất thành vòng tròn, những giỏ rơm dệt nhiều
màu tuyệt đẹp. Họ xin ngài cầu nguyện cho sự an lành của
họ, và ngài đặt bàn tay lên đầu họ để ban phước.
Khi
Khyentse Rinpoche du hành ở Bhutan, dường như cả xứ đều biết
việc đó. Cứ khoảng mười dặm lại có một nhóm dân chúng
hay đôi khi với một ít tu sĩ đứng chờ ở bên đường gần
một trang trại hay một ngôi làng. Một ngọn lửa lớn chất
đầy những cành bách xù ẩm ướt đưa lên trời những cuộn
khói thơm phức. Vài tấm thảm len dệt tay được trải ra
trước một cái bàn gỗ, được chạm khắc tuyệt đẹp với
những con rồng, chim, và hoa sen, bày biện cao lương mỹ vị
và những bình trà nóng. Đoàn người dừng lại và được
cúng dường thức ăn nhẹ. Đôi khi Khyentse Rinpoche ban phước
từ xe hơi, đôi khi ngài bước ra và ngồi một lát để ban
sự trường thọ cho hội chúng.
Khi
đi tới một tu viện hay ngôi làng lớn hơn, Khyentse được
một đoàn dài các tu sĩ và giới chức địa phương chờ đón.
Được dẫn dắt bởi những tu sĩ chơi âm nhạc và giơ cao
những lá cờ thêu kim tuyến, đôi khi nhảy múa, một đoàn
rước chậm rãi đưa ngài về trại. Ở đó, viên thị trưởng,
chánh án, và những giới chức khác, trong lễ phục với một
thanh gươm trong bao kiếm bạc bên hông, lễ lạy trước mặt
ngài và dâng cho ngài trà và thực phẩm. Ngày hôm sau, hàng
ngàn người từ khắp nơi xung quanh tụ họp trong sân tu viện
và Khyentse Rinpoche ban phước cho họ khi họ đi thành hàng qua
ngài trong nhiều giờ. Khi đám đông quá lớn, ngài sẽ được
đưa bằng một cái kiệu giữa những hàng người sùng mộ
ngồi trong một bãi đất trống, rải lên người họ những
hạt gạo đã được hiến cúng.
Sau
khi tới nơi định đến, Khyentse Rinpoche thường ở lại đó
một tháng hay hơn nữa, ban giáo lý và cử hành những buổi
lễ chính. Ngay khi chúng hoàn tất, ngài cho đi tiếp. Ngài du
hành suốt năm, mang theo một tá gói lớn gồm sách và những
đồ lễ. Năm hay sáu tu sĩ thị giả đi cùng với ngài, có
cả những Lạt Ma hoá thân và những hành giả, dù ở nơi
đâu thì họ cũng nhận lãnh đều đặn những giáo lý của
ngài mỗi ngày một hay hai giờ.
Ba
hay bốn lần một năm, Khyentse Rinpoche cử hành những buổi
lễ lớn gọi là drupchen, hay những thành tựu vĩ đại, kéo
dài từ tám cho tới mười bốn ngày đêm liên tiếp. Toàn
thể giáo đoàn tập hợp từ bảy giờ sáng tới bảy giờ
tối, và ban đêm thì được chia thành ba nhóm lần lượt duy
trì nghi lễ và sự trì tụng các thần chú không gián đoạn.
Trong những đền chùa tráng lệ có những cánh đồng và khu
rừng vây quanh, những buổi lễ này được ngắt quãng bởi
âm nhạc, những vũ điệu thiêng liêng, và những điệu bộ
và nghi lễ cúng dường có tính chất tượng trưng.
Có
lần Khyente Rinpoche trải qua hai tuần ở Động Hang Cọp tại
Paro Taksang. Ở đó ngài cúng dường một trăm ngàn ngọn đèn
bơ và ban nhiều giáo lý và lễ quán đảnh. Trong khi ngài ở
đó, ngài có một linh kiến về Lạt Ma vĩ đại thế kỷ mười
tám Jigme Lingpa, vị Thầy này có một quyển sách trên đầu,
tóc được cột lại, và mặc một áo choàng trắng và một
khăn choàng có sọc đỏ và trắng. Jigme Lingpa đặt tay lên
đầu Khyentse Rinpoche và nói: “Con là người kế thừa những
giáo lý của ta, Tâm Yếu của Pháp Giới Bao la (Longchen Nyingthig).
Con có thể làm việc với những giáo lý ấy bất kỳ điều
gì con muốn.” Jigme Lingpa cũng bảo ngài rằng cần phải xây
dựng bốn stupa (tháp) lớn để duy trì nền hòa bình ở Bhutan
và bảo đảm sự trường tồn của Phật Pháp. Mỗi tháp nên
chứa một trăm ngàn tháp thu nhỏ. Điều này đã được thực
hiện thật phù hợp.
Khyentse
Rinpoche là một trong những vị Thầy hiếm có với một khả
năng đặc biệt, là những vị nổi danh trong truyền thống
Nyingma là terton, những vị khám phá những kho tàng tâm linh,
nghĩa là các ngài có thể khám phá những giáo lý mà Guru Padmasambhava
đã cất dấu vì sự lợi lạc của những thế hệ tương
lai. Khi Guru sinh-trong-hoa sen – Đức Padmasambhava - ban những
quán đảnh làm thuần thục và những giáo huấn giải thoát
cho Vua Trisong Detsen, cho dakini Yeshe Tsogyal, và cho hai mươi lăm
đệ tử chính yếu khác, Ngài đã phó thác những giáo lý
đặc biệt cho mỗi vị trong số đó và đã cất dấu một
cách kỳ diệu những giáo lý này như những “kho tàng” ở
những địa điểm khác nhau – những ngôi chùa, những hình
ảnh linh thánh, tảng đá, hồ và thậm chí trong không gian.
Ngài đã tiên tri rằng những đệ tử đặc biệt này sẽ
tái sinh trong tương lai và đưa những giáo lý này ra khỏi
nơi cất dấu, sử dụng và trao truyền chúng vì sự lợi lạc
của chúng sinh trong thời đại của họ. Khi đã đúng thời,
một terton chứng nghiệm những linh kiến hay dấu hiệu cho
thấy địa điểm hay cách thức khám phá kho tàng đã được
định trước, hay terma. Trong trường hợp của “kho tàng tâm,”
những giáo lý không được khai quật một cách tự nhiên nhưng
xuất hiện trong tâm vị terton, và đây là phương pháp được
chọn lựa đối với hầu hết những giáo lý được Khyentse
Rinpoche khám phá. Trải qua nhiều thế kỷ, một số ít gồm
một trăm Đạo Sư terton đã xuất hiện. Cách thức truyền
dạy này, đôi khi được gọi là dòng truyền thừa “ngắn,”
bổ túc cho dòng truyền thừa “dài” của Kinh điển, được
truyền dạy từ Đạo Sư tới đệ tử qua những thế hệ
từ thời Đức Padmasambhava.
Trong
một trong những linh kiến terma này, Khyentse Rinpoche nhìn thấy
mạn đà la viên mãn của Đức Phật Amitayus (Vô Lượng Thọ)
xuất hiện trên mặt một cái hồ ở miền Đông Tây Tạng.
Theo linh kiến này, ngài đã biên soạn cả một quyển sách
về giáo lý và những thực hành tâm linh. Nói chung, những
kho tàng tâm linh của Khyentse Rinpoche chứa đầy năm quyển
sách.
Sau
khi thoát khỏi Tây Tạng và tới Ấn Độ, Khyentse Rinpoche đã
trở thành một trong những vị Thầy chính của Đức Đạt
Lai Lạt Ma. Như ngài thuật lại trong tự truyện của ngài,
lần đầu tiên ngài gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma ở Lhasa:
“Có
lần tôi đang cầu nguyện trong Điện Jokhang ở Lhasa, gần
pho tượng mới của Đức Padmasambhava. Bỗng nhiên tôi ngửi
thấy mùi hương trầm thơm phức, và một vài viên chức mặc
gấm thêu kim tuyến đi vào, theo sau là một tu sĩ mang kính,
gương mặt xanh xao. Trông ngài giống những bức hình của
Đức Đạt Lai Lạt Ma mà tôi từng nhìn thấy. Ngài đang xem
pho tượng mới của Guru Padmasambhava và cúng dường một chiếc
khăn lễ trước tượng. Khi ngài đi ngang qua tôi, ngài hỏi
tôi từ đâu tới, tên tôi là gì, và tôi đang cử hành lễ
gì. Ngài bảo tôi hãy cầu nguyện thật thiết tha, và đi tới
chùa Đức Phật Cao Qúy, ngài ở đó khoảng một giờ. Đó
là lần đầu tiên tôi gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma.
“Về
sau tôi có hai dịp lại được gặp ngài tại cung điện mùa
hè của ngài ở Lhasa với anh Sangye Nyenpa Rinpoche của tôi.
“Rốt
cuộc sau khi chúng tôi tới Ấn Độ, Nyenpa Rinpoche đi hành
hương Varanasi (Ba La Nại) và gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma ở
đó. Ngài hỏi người em cao lớn có mái tóc dài của ông đâu,
và có phải ông ta đã bị người Trung Quốc hãm hại. Ngài
hài lòng khi biết rằng chúng tôi đã trốn thoát an toàn và
nói rằng sau này chúng tôi sẽ gặp nhau.”
Không
lâu sau này, tất cả các Lạt Ma chính yếu của bốn phái
Phật Giáo Tây Tạng đã tập họp tại Dharamsala, trụ xứ
của Đức Đạt Lai Lạt Ma ở Ấn Độ, để cầu nguyện cho
sự trường thọ của ngài và thảo luận về việc bảo tồn
Phật Giáo Tây Tạng tại hải ngoại. Các phái Nyingma, Sakya,
và Kagyu đã được yêu cầu chọn một vị đại diện để
cúng dường Đức Đạt Lai Lạt Ma một mạn đà la tượng
trưng cho toàn thể thế giới. Trong những dịp như thế, bất
kỳ ai thực hiện sự cúng dường theo truyền thống cũng bắt
đầu bằng việc đọc một bài diễn văn dài, uyên bác, mô
tả thế giới theo vũ trụ học Tây Tạng và những nguyên
lý nền tảng của lịch sử và giáo thuyết Phật Giáo. Thông
thường thì một đại học giả sẽ biên soạn một bài thuyết
trình như thế trong một vài tuần lễ và đọc trong ngày hôm
ấy, nhưng Khyentse Rinpoche chỉ được thỉnh cầu đọc một
bài diễn văn một ngày trước đó. Tuy thế, ngài chấp nhận
không quá câu nệ. Một học giả nghe được những gì xảy
ra và cảm thấy tiếc là Khyentse Rinpoche đã được mời đọc
một bài diễn văn quan trọng như thế mà không được chuẩn
bị. Ông ta mang tới cho ngài một quyển sách có một bài thuyết
trình tương tự, và đề nghị Khyentse Rinpoche nên nghiên cứu
và đọc nó vào ngày hôm sau. Khyentse lịch sự cảm ơn vị
học giả, nhưng đặt quyển sách xuống bàn, tiếp tục cuộc
trò chuyện đang diễn ra với những người khách của ngài,
và sau đó đi ngủ.
Ngày
hôm sau, khi đã tới lúc đọc diễn văn trước sự hiện diện
của Đức Đạt Lai Lạt Ma và tập hội uyên bác, Khyentse Rinpoche
đứng dậy, mở quyển sách ra lần đầu tiên, và cầm nó
– không lật một trang – đọc một bài thuyết trình hết
sức uyên thâm dài khoảng hai giờ. Cuối cùng, trong việc cúng
dường Tám Món Kiết Tường cho Đức Đạt Lai Lạt Ma, người
ta nghe thấy một tiếng sấm khi ngài cầm một vỏ ốc xà
cừ trong tay.
Mọi
người kinh ngạc bởi sự uyên bác của Khyentse Rinpoche, mà
điều đó về sau nổi tiếng trong cộng đồng Tây Tạng ở
Ấn Độ. Ngày hôm sau, khi Khyentse Rinpoche vào từ giã Đức
Đạt Lai Lạt Ma, Đức Phật Sống nói: “Phải chăng ngày
hôm qua có một dấu hiệu tốt lành với tiếng sấm?”
Về
sau Đức Đạt Lai Lạt Ma mời Khyentse Rinpoche tới trụ xứ
của Ngài ở Dharamsala nhiều lần. Trong nhiều năm, Khyentse
Rinpoche đã ban cho Ngài hầu hết những giáo lý chính yếu
của truyền thống Nyingma.
Ngọn
núi chót vót khoác lên mình những khu rừng trinh nữ,
Đỉnh
đầu nàng lộng lẫy trong chiếc khăn xếp phủ tuyết, vươn
tận bầu trời,
Ngực
nàng choàng những chiếc khăn sương mù óng ánh như bạc:
Hạnh
phúc biết bao những yogi thảnh thơi đã bỏ đi những công
việc của đời này!
Khyentse Rinpoche
Khi
bạn nhìn một ngọn núi sừng sững
Hãy
nhớ về cái thấy sâu xa:
Cái
thấy là tâm của vị Thầy,
Bất
khả phân với bản tánh của bổn tâm bạn.
Khi
bạn nhìn một khu rừng đáng yêu,
Hãy
nhớ về những kinh nghiệm và sự chứng ngộ:
Đừng
hy vọng hay hoài nghi về chúng,
Chúng
hoàn toàn là sự phô diễn của vị Thầy.
Khi
bạn nhìn một vườn hoa
Hãy
nhớ về hành động, giải thoát một cách tự nhiên:
Mọi
hành động hòa hợp với Pháp
Là
đời sống toàn hảo của vị Thầy.
Dù
những tư tưởng của bạn có thể lầm lạc,
Chúng
không thể không là những sản phẩm của trí năng của bạn.
Nếu
bạn trả tự do cho tư tưởng của bạn
Nơi
không có sự gì xuất hiện, an trụ, hay chấm dứt,
Chúng
sẽ biến mất vào tánh Không.
Tánh
Không trần trụi ấy là guru:
Trí
tuệ nguyên sơ siêu vượt trí năng.
Khyentse Rinpoche
Không
gian mà bản tánh thì tự do với mọi ý niệm,
Gồm
chứa mọi sự;
Cũng
thế, phạm vi bất nhiễm của chân tánh của tâm
Thấm
đẫm mọi chúng sinh.
Maitreya-Asanga
Cái
mà chúng ta thường gọi là tâm chính là tâm mê lầm, một
cơn lốc hỗn loạn của những tư tưởng bị tham, sân và
si thúc bách. Không giống như Giác tánh giác ngộ, tâm này
luôn luôn bị một sự mê lầm cái này sau cái kia thổi bạt
đi. Những tư tưởng thù ghét hay tham muốn thình lình xuất
hiện không báo trước, được gây nên bởi những hoàn cảnh
như thế như một cuộc gặp gỡ không mong đợi với một
đối thủ hay một bằng hữu, và trừ phi chúng lập tức bị
chế ngự bằng một cách đối trị đúng đắn, chúng sẽ
nhanh chóng bắt rễ và phát triển, củng cố ưu thế quen thuộc
của sự sân hận và tham muốn trong tâm thức và càng lúc
càng làm sâu đậm thêm những dấu vết của nghiệp.
Tuy
thế, dù những tư tưởng này có vẻ mạnh mẽ, chúng chỉ
là những tư tưởng và sau cùng sẽ biến mất vào tánh Không.
Một khi bạn nhận ra bản tánh nội tại của tâm, những tư
tưởng này – là những gì dường như luôn luôn xuất hiện
và biến mất – không còn đánh lừa bạn được nữa. Giống
như những đám mây hình thành, tồn tại một thời gian, và
sau đó biến mất trong sự trống không (tánh Không) của tâm;
trong thực tế đã chẳng có điều gì xảy ra.
Khi
ánh sáng mặt trời rọi xuống một miếng pha lê, ánh sáng
của mọi màu sắc cầu vồng xuất hiện; tuy thế chúng không
có thực chất để bạn có thể nắm bắt. Cũng thế, mọi
tư tưởng trong trạng thái muôn màu muôn vẻ của chúng –
lòng sùng mộ, bi mẫn, sự tai hại, tham muốn – thì hoàn
toàn không có thực chất. Đây là tâm của vị Phật. Không
tư tưởng nào không phải là tánh Không; nếu bạn nhận ra
bản tánh trống không của những tư tưởng ngay khi chúng xuất
hiện, chúng sẽ biến mất. Sự tham muốn và sân hận sẽ
chẳng bao giờ có thể làm rối loạn tâm thức. Những cảm
xúc mê lầm tự chúng sẽ sụp đổ. Sẽ không có hành động
tiêu cực nào được tích tập, vì thế sẽ chẳng có đau
khổ nào tiếp nối theo sau.
Khyentse Rinpoche
Nếu
một người có lòng bi mẫn, người ấy là vị Phật;
Không
có lòng bi mẫn, người ấy là Thần Chết.
Với
lòng bi mẫn, cội gốc của Pháp được vun trồng,
Không
có lòng bi mẫn, cội gốc của Pháp bị mục nát.
Người
có lòng bi mẫn tốt lành ngay khi họ giận dữ,
Người
không có lòng bi mẫn giết hại ngay khi họ mỉm cười.
Đối
với người có lòng bi mẫn, ngay cả kẻ thù cũng trở thành
bằng hữu,
Không
có lòng bi mẫn, ngay cả bằng hữu cũng trở thành kẻ thù.
Với
lòng bi mẫn, ta có mọi Pháp,
Không
có lòng bi mẫn, ta chẳng sở hữu Pháp nào.
Với
lòng bi mẫn, ta là Phật tử chân thực,
Không
có lòng bi mẫn, ta tệ hơn kẻ trần tục.
Ngay
cả khi thiền định về tánh Không, ta cần có lòng bi mẫn
như cốt tuỷ của nó.
Một
hành giả Giáo Pháp phải có một bản tánh tràn trề bi mẫn.
Lòng
đại bi giống như một viên ngọc như ý.
Lòng
đại bi hoàn thành những hy vọng của bản thân và chúng sinh.
Vì
thế, tất cả các bạn, những người từ bỏ và các gia chủ,
Hãy
nuôi dưỡng lòng bi mẫn và các bạn sẽ thành tựu Phật Quả.
Shabkar
Giống
như giữa mặt trời không có bóng tối,
Với
một yogi, toàn thể vũ trụ và chúng sinh đều xuất hiện
như những Bổn Tôn –
Và
yogi hài lòng.
Giống
như trong một đảo vàng không có những hòn đá tầm thường,
Với
một yogi mọi âm thanh lừng vang như những thần chú –
Và
yogi hài lòng.
Giống
như một cánh chim băng qua bầu trời trống không, trong trẻo
không để lại dấu vết,
Với
một yogi mọi tư tưởng xuất hiện như cái tuyệt đối –
Và
yogi hài lòng.
Trong
Giác tánh bao la không bị giam hãm trong các thời khóa hình
thức,
Với
một yogi mọi thiền định đều thanh thản và thoải mái –
Và
yogi hài lòng.
Thoát
khỏi những tạo tác của tâm,
Ta
chứng ngộ rằng các hiện tượng là trạng thái tuyệt đối.
Ngươi,
bạn ta, cũng nên chứng ngộ điều này.
Đừng
tin vào những giáo lý trí thức –
Hãy
nhận ra tánh nhất như bao la và vô sanh đó.
Shabkar
Nếu
hôm nay bạn chiến thắng tánhï chấp ngã, đêm nay bạn sẽ
giác ngộ. Nếu bạn chiến thắng nó ngày mai, đêm mai bạn
sẽ giác ngộ. Nhưng nếu chẳng bao giờ bạn chiến thắng
nó, bạn sẽ chẳng bao giờ giác ngộ. Nhưng “ta” chỉ là
một tư tưởng. Những tư tưởng và cảm xúc không có sự
vững chắc, sắc tướng, hình dạng, hay màu sắc nội tại.
Khi một tư tưởng sân hận xuất hiện trong tâm mạnh mẽ
tới nỗi bạn cảm thấy kích động và muốn đập phá, phải
chăng sự sân hận đang vung vũ khí? Có phải nó ở trên đầu
của kẻ thù? Nó có thể đốt cháy những sự vật như ngọn
lửa, đè bẹp chúng như một tảng đá, hay cuốn chúng đi
như một giòng sông hung bạo? Không. Giống như tư tưởng hay
cảm xúc khác, sân hận không có sự hiện hữu đích thực
– không có ngay cả một vị trí rõ ràng trong thân, ngữ,
hay tâm của bạn. Nó giống như gió đang gầm rống trong không
gian trống trải.
Thay
vì để cho những tư tưởng hoang dại bắt bạn làm nô lệ,
hãy chứng ngộ tánh Không cốt tuỷ của chúng. Nếu bạn điều
phục sự thù ghét ở bên trong, bạn sẽ khám phá rằng không
có duy nhất một kẻ thù nào bị bỏ lại ở bên ngoài. Nếu
không như thế, cho dù bạn có thể chế ngự mọi người trong
toàn thể thế giới, sự thù ghét của bạn sẽ chỉ phát
triển mạnh mẽ hơn. Việc nuông chiều nó không bao giờ làm
nó lắng dịu. Kẻ thù thực sự duy nhất không thể chịu
đựng nổi là chính sự thù ghét. Hãy khảo sát bản tánh
của thù ghét; bạn sẽ nhận ra rằng nó chỉ là một tư tưởng.
Khi bạn thấy nó như nó là, nó sẽ biến mất như một đám
mây trong bầu trời.
Khyentse Rinpoche
Bạn
và tất cả chúng sinh đều bình đẳng trong việc ước muốn
hạnh phúc;
Bạn
và tất cả chúng sinh đều bình đẳng trong việc không mong
muốn đau khổ.
Để
trở nên quen thuộc với việc chăm sóc người khác hơn bản
thân bạn,
Bạn
nên quán tưởng sự hoán đổi bản thân bạn và người khác:
Khi
bạn thở vào và thở ra,
Hãy
nhận vào bản thân nỗi khổ đau của họ và gởi cho họ
hạnh phúc của bạn.
Hãy
chứng ngộ rằng mọi sự xuất hiện là trò phô diễn của
tuyệt đối,
Bản
tánh nguyên sơ, sự giản đơn không bị bẻ gãy.
Nếu
bạn không bám chấp thì bất kỳ điều gì xuất hiện đều
tự nhiên giải thoát.
Hãy
chỉ an trụ trong vị bình đẳng vĩ đại, không lấy hay bỏ.
Chúng
sinh non nớt, không thấu hiểu điều này,
Coi
các hiện tượng như thể chúng bền vững và thực có;
Vì
thế khởi đầu một chuỗi những ham muốn và ghét bỏ,
Và
những đau khổ ghê gớm của luân hồi sinh tử – một sự
giả dối không hiện hữu!
Những
gốc rễ mạnh mẽ là
Sự
vô minh và việc coi chúng sinh và những hiện tượng là thực
sự hiện hữu;
Sự
hiện hữu có điều kiện xảy tới
Từ
việc trở nên quen thuộc với những điều này.
Không
có gì để soi sáng,
Không
có gì để tiệt trừ,
Khi
nhìn một cách viên mãn tự thân sự viên mãn,
Khi
nhận ra sự viên mãn, ta giải thoát một cách viên mãn.
Shechen Gyaltsap
Mọi
niềm vui mà thế gian gồm chứa
Đến
từ việc ước muốn hạnh phúc cho người khác.
Mọi
khổ đau mà thế gian chất chứa
Đến
từ việc mong muốn lạc thú cho bản thân.
Có
cần sự giải thích dài dòng?
Chúng
sinh non nớt tìm kiếm cho bản thân.
Chư
Phật dốc sức vì hạnh phúc của người khác:
Hãy
nhìn sự khác biệt đã phân chia họ!
Như
thế, khi mang lại niềm vui cho chúng sinh, tôi cũng làm vui lòng
chư Phật–
Khi
xúc phạm chúng sinh, tôi cũng xúc phạm chư Phật.
Shantideva
Giống
như đất và những yếu tố (đại) thấm nhập muôn phương,
Nhẫn
chịu như tự thân bầu trời kham nhẫn,
Vì
vô lượng chúng sinh không bờ bến,
Cầu
mong tôi là mặt đất và dưỡng chất của họ.
Như
thế vì mọi sinh loài,
Vô
biên như bầu trời,
Cầu
mong tôi cung cấp cho họ phương kế sinh nhai và thực phẩm
Cho
tới khi họ không còn bị khổ đau trói buộc.
Với
tất cả những ai bệnh hoạn trong thế gian,
Cho
tới khi mọi tật bệnh của họ được chữa lành,
Cầu
mong với họ tôi trở thành
Bác
sĩ, điều dưỡng và thuốc men.
Khi
trút xuống một trận lụt thức ăn và nước uống,
Cầu
mong tôi xua tan những điều bất hạnh của nạn đói khát.
Và
trong những thời đại được biểu thị bởi sự khan hiếm
và thiếu thốn,
Cầu
mong bản thân tôi xuất hiện như thức uống và dưỡng chất.
Đối
với chúng sinh nghèo nàn và cơ cực,
Cầu
mong tôi trở thành một kho tàng luôn luôn dồi dào,
Và
nằm trước mặt gần tầm tay họ,
Một
suối nguồn phong phú mọi sự họ có thể cần.
Như
thế, thân tôi, và chưa kể mọi của cải của tôi,
Cùng
mọi công đức đã tích tập và được tích tập,
Tôi
hiến tặng họ tất cả không giữ lại điều gì
Để
đem lại lợi ích của chúng sinh.
Shantideva
Mỗi
một trong vô lượng cuộc đời của chúng ta từ vô thuỷ,
chúng ta phải có những bậc cha mẹ. Vào lúc này hay lúc khác,
mỗi một chúng sinh duy nhất hẳn đã từng là mẹ hay cha của
ta. Khi chúng ta nghĩ tưởng tới tất cả chúng sinh này - những
người từng là cha mẹ của chúng ta – đã phải lang thang
quá lâu và không người cứu giúp trong vòng luân hồi sinh
tử giống như những người mù lạc đường thì chúng ta không
thể không cảm thấy một lòng bi mẫn lớn lao đối với họ.
Tuy nhiên, tự bản thân lòng bi mẫn thì không đủ; họ cần
sự giúp đỡ thực sự. Nhưng chừng nào tâm ta vẫn còn bị
giới hạn bởi sự tham luyến, thì có may mắn lắm việc ban
tặng họ thực phẩm, quần áo, tiền bạc, hay sự yêu thương
một cách đơn giản sẽ chỉ mang lại cho họ một hạnh phúc
hạn hẹp và nhất thời. Điều chúng ta phải làm là tìm ra
một phương pháp để hoàn toàn giải thoát họ khỏi sự đau
khổ. Điều này chỉ có thể được thực hiện bằng cách
đi theo một con đường tâm linh và tự chuyển hoá bản thân
để chúng ta có thể chuyển hoá những người khác.
Lòng
bi mẫn phải được hướng tới tất cả chúng sinh một cách
vô tư mà không phân biệt giữa những người là bạn hữu
và những người là kẻ thù. Với lòng bi mẫn thường hằng
này trong tâm, mọi hành vi tích cực, ngay cả việc cúng dường
một bông hoa hay sự trì tụng duy nhất một câu thần chú,
chúng ta nên thực hiện với ước muốn là nó có thể mang
lại lợi ích tất cả các sinh loài không loại trừ ai.
Những
bậc Thầy vĩ đại trong quá khứ đã coi giáo lý quý báu nhất
là sự bất khả phân của tánh Không và lòng bi mẫn. Các
ngài nuôi dưỡng từ, bi, hỉ và xả – bốn tư tưởng vô
lượng (tứ vô lượng tâm) nhờ đó khả năng giúp đỡ những
người khác phát khỏi không chút dụng công. Được thúc đẩy
bởi lòng bi mẫn đối với tất cả chúng sinh, chúng ta nên
củng cố một cách vững chắc trong trái tim ta ý hướng đạt
được giác ngộ vì sự lợi lạc của chúng sinh. Không có
ý hướng này, lòng bi mẫn của chúng ta sẽ là một mô phỏng
mờ nhạt của cái gì đích thực. Có câu nói rằng: “Ước
muốn hạnh phúc cho người khác, ngay cả đối với những
người muốn làm hại chúng ta, là nguồn mạch của hạnh phúc
viên mãn.” Cuối cùng, khi chúng ta đạt được cấp độ
này, lòng bi mẫn đối với tất cả chúng sinh tự phát khởi
theo một cách thế hoàn toàn tự nhiên.
Điều
tối cần là phải tập trung toàn bộ cuộc đời chúng ta vào
việc hứa nguyện đạt được Phật Quả vì lợi ích của
người khác, cho tới khi điều này trở nên rõ ràng còn thì
cuộc đời này hoàn toàn vô nghĩa và đáng thất vọng biết
bao. Chúng ta sẽ mủi lòng và đau buồn bởi thân phận bi đát
của chúng sinh trong thời đại khó khăn này, và một cảm
thức mạnh mẽ về sự quyết định thoát khỏi sinh tử sẽ
phát khởi. Nếu những thái độ này thực sự bén rễ, những
phẩm tính và sự thành tựu của Đại Thừa chắc chắn sẽ
phát triển từ đó. Nhưng nếu quyết định chân thực thoát
khỏi luân hồi sinh tử đó không cắm rễ vững chắc trong
tâm thức ta, sự thực hành Pháp của ta sẽ không bao giờ
phát triển một cách viên mãn.
Tất
cả chúng sinh thì giống nhau trong ước muốn được hạnh
phúc và không bị đau khổ. Sự khác biệt to lớn giữa bản
thân ta và những người khác thì vô số – tôi chỉ có một,
nhưng những người khác thì vô vàn. Vì thế, hạnh phúc và
đau khổ của tôi thì hoàn toàn vô nghĩa khi so sánh với hạnh
phúc và đau khổ của vô lượng chúng sinh. Vấn đề thực
sự cần quan tâm là chúng sinh hạnh phúc hay đau khổ. Đây
là nền tảng của tâm thức đã quyết định đạt được
Giác ngộ. Chúng ta nên ước muốn người khác hạnh phúc hơn
bản thân ta, và ta nên đặc biệt ước mong những người
chúng ta coi như kẻ thù và những người đối xử tệ bạc
với ta đều được hạnh phúc. Nếu không thế thì đâu là
mục đích của lòng bi mẫn?
Khyentse Rinpoche