SỰ
SÂU THẲM CỦA THỰC HÀNH TÂM LINH
Shechen
Gyaltsap đã ban cho Khyentse Rinpoche trẻ tuổi nhiều giáo lý,
và đã khai mở cho ngài chân tánh của tâm. Khyentse Rinpoche
đã hứa với Đạo Sư thân yêu của mình là tới lượt ngài,
ngài sẽ biểu lộ sự rộng lượng hào phóng tương tự cho
những ai thỉnh cầu giáo huấn nơi mình. Vì thế trước tiên
nhằm chuẩn bị cho bản thân – ngài mới chỉ mười lăm
tuổi khi Shechen Gyaltsap thị tịch – hầu như ngài trải qua
mười ba năm kế tiếp trong ẩn thất tĩnh lặng. Trong những
ẩn thất cô tịch và những hang động khuất sâu trong sự
hoang vu hiểm trở của những đồi cây gần sinh quán của
ngài trong thung lũng Denkhok, ngài liên tục thiền định về
lòng từ, bi, và ước muốn đưa tất cả chúng sinh tới sự
tự do và giác ngộ. Khyentse kể lại cho chúng tôi về những
năm tháng ngài sống trong thất:
“Tôi
thực hành từ sáng sớm trước bình minh cho tới giữa trưa,
và từ cuối buổi chiều cho tới đêm. Buổi trưa tôi đọc
sách, tụng lớn tiếng những bản văn để học thuộc lòng.
Tôi sống trong một hang động tại Ẩn Thất Vách Đá trong
bảy năm, tại Rừng Trắng ba năm, và trong những hang động
và túp lều khác mỗi lần một ít tháng, chung quanh là những
cánh rừng rậm và những rặng núi tuyết.
“Không
xa những hang động Padampa là một túp nhà tranh, nơi anh Shedrup
của tôi và hai thị giả nấu nướng thực phẩm. Động của
tôi không có cửa, và những chú gấu nhỏ thường tới và
kêu khịt khịt quanh lối vào. Nhưng chúng không thể leo lên
thang để vào hang. Trong khu rừng bên ngoài có những con cáo
và đủ loại chim muông. Cũng có những con báo không ở quá
xa; chúng bắt một con chó nhỏ của tôi. Một con chim cu cu
sống gần đó, và nó là đồng hồ báo thức của tôi. Vào
khoảng ba giờ sáng, ngay khi nghe tiếng hót của nó, tôi trở
dậy và bắt đầu một thời thiền định. Lúc năm giờ tôi
pha một ít trà, điều đó có nghĩa là tôi không cần gặp
bất kỳ ai cho tới giờ ăn trưa. Vào buổi tối tôi để cho
lửa tắt từ từ khiến sáng hôm sau than hồng còn đủ nóng
để khơi lại ngọn lửa. Bằng cách nghiêng mình về phía
trước, tôi có thể cời ngọn lửa và nấu trà trong cái bình
lớn mà không cần rời chỗ ngồi. Tôi có rất nhiều sách
bên mình. Cái động khá rộng, vừa đủ cao khiến tôi đứng
không đụng đầu vào mái – nhưng hơi ẩm thấp. Giống như
hầu hết những hang động, nó lạnh lẽo vào mùa hè và vẫn
còn giữ được ít hơi ấm trong mùa đông.
“Tôi
sống trong Ẩn Thất Vách Đá mà không ra khỏi thất trong bảy
năm. Thỉnh thoảng cha mẹ tôi tới thăm tôi. Tôi mười sáu
tuổi khi bắt đầu nhập thất. Lúc nào tôi cũng ngồi trong
chiếc hộp gỗ bốn mặt, đôi khi duỗi thẳng chân. Anh cả
Shedrup là vị Thầy nhập thất của tôi, và anh bảo tôi rằng
trừ phi thỉnh thoảng tôi ra ngoài tản bộ, tôi có thể kết
thúc trong sự loạn trí; nhưng tôi không muốn ra ngoài chút
nào. Shedrup cũng đang thực hành trong một cuộc nhập thất
bán phần tại một túp lều gần đó. Sống cùng với anh là
một thị giả thỉnh thoảng mang tới thực phẩm của gia đình,
cách thất của chúng tôi ba giờ đi ngựa. Khi tôi trở về
Kham năm 1985, tôi gặp lại vị thị giả này, ông vẫn còn
sống.
“Nhiều
con chim nhỏ liều lĩnh bay vào động của tôi. Nếu tôi để
một ít bơ trên đầu ngón tay thì chúng sẽ tới và mổ vào
đó. Tôi cũng chia sẻ hang động với hai con chuột. Tôi nuôi
chúng bằng bột lúa mạch, và chúng thường chạy quanh vạt
áo tôi. Những con quạ chiếm lấy những món cúng dường tôi
để ở bên ngoài.
“Tôi
không dùng thịt trong năm hay sáu năm. Trong ba năm tôi không
nói một lời nào. Vào buổi trưa, sau bữa ăn, tôi thường
thư dãn một chút và nghiên cứu một vài quyển sách; tôi
không bao giờ lãng phí thời gian mà không làm điều gì. Anh
Shedrup thường khuyến khích tôi sáng tác những bài nguyện,
những bài ca tâm linh, và những bài thơ mà ông cho rằng sẽ
đem lại cho tôi sự thực hành trong việc sáng tác. Tôi nhận
thấy việc viết lách thật dễ dàng, và tới cuối giai đoạn
đó tôi đã sáng tác khoảng một ngàn trang; nhưng về sau,
khi chúng tôi đào thoát khỏi Tây Tạng, chúng đã bị thất
lạc hết.
“Hang
động đó tạo nên một cảm giác rất trong trẻo và không
có những sự phóng tâm. Tôi để tóc thật dài. Khi thực hành
‘nội hoả’ tôi kinh nghiệm rất nhiều hơi nóng, và trong
nhiều năm, suốt ngày lẫn đêm, tôi chỉ khoác một chiếc
khăn và một áo choàng bằng lụa thô mặc dù khí hậu hết
sức lạnh lẽo. Tôi ngồi trên miếng da gấu. Ở bên ngoài
mọi sự bị đông giá, nhưng bên trong hang thì ấm áp.
“Sau
này tôi di chuyển về Rừng Trắng. Ở đó tự tôi làm cho
mình một túp lều gỗ nhỏ có một cửa sổ nhỏ. Tôi thường
nhìn thấy những con chó sói thở hổn hển; thỉnh thoảng
chúng ngừng lại cọ người vào góc lều. Cũng có nhiều hươu
nai và những con cừu màu xanh dương, và đôi khi tôi thấy
những con báo. Mỗi tháng một lần mẹ tôi tới thăm tôi và
ở lại nói chuyện một giờ đồng hồ.”
Trong
thời gian này, Khyentse Rinpoche bị bệnh nặng. Khyentse Chokyi
Lodro và nhiều Lạt ma khác đều thống nhất ý kiến là đã
tới lúc ngài có một vị phối ngẫu, bởi điều đó cần
thiết cho ngài với tư cách là một terton, hay người khám
phá các kho tàng tâm linh (những bản văn do Guru Padmasambhava
cất dấu được những cá nhân đặc biệt khám phá trong những
thời đại tương lai). Vì thế ngài kết hôn với Lhamo, một
thiếu nữ giản dị xuất thân từ một gia đình làm nông
nghiệp bình thường. Từ lúc đó trở đi, sức khoẻ của
ngài được cải thiện; ngài có nhiều thị kiến sâu xa và
đã khám phá một vài kho tàng tâm. Vợ ngài là Khandro Lhamo
thuật lại những thời gian đó:
“Tôi
sống ở nhà với mẹ tôi. Một hôm bà sai tôi đi làm trong
cánh đồng. Trên đường đi, tôi gặp một vài Lạt Ma, họ
bảo họ tới để đưa tôi lại một nơi nào đó. Tôi nói
tôi không có thì giờ, bởi mẹ tôi bảo tôi đi làm. Nhưng
họ giải thích rằng tôi phải đi với họ tới nơi Khyentse
Rinpoche đang nhập thất. Ngày nay những người Trung quốc đã
đốn hạ mọi cây cối, nhưng vào những ngày ấy thì việc
đi với họ có nghĩa là du hành xuyên qua khu rừng rậm, và
tôi kinh sợ những dã thú.
“Ẩn
thất của Rinpoche là một túp lều gỗ nhỏ xíu. Anh ngài,
Apo Shedrup, sống ở gần đó trong một cái buồng nhỏ khác,
và tôi có một gian nhà nhỏ riêng biệt. Bếp thì ở xa phía
dưới ngọn đồi, trong một cái hang nhỏ trống trải. Cùng
với hai người phục vụ, chúng tôi có cả thảy năm người.
“Rinpoche
bị bệnh rất nặng và khuôn mặt ngài có vẻ tối. Tôi lo
lắng khi thấy ngài quá yếu và nghĩ rằng ngài sắp chết.
Nhưng sau khi tôi tới đó thì sức khoẻ của ngài dường như
khá hơn. Một hôm ngài rời khỏi giường trong chiếc áo choàng
trắng, và ngài mời tôi lại và ăn với ngài.
“Lần
đầu tiên khi tôi tới sống với Rinpoche, Khyentse Chokyi Lodro
và những Lạt Ma khác bảo ngài lập gia đình để kéo dài
thọ mạng, nếu không ngài sẽ chết. Trong một vài bản văn
có tiên đoán rằng Rinpoche nên kết hôn với tôi để bảo
đảm là những Phật sự của ngài sẽ trở nên thật rộng
lớn. Một lời tiên tri tôi nghe được như sau:
Vị
yogi trẻ tuổi với một chữ A trên trán
Xuất
thân từ gia đình đức hạnh ở lâu đài Sakar,
Để
kéo dài thọ mạng, người ấy nên kết hôn với trinh nữ
sinh năm Hổ Mộc.
“Bản
thân Rinpoche dường như không chút quan tâm tới việc có một
người vợ. Ngài không chú ý tới việc ngài sống hay chết,
ngài nói; ngài chỉ kết hôn bởi Thầy của ngài bảo ngài
làm thế. Sau này tôi trách đùa Apo Shedrup và những Lạt Ma
khác bởi các ngài không nói cho tôi biết là tôi phải là
phối ngẫu của Rinpoche. Ít ra tôi có thể chuẩn bị sẵn
sàng và ăn mặc đẹp đẽ – thay vì mặc bộ quần áo lao
động cũ kỹ lôi thôi vào ngày họ đưa tôi tới đó. Các
ngài cười và nói họ thận trọng không cho tôi biết, sợ
rằng tôi có thể nghĩ ngợi về chuyện đó và từ chối không
tới.
“Ẩn
thất của Rinpoche rất đơn sơ. Tường được trát bằng bùn
đất, và ngài có một hộp gỗ để ngồi trong đó. Ngài luôn
luôn yêu cầu có sách, là những thứ tôi thường mang tới
lui cho ngài. Phòng ngài chứa rất nhiều sách khiến một số
sách phải để ở một vài nơi khác. Khi những cuốn sách
còn mới, miếng vải bọc sách có màu trắng, nhưng ngài sử
dụng chúng nhiều tới nỗi vải bọc trở thành màu nâu. Bên
trong căn lều quá nhỏ và đầy sách nên không có chỗ đặt
điện thờ, phải mang nó ra ngoài hành lang nhỏ. Cạnh đó
tôi trồng nhiều loại hoa trong bình mà Rinpoche rất thích.
“Ở
phía dưới nơi con sông cạnh địa điểm nhập thất, Rinpoche
để lại một dấu chân trên đá. Một trong những người
giúp việc của chúng tôi đã tìm thấy nó, anh ta thường xuống
đó để lấy sữa, sữa đông, và bơ từ những người chăn
gia súc. Họ quả quyết là không có dấu chân ở đó trước
khi Rinpoche bắt đầu nhập thất. Pema Shepa thấy dấu
chân khác mà Rinpoche để lại sau này, trong khi ngài đi hành
hương cùng với Khyentse Chokyi Lodro. Không biết cách làm những
đôi giày mới,chính tôi đã sửa những đôi giầy Rinpoche
đang mang vào lúc nào đó, và miếng vá trong giày có thể được
nhìn thấy khá rõ trong dấu chân hằn nét. Goka cũng nhìn thấy
nó và thuật lại cho tôi nghe, nhưng Rinpoche không nhận đó
là của ngài.
“Vào
ban đêm, khi tôi ra ngoài rừng đi vệ sinh, như thể là có
một ngọn lửa sáng rực bên dưới cánh rừng lớn trước
mặt ẩn thất của Rinpoche. Có lần tôi kể lại cho Apo Shedrup
về chuyện đó, nhưng ngài không nói gì. Đôi khi dường như
có những ngọn lửa nhỏ bừng lên ở khắp nơi, và đôi khi
dường như có lửa bên trong căn lều. Cuối cùng, tôi hỏi
Rinpoche về ngọn lửa. Ngài nói rằng đó là vị bảo hộ
Rahula, và bảo tôi đừng lại gần nó.
“Rinpoche
không bao giờ nằm vào ban đêm; ngài ngủ thẳng lưng trong
chiếc
hộp gỗ. Vào buối tối, sau bữa tối, ngài bắt đầu khoá
thiền định và không nói cho tới giờ ăn trưa ngày hôm sau.
Vào giờ ăn trưa anh ngài gọi tôi, chúng tôi cùng dùng bữa
với nhau và trò chuyện chút ít. Sau đó, ngay lập tức, Rinpoche
bắt đầu một thời khoá khác và không gặp bất kỳ ai cho
tới tối.
“Tại
Rừng Lạnh, nơi Rinpoche trải qua ba năm trong ẩn thất, ngài
cũng nhận sự truyền dạy qua việc đọc Tripitaka (Tam Tạng),
103 pho sách của Kinh điển Phật Giáo. Đó là thời gian sau
khi chúng tôi sinh Chimé, cháu gái đầu tiên. Phòng của Rinpoche
quá nhỏ khiến bên trong không có chỗ cho vị Lạt ma ngồi
đọc các bản văn. Vì thế một chỗ cho Lạt Ma được sắp
xếp ngoài hành lang, giữa những bình hoa, và Lạt Ma đọc
qua cửa sổ. Thân mẫu của Rinpoche, anh Shedrup của ngài, và
tôi cũng nhận sự trao truyền, nhưng bởi Rinpoche vẫn còn
nhập thất nên không có người nào khác tới dự. Trong thời
gian truyền dạy Rinpoche vẫn thường thực hành những thời
khoá của ngài giống như trước đó.
“Ngay
cả sau khi nhập thất, Rinpoche chỉ ở nhà mỗi lần một hay
hai tuần trước khi trở về ẩn thất.
“Một
trong những người cháu trai của Rinpoche thường đi săn bắn
và anh ta có một khẩu súng nổi tiếng là rất chính xác.
Một hôm, khi Rinpoche về thăm nhà, mẹ anh ta – chị của ngài
– nói với ngài: ‘Khẩu súng này đã giết rất nhiều thú
vật; xin ban phước cho nó.’ Rinpoche đưa khẩu súng lên miệng
và thổi vào đó. Nó không bao giờ được bắn nữa. Sau sự
kiện đó, khi Rinpoche được mời tới thăm bất kỳ nhà những
người chăn thú giàu có nào, những người ấy đã đem giấu
tất cả những khẩu súng của họ.
“Rinpoche
có một người bà con tên là Apo Jamtse, ông ta có một con chó
cụp tai khổng lồ thường săn đuổi và giết cừu và dê
của những người dân nghèo quanh đó. Không ai trong những
người này dám trừng phạt một con chó thuộc quyền sở hữu
của gia đình Dilgo đầy thế lực. Một hôm khi Rinpoche tới
dùng trà với gia đình Apo Jamtse, cô của Rinpoche, bà Ashi Kaga,
người quản lý gia đình, đã nói với ngài về con chó và
hỏi họ nên làm gì về chuyện đó. Vào lúc ấy, Rinpoche đang
ăn một viên bánh lúa mạch nướng. Ngài thổi vào nó và ném
vào con chó. Nó ngốn sạch cái bánh, và sau đó không bao giờ
tấn công những con thú nữa. Những người dân nghèo sống
quanh đó hết sức vui mừng.
“Một
Đạo Sư tên là Drungnam Gyatrul trao đổi nhiều giáo lý với
Khyentse Rinpoche. Đạo Sư sống trọn đời tại Ngoma Nangsum,
ở một hang động trong một tảng đá có hình dáng một vajra
(chày kim cương) và có những đồng cỏ vây quanh. Hầu như
Đạo Sư không bao giờ ngủ. Năm hay sáu trăm đệ tử của
Đạo Sư sống trong những hang động gần đó và thực hành
thần chú của Guru Padmasambhava. Đạo Sư sống trong một cái
động ngay giữa tảng đá, nó được rất nhiều người đi
nhiễu quanh tới nỗi mặt đất bị mòn sâu cao tới ngang thắt
lưng. Chúng tôi sống ở căn lều gần đó, và Rinpoche ở cả
ngày trong động với Gyatrul Rinpoche thọ nhận giáo lý từ
vị này. Suốt trong tháng đó, Gyatrul Rinpoche và tôi là
những người duy nhất nhìn thấy Rinpoche.
“Con
gái nhỏ của chúng tôi là một đứa trẻ rất đặc biệt.
Tôi sinh cháu trong một căn lều tại một khu rừng thưa phía
trên Ẩn Thất Vách Đá. Khi màn đêm buông xuống thì cháu
sinh ra, nhưng ngay sau đó có một ánh sáng rực rỡ như ánh
sáng ban ngày. Tôi tự hỏi ánh sáng đó có ý nghĩa gì. Trời
đổ mưa lớn, và ánh sáng tiếp tục cho tới hai hay ba giờ
sáng. Khi Rinpoche được kể về ánh sáng này, ngài không tỏ
vẻ quan tâm lắm. Tâm thức của cháu gái này rất đặc biệt.
Tất cả những người giúp việc đều rất quý mến cháu.
Cháu chết ở Ấn Độ ngay sau khi chúng tôi đào thoát khỏi
Tây Tạng.”
Sau
khi hoàn tất cuộc nhập thất vào năm hai mươi tám tuổi,
Khyentse Rinpoche trải qua nhiều năm với Dzongsar Khyentse Chokyi
Lodro (1896-1959), giống như ngài, vị Thầy này là một hoá
thân của Khyentse thứ nhất. Khyentse Rinpoche coi Chokyi Lodro như
vị Thầy chính thứ hai của ngài và vô cùng tôn kính thầy.
Sau khi thọ nhận những quán đảnh kéo dài sáu tháng về Tuyển
tập những Kho tàng được Khám phá từ Chokyi Lodro, Khyentse
Rinpoche nói với thầy rằng ngài muốn trải phần đời còn
lại của mình trong sự thiền định cô tịch. Nhưng Khyentse
Chokyi Lodro rất cứng rắn: ‘Tâm con và tâm thầy là một,”
ngài nói. “Đã tới lúc con giảng dạy và trao truyền cho
người khác vô số giáo lý quý báu mà con đã thọ nhận.”
Vì thế từ đó trở về sau, Khyentse Rinpoche liên tục làm
việc vì sự lợi lạc của tất cả chúng sinh với năng lực
không mệt mỏi là dấu hiệu của dòng Khyentse. Ngài thuật
lại về những thời gian ngài sống tại Dzongsar:
“Trong
lần đầu tiên tôi tới gặp Khyentse Chokyi Lodro, Rinpoche bảo
tôi rằng vào đêm hôm trước ngài mơ thấy gặp Jamyang Khyentse
Wangpo, vị Khyentse thứ nhất. ‘Thật là một dấu hiệu hết
sức tốt lành bởi con đã tới ngày hôm nay,’ ngài nói.
“Vào
lần đầu tiên tôi tới Dzongsar, tôi chỉ ở đó hai tháng.
Dần dần tôi bắt đầu tới đó mỗi mùa hè, trở về Denkhok
vào mùa đông hay viếng thăm những nơi khác để nhận giáo
lý từ nhiều Đạo Sư khác nhau.
“Đối
với tôi, việc trở lại Dzongsar luôn luôn là một sự kiện
vĩ đại, tôi rất thiết tha mong chờ nó. Tôi luôn luôn cư
trú trong tu viện của ngài. Hầu như chúng tôi luôn cùng dùng
bữa để có thể trò chuyện với nhau. Khi có người tới
thăm ngài, tôi qua phòng bên cạnh và thực hành ở đó cho
tới khi ngài lại được rảnh, chúng tôi tiếp tục cuộc
đàm luận. Trong khi nhiều tu sĩ bình thường của tu viện
Dzongsar rõ ràng là không nhiệt thành trong việc học tập và
thực hành, và làm nhiệm vụ của mình như một thủ tục,
những đệ tử của đại học tu viện nỗ lực tu tập và
thường dễ dàng được tới gần Chokyi Lodro, ngài rất thích
sống với họ. Nhưng khi ở đó tôi nghe họ than vãn rằng
bây giờ ngài không có thì giờ để gặp họ.
“Khi
tôi rời đi ngài đi với tôi tới tận cửa trụ xứ của
ngài. Ngài luôn luôn miễn cưỡng để cho tôi đi, và trong
nhiều trường hợp tôi có thể thấy những giọt lệ trong
mắt ngài.
“Khyentse
Chokyi Lodro cũng là một vị khám phá những kho tàng ẩn dấu,
và có lần ngài bảo tôi: ‘Con phải tìm ra nhiều kho tàng
nhở đó làm lọi lạc cho chúng sinh. Đêm qua ta có một giấc
mộng. Có những đám mây có hình dạng tám biểu tượng tốt
lành và nhiều hình dạng khác, và cùng với chúng trên bầu
trời là nhiều vị Phật và Bồ Tát. Từ những đám mây đó
đổ xuống một trận mưa lớn chất cam lồ làm lợi ích chúng
sinh. Con phải truyền bá những giáo lý quý báu của con.’
Ngài yêu cầu tôi ban cho ngài những quán đảnh về một vài
kho tàng của tôi, và tôi đã dâng chúng cho ngài.’
Khyentse
Chokyi Lodro yêu cầu Khyentse Rinpoche tới tỉnh Amdo và giảng
dạy Kho tàng những Giáo lý được Khám phá. Vợ của Rinpoche
thuật lại về cuộc du hành đó như sau:
“Rinpoche
tới Rekong ở Amdo, gần Hồ Kokonor. Vào một ngày rất lạnh,
một vài người chăn thú mời Rinpoche tới lều của họ và
dâng cho ngài và những người cùng đi với ngài một lượng
lớn bơ, thịt khô, và phó mát ngọt đẻ dùng trong cuộc hành
trình. Khác với lệ thường, Rinpoche cảnh báo một trong những
thị giả của ngài trông nom những con ngựa thật cẩn thận.
Khi tới lúc lên đường, vị thị giả chạy xô tới, la lên
rằng những con ngựa đã biến mất; họ đã bỏ quên chúng
trong một lát và hẳn là chúng đã bị đánh cắp. Thật may
mắn, những người chăn thú có nhiều bò yak, họ tặng ít
con cho Rinpoche và ngài đã tới Rekong sau một tháng du hành.
“Tại
Rekong, Rinpoche ban những lễ quán đảnh Kho tàng những Giáo
lý được Khám phá trong hơn bốn tháng cho 1.900 yogi. Khi những
thí chủ của Rinpoche nghe các tu sĩ nói về việc ngài bị
đánh cắp những con ngựa, họ rất bối rối; nhưng Rinpoche
bảo họ rằng ngài đã tới nơi bình an và vì thế bây giờ
không cần quan tâm tới điều đó nữa. Tuy nhiên, một vài
yogi Rekong nổi danh nhờ khả năng huyền thuật của họ, đã
nói rằng họ không thể để vấn đề xảy ra như thế. Hai
tuần sau khi Rinpoche bắt đầu giảng dạy, những người trộm
cắp đi tới cùng toàn bộ những con ngựa đã đánh cắp được
và van xin Rinpoche nhận lại chúng. Rinpoche trả lời rằng ngài
không cần tới những con ngựa nữa và họ có thể giữ chúng,
nhưng những người ăn trộm từ chối không nghe. Họ nói sau
khi lấy trộm ngựa thì mọi sự rắc rối xảy ra cho họ.
Khi vắt sữa bò, họ lấy được máu thay vì sữa. Một đứa
trẻ bị chim kên kên tấn công – một việc chưa từng được
biết tới – và nhiều người trong bộ tộc ngã bệnh. Cuối
cùng, họ đã để lại những con ngựa gần tu viện và phi
ngựa đi.
“Rinpoche
lưu lại Tu viện Rekong trong một năm, và đã ban giáo lý trên
một đỉnh đồi tuyệt đẹp nơi yogi Shabkar Tsogdruk Rangdrol
lừng danh vào thế kỷ mười chín đã sống. Đó là một tảng
đá lớn, có một thân cây phía sau nó, trên đó Shabkar thường
ngồi và hát những bài ca tâm linh nổi tiếng của ngài. Dân
chúng địa phương đã dâng cho Rinpoche địa điểm này, và
khi ngài ứng khẩu những bài ca ở đó, những cầu vồng đã
xuất hiện và bông tuyết rơi xuống nhẹ nhàng như những
bông hoa. Mọi người nói ngài hẳn phải là một hóa thân
của Shabkar.
“Rinpoche
có một thị giả, một vị Thầy nghi lễ tên là Achog mà thường
bị ngài quở trách. Một đêm Achog bỏ trốn, để lại một
miếng vải như một vật cúng dường và một bức thư ngắn
nói rằng ông cảm thấy không thể phục vụ Rinpoche một cách
đúng đắn và vì thế ông quyết định ra đi. Sau khi đi bộ
được một tháng, ông tới trại của một người du mục
chăn thú ở Golok, và tại một trong những cái lều bằng lông
bò yak đen một bà mẹ và cô con gái đã yêu cầu ông cử
hành một vài buổi lễ cho họ để đổi lấy thực phẩm
và chỗ ăn ở. Trời rất lạnh giá và ông không có nơi nào
khác để tới, vì thế ông đã đồng ý. Khi ấy ông ngã bệnh
rất nặng.
“Một
hôm bà mẹ gọi báo cho Achog biết rằng một Lạt Ma lạ và
cao lớn đi ngựa đang tiến tới gần căn lều. Achog nhìn qua
cửa và thấy Khyentse Rinpoche cùng một thị giả phi ngựa thẳng
tới lều. Rinpoche xuống ngựa, bước vào và hỏi: ‘Achog,
ông khoẻ không?’ Achog bàng hoàng tới nỗi bắt đầu oà
khóc. Rinpoche bảo ông không cần khóc và ông nên trở về
với họ thì tốt hơn. Bà mẹ già cúng dường Rinpoche trà,
sữa, và sữa đông. Trả lời câu hỏi của Achog, thị giả
của Rinpoche nói rằng không ai cho họ biết chỗ để tìm ông
ta, họ cũng không gặp bất kỳ ai trong vùng tuyết phủ để
được hướng dẫn tới trại. Rinpoche nói rằng đã tới giờ
lên đường, và cả ba người cùng trở về tu viện. Vào thời
gian đó, dân chúng thường nói Rinpoche có tài thấu thị phi
thường.”
Để
chinh phục được nền tảng tối thượng của bản tánh không
bị tạo tác của tâm, chúng ta phải đi tới tận nguồn mạch
và nhận ra căn nguyên của những tư tưởng của chúng ta.
Nếu không, tư tưởng của ta sẽ phát sinh tư tưởng thứ
hai, tư tưởng thứ hai sinh ra tư tưởng thứ ba, và tiếp tục
mãi mãi. Chúng ta thường xuyên bị những hồi ức của quá
khứ tấn công và bị những hy vọng ở tương lai lôi cuốn
đi, và đánh mất mọi sự tỉnh giác của hiện tại.
Chính
tâm thức của riêng ta đã dẫn ta đi lạc vào luân hồi sinh
tử. Không thấy được chân tánh của tâm, chúng ta bám chặt
vào những tư tưởng của ta, chúng không là gì ngoài những
biểu lộ của bản tánh ấy. Điều này làm đông cứng sự
tỉnh giác thành những ý niệm cứng chắc, chẳng hạn như
ta và người, đáng ưa và đáng ghét, và nhiều thứ khác.
Đây là cách chúng ta tạo ra sinh tử.
Nhưng
thay vì để mặc cho những tư tưởng của ta trở nên cứng
đặc, chúng ta nhận ra tánh Không của chúng, thì mỗi một
tư tưởng xuất hiện và biến mất trong tâm đều làm cho
việc nhận ra tánh Không bao giờ cũng rõ ràng, trọn vẹn.
Giữa
mùa đông, sự giá lạnh làm đông cứng sông hồ; nước trở
nên đông đặc tới nỗi có thể mang được con người, thú
vật và xe bò. Khi mùa xuân tới, đất và nước ấm dần lên
và tan chảy. Khi ấy cái còn lại của tánh rắn của băng
đá là gì? Nước thì mềm và lỏng, băng đá thì cứng và
sắc nhọn, vì thế chúng ta không thể nói rằng chúng đồng
nhất; nhưng ta cũng không thể nói rằng chúng dị biệt, bởi
băng đá chỉ là nước bị đông đặc lại, và nước chỉ
là băng đá bị tan chảy.
Việc
áp dụng tri giác của ta về thế giới quanh ta thì cũng thế.
Bị dính mắc vào thực tại của các hiện tượng, bị hành
hạ bởi sự lôi cuốn và ghê tởm, bởi niềm vui và nỗi
khổ, sự được và mất, sự vinh và nhục, sự khen và chê,
tất cả đã tạo nên một sự cứng đặc trong tâm thức.
Như thế, điều chúng ta phải làm là làm tan chảy băng đá
của những ý niệm thành giòng nước lưu chuyển của sự
tự do nội tại.
Mọi
hiện tượng của sinh tử và Niết bàn xuất hiện như một
cầu vồng, và cũng như một cầu vồng, chúng không có bất
kỳ một hiện hữu thật có nào. Một khi bạn nhận ra chân
tánh của thực tại, nó trống không và đồng thời xuất
hiện như thế giới hiện tượng, tâm bạn sẽ thôi chịu
sự chi phối của vô minh. Nếu bạn biết cách để cho những
tư tưởng của bạn tự tan biến khi chúng xuất hiện, chúng
sẽ vụt qua tâm bạn như một cánh chim lướt trên bầu trời
– không để lại dấu vết nào.
Hãy
duy trì trạng thái giản đơn đó. Nếu bạn gặp được hạnh
phúc, thành công, thịnh vượng hay những hoàn cảnh thuận
lợi khác, hãy coi chúng như những giấc mộng và ảo ảnh,
và đừng bám luyến vào chúng. Nếu bạn lâm vào cảnh bệnh
tật, bị vu khống, nghèo khổ hay những thử thách vật chất
và tinh thần khác, bạn chớ mất can đảm mà hãy khơi dậy
lòng bi mẫn của bạn và phát triển ước nguyện là qua sự
đau khổ của bạn, những nỗi khổ của tất cả chúng sinh
có thể bị cạn kiệt. Dù xảy ra bất kỳ tình huống nào,
đừng đắm mình trong sự phấn khích hay đau đớn, mà hãy
tự do và thoải mái trong sự thanh thản không thể bị lay
chuyển.
Khyentse Rinpoche