GẶP
GỠ NHỮNG ĐẠO SƯ TÂM LINH
Jamyang
Khyentse Wangpo (1820-1892), vị tiền nhiệm của Khyentse Rinpoche,
đã trải qua mười ba năm du hành không mỏi mệt khắp Tây
Tạng để thọ nhận hàng ngàn truyền thống và dòng truyền
thừa khác nhau của thực hành Phật Giáo, trong đó nhiều truyền
thống đang có nguy cơ bị tiêu diệt. Ngài du hành thật khiêm
tốn bằng đôi chân với một cái túi trên lưng – người
ta nói rằng ngài đi mòn ba dôi giày. Khi đã cùng thâu thập
những giáo lý quan trọng này, Khyentse và Đạo Sư vĩ đại
khác là Jamgong Kongtrul đã cần cù biên tập, sắp xếp, và
xuất bản chúng trong năm tuyển tập vĩ đại. Sau đó các
ngài bắt đầu trao truyền cho các đệ tử sự giảng dạy
khẩu truyền và những nghi lễ quán đảnh kèm theo những bản
văn này, truyền thống sống động mà nếu không có chúng
thì một mình những pho sách sẽ chỉ lưu giữ được một
giá trị tượng trưng cho những thế hệ tương lai.[3]1 Như
thế nhờ bảo tồn rất nhiều những giáo lý quý báu, Khyentse
Wangpo đã trở thành người khởi xướng một cuộc phục hưng
Phật Giáo đích thực trong khắp xứ Tây Tạng – một cuộc
vận động từ đó nhiều Đạo Sư Tây Tạng đương thời
vẫn còn rút ra nguồn cảm hứng. Năm bốn mươi tuổi, ngài
nhập thất suốt phần đời còn lại, không bao giờ xuất
hiện ngoài ẩn thất cho tới khi thị tịch vào tuổi bảy
mươi ba.
Ở
phía đông bắc của Derge là Shechen, một trong sáu tu viện
chính của phái Nyingmapa. Chính ở nơi đó mà đệ tử thân
thiết của Khyentse Wangpo là ngài Shechen Gyaltsap Rinpoche (1871-1926)
đã chính thức công nhận và tôn phong Dilgo Khyentse Rinpoche
trẻ tuổi là một trong năm hoá thân của vị đại Lạt Ma
phi thường này. Khi ấy cậu bé mười hai tuổi. Khyentse Rinpoche
thuật lại về những năm tháng vàng son sống với những vị
Thầy của ngài:
“Sau
khi tôi trở thành một sa di năm lên mười, một đại học
giả được gọi là Khenpo Shenpa tới Denkhok trên đường đi
Kyerbu, nơi ngài đang xây dựng một học viện. Ngài cảm nhận
rằng tôi là một hoá thân của vị Thầy của ngài là Onpo
Tenga, vị này cũng là vị Thầy gốc (bổn sư) của cha tôi.
Ngài nói tôi nên tới học viện của ngài, ỏ đó ngài
sẽ dạy tôi. Vì thế tôi tới Kyerbu và nhận những giáo lý
chi tiết từ ngài về Bồ Tát Hạnh và về triết học Madhyamika
(Trung đạo). Trong buổi sáng tôi nhận những giáo lý từ ngài
và học một mình. Vào buổi chiều tôi sẽ trả lời những
câu hỏi của ngài về các vấn đề ngài đã dạy sáng hôm
đó và nhắc lại một vài trang trong các bản văn tôi định
học thuộc lòng. Một vài buổi chiều ngài dẫn tôi ra ngoài
cửa chơi đùa. Có một lần ngài chỉ cho tôi cách ném những
viên sỏi nhỏ ở một tảng đá trước mặt túp lều của
ngài, làm cho những con chuột đồng lăng xăng quanh đó chạy
nhốn nháo; ngài rất giỏi trong việc đó. Ngài muốn giúp
tôi tiêu khiển để không buồn chán trong việc học tập.
“Một
thời gian ngắn sau đó Khenpo Shenga tới Động Ánh sáng
Cầu vồng ở Derge, ở đó ngài sống như Milarepa trong ẩn
thất nghiêm nhặt. Tôi đi theo và ở đó với ngài trong năm
tháng, nhận thêm giáo lý, kể cả Lời dạy của vị Thầy
Toàn hảo của tôi của Patrul Rinpoche. Một hôm ngài bảo tôi:
‘Hãy nhìn vào bản tánh của tâm, và nói cho ta nghe nó ra
sao.’ Không xa những căn lều của chúng tôi, dưới chân một
vách đá có một bãi cỏ đẹp. Tôi ngồi đó thiền định,
và trong tôi xuất hiện bản tánh của tâm thì trống không
và trong trẻo. Tôi trình điều này cho Khenpo Shenga, và cả
ngài lẫn đại ẩn sĩ Kunga Palden đều vui lòng; các ngài giải
thích điều đó là bằng chứng tôi đã từng thực hành trong
những đời trước. Nhưng tôi cho rằng chắc hẳn tôi có được
câu trả lời này một cách khái niệm nhờ việc nghiên cứu
Madhyamika của tôi, và nghi ngờ việc tôi đã kinh nghiệm trực
tiếp bản tánh tối hậu của tâm.
“Một
thời gian sau khi tôi trở về nhà, anh cả của tôi là Shedrup
bảo tôi rằng việc nghiên cứu thì hoàn toàn rất tốt nhưng
hiểu biết lý thuyết không thôi thì không đủ. Anh khuyên
tôi phải tìm kiếm một vị thầy chứng ngộ cao. Theo cái
nhìn của anh thì vị Thầy thành tựu nhất còn sống khi ấy
là ngài Shechen Gyaltsap Rinpoche. Người anh khác của tôi là
Sangye Nyenpa Rinpoche vừa chấm dứt một cuộc nhập thất ba
năm và cũng muốn gặp Gyaltsap Rinpoche. Vì thế ba người chúng
tôi cùng với cha tôi và mười người khác lên đường tới
Shechen.
“Khi
chúng tôi tới nơi, vị thị giả của Gyaltsap Rinpoche đón
chào chúng tôi bằng hai chiếc khăn lễ, một cho tôi và một
cho Nyenpa Rinpoche. Ông ta truyền đạt ước muốn của Gyaltsap
Rinpoche là hai người chúng tôi chờ một ngày lành để gặp
ngài, bởi chúng tôi đã từng gặp ngài lần đầu tiên tại
Shechen. Tuy nhiên Shedrup đã có mặt ở đó trước và có thể
viếng thăm ngài bất kỳ khi nào anh muốn.
“Chúng
tôi chờ đợi trong ba ngày trước khi nhận lời dạy; và với
tôi, những ngày chờ đợi để gặp vị Thầy của tôi lần
đầu tiên dường như rất dài. Sau cùng chúng tôi được đưa
lên khu nhập thất của ngài. Gyaltsap Rinpoche mặc một áo vét
tông màu vàng lót lông thú, thay vì những y tu sĩ. Cuối mái
tóc của ngài xoăn lại, mọc dài đủ để phủ đôi vai, bởi
ngài hiếm khi rời ẩn thất. Chúng tôi được mời ngồi và
phục vụ cơm nghệ ngọt. Gyaltsap Rinpoche muốn biết mọi sự
về những vị Thầy mà Nyenpa Rinpoche đã gặp và giáo lý ông
đã thọ nhận. Nyenpa Rinpoche trả lời những câu hỏi của
ngài khoảng ba giờ đồng hồ.
“Ẩn
thất của Gyaltsap Rinpoche được xây ở trên một cái mỏm
trên sườn núi ở phía trên Tu viện Sechen khoảng bốn mươi
lăm phút đi bộ. Con đường đi tới địa điểm đẹp đẽ
này rất dốc, và trơn trợt trong suốt mùa mưa. Từ cửa sổ
bạn có thể nhìn thấy tu viện và con sông ở tận đáy thung
lũng, hoàn toàn bị những ngọn núi hầu như phủ tuyết quanh
năm vây kín. Ngay dưới ẩn thất là một cái nền giữa những
bụi cây bách xù, rất lý tưởng cho việc ngồi thiền định
tĩnh lặng trong những ngày nắng ấm. Thấp hơn nữa là một
cái động nhỏ được gọi là Động Đại Lạc Chói lọi,
tại đó Gyaltsap Rinpoche đã trải qua vài tháng nhập thất.
Phía trên ẩn thất có thêm những hang động; trong một cái
động, những hình ảnh thiêng liêng dường như thành hình
một cách tự nhiên ở mặt tảng đá. Khoảng nửa đường
xuống tu viện là trung tâm nhập thất chính của Shechen, nơi
hầu như mỗi lần có hai mươi tu sĩ thực hành nhập thất
truyền thống ba năm, ba tháng, và ba ngày.
“Hiển
nhiên Gyaltsap Rinpoche là một trong những Lạt Ma uyên thâm và
thành tựu nhất trong thời đại của ngài. Có lần ngài bắt
đầu một cuộc nhập thất ba năm, nhưng chỉ sau ba tháng ngài
xuất hiện trước sự ngạc nhiên của mọi người và nói
rằng ngài đã hoàn tất chương trình dự kiến. Sáng hôm sau,
thị giả của ngài để ý thấy một dấu chân của ngài xuất
hiện trên ngưỡng cửa bằng đá của ẩn thất. Sau này những
đệ tử đã di chuyển hòn đá đó và cất dấu trong cuộc
Cách mạng Văn hóa; ngày nay nó vẫn có thể được nhìn thấy
ở Tu viện Shechen.
“Tu
viện thường chứa hơn hai ngàn tu sĩ. Tu viện trưởng là
Shechen Rabjam Rinpoche, một vị khác trong những vị Thầy chính
của tôi, và chính ngài là người giảng dạy các tu sĩ và
ban cho họ những lễ quán đảnh. Ngài cũng thăm viếng những
tu viện khác để giảng dạy, du hành khắp nơi xa tới tận
miền Trung Tây Tạng.
Cũng
có mặt tại Shechen là vị Lạt Ma vĩ đại thứ ba, ngài Shechen
Kongtrul Rinpoche. Ngài sống bên kia bờ dòng thác núi cách ẩn
thất của Gyaltsap Rinpoche – một địa điểm thú vị có những
bãi cỏ phủ hoa vàng vào mùa hè và những rừng thông rậm
rạp nơi người ta tìm thấy những cây nấm thơm ngon. Sechen
Kongtrul là một thiền giả vĩ đại và giống như Shechen Gyaltsap,
ngài không tham dự vào việc hành chính của tu viện, là việc
được Shechen Rabjam chăm sóc.
“Một
hôm chúng tôi được gọi tới ẩn thất của Gyaltsap Rinpoche.
Khi tới nơi ngài bảo chúng tôi là những giáo lý của ngài
bắt đầu vào ngày hôm đó, và lễ quán đảnh trước tiên
là về thực hành Vajrasattva (Kim Cang Tát Đoả) theo truyền
thống Mingdroling. Suốt những tháng tiếp theo, ngài ban cho chúng
tôi tất cả những giáo lý quan trọng nhất của Kinh điển
Nyingma, sự truyền dạy Những Tác phẩm Toàn thiện của Mipham
Rinpoche và Tâm Yếu Bốn-Phần của đạo sư Nyingma vĩ đại
Longchen Rabjam. Sau những khoá giáo lý tôi thường tới thăm
Shechen Gyaltsap Rinpoche. Ngài quý trẻ con và dường như thích
đùa bỡn và chơi đùa với tôi. Ngài luôn luôn dịu dàng và
chu đáo, và trọn đời ngài hầu như ngài không giận dữ.
Trong khoá giảng dạy dài ngày, ngài lưu tâm tới việc chơi
đùa với các Lạt Ma trẻ và kể cho họ nghe những câu chuyện.
“Trong
khi ngài ban quán đảnh, tôi thường bị tràn ngập bởi sự
chói lọi và tráng lệ của nét mặt và đôi mắt ngài khi,
với một điệu bộ chỉ về phía tôi, ngài khai thị bản
tánh của tâm. Tôi cảm thấy rằng chỉ trừ khi lòng sùng
mộ yếu ớt của tôi khiến tôi nhìn vị Thầy như một con
người tầm thường, còn thì sự kiện này hoàn toàn không
khác gì việc chính Guru Padmasambhava vĩ đại ban các quán đảnh
cho hai mươi lăm đệ tử. Niềm tin của tôi tăng trưởng càng
lúc càng mạnh mẽ, và khi ngài nhìn và chỉ vào tôi một lần
nữa và hỏi: ‘Bản tánh của tâm là gì?,’ tôi đã nghĩ
với lòng sùng mộ to lớn: ‘Đây đích thực là một yogi
vĩ đại có thể nhìn thấy bản tánh tuyệt đối của thực
tại!’ và bản thân tôi bắt đầu hiểu được cách thiền
định.
“Trong
lần viếng thăm Shechen sau đó, tôi thọ giới sa di từ Gyaltsap
Rinpoche. Trước kia Khenpo Shenga đã ban cho tôi những giới nguyện
này, nhưng tôi nói với Gyaltsap Rinpoche rằng tôi thích nhận
chúng từ ngài một lần nữa. Ngài trả lời là theo đúng
luật thì được nhận những giới nguyện hai lần, giống
như một cái tháp có thể được tô điểm bằng vài lớp
vàng.
“Khi
Dzongszr Khyentse Chokyi Lodro lần đầu tiên nói với Gyaltsap Rinpoche
về tôi, ngài nói: ‘Tôi đã gặp cậu bé này trước đây
và tôi cảm nhận mãnh liệt rằng đó là một hoá thân của
Jamyang Khyentse Wangpo. Xin chăm sóc cậu bé, và tôi cũng sẽ
làm bất kỳ điều gì có thể để phụng sự cậu ấy. Đặc
biệt là tôi xin ngài truyền dạy cho cậu Kho tàng những Giáo
huấn.’ Đây là sự truyền dạy mà Gyaltsap Rinpoche quyết
định ban cho vào lần tới. Ngài nói đây là giáo lý chỉ
dành cho những hành giả nghiêm túc, và trong khi ban chúng ngài
sẽ chỉ lưu ý tới những người được ngài chọn lựa là
sẵn sàng nhận các lễ quán đảnh. Ngài lập một danh sách
khoảng hai mươi người trong chúng tôi, và treo một dấu hiệu
gần cửa để đánh dấu ranh giới của ẩn thất. Kho
tàng bao gồm những giáo lý từ tất cả tám trường phái
chính của Phật Giáo Tây Tạng. Khi Gyaltsap giảng, giọng ngài
không mạnh lắm, nhưng rõ ràng và tôi có thể hiểu mọi điều
ngài nói. Khi đã về già tôi vẫn còn nhớ rõ giọng nói ấy.
Tôi thực sự coi ngài là bổn sư của tôi, bởi chính ngài
đã khai thị cho tôi bản tánh của tâm.
“Khyentse
Chokyi Lodro có một bản sao của những quyển sách và tôi được
bảo theo dõi bản văn cùng với ngài. Có thời gian Gyaltsap
Rinpoche bị bệnh, và trong thời kỳ đó Khyentse Chokyi Lodro
truyền dạy bằng cách đọc một vài giáo lý khác. Gyaltsap
hồi phục trong phòng ngài, từ nơi đó, nhờ một cửa sổ
giao tiếp với một phòng thờ nhỏ mà chúng tôi tụ họp,
ngài có thể tham dự buổi giảng dạy. Tôi ngồi cạnh cửa
sổ của ngài và khi nghe bài đọc, tôi được yêu cầu sửa
chữa bản sao chép bản văn của ngài. Thật kỳ điệu khi
có cơ hội được nhìn thấy ngài suốt ngày và làm việc
với ngài về những pho sách này. Thỉnh thoảng, Khyentse Chokyi
Lodro bảo tôi viết vài bài thơ. Mặc dù còn rất trẻ, tôi
làm thơ khá hay; Gyaltsap Rinpoche rất hài lòng và bảo rằng
tôi sẽ trở thành một nhà văn tuyệt vời.
“Giáo
lý kéo dài cả thảy ba tháng. Vào cuối khoá chúng tôi cử
hành những buổ lễ tạ ơn trong hai ngày - kể cả một tiệc
cúng dường lớn với chính Gyaltsap Rinpoche là Đạo Sư hát
tụng, một cơ hội độc nhất vô nhị.
“Sau
khi kết thúc những giáo lý này, Gyaltsap tôn phong tôi là hoá
thân về tâm của Jamyang Khyentse Rinpoche. Khyentse Wangpo có năm
hoá thân, là những vị tương ứng với các hoá thân về thân,
ngữ, tâm, các phẩm tính, và hoạt động. Khyentse Chokyi Lodro
là hoá thân hoạt động của ngài.
“Buổi
sáng ngày lễ tôn phong tôi leo lên con đường dẫn tới ẩn
thất. Ở bên trong, một ngai tòa rộng lớn đã được thiết
lập. Shechen Kongtrul, khi ấy còn rất trẻ, đang cầm hương
trầm, và Shechen Gyaltsap mặc bộ y phục đẹp nhất của ngài.
Các ngài bảo tôi ngồi trên ngai. Chỉ có một ít người hiện
diện trong phòng. Họ tụng những bài kệ mô tả những phẩm
tính linh thiêng của thời gian và địa điểm của một sự
truyền dạy, một vị Thầy, về những điều ngài giảng dạy,
và về những người nhận giáo lý của ngài. Gyaltsap Rinpoche
cử hành buổi lễ và chuẩn bị cho tôi những phẩm vật quý
báu tượng trưng cho thân, ngữ, tâm, các phẩm tính và hoạt
động của chư Phật. Như biểu tượng của thân, ngài ban
cho tôi những hình ảnh của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là
sở hữu của Mipham Rinpoche và Jamyang Khyentse Wangpo. Như biểu
tượng của tâm, ngài ban cho tôi vajra (chày kim cương) và chuông
mà Mipham Rinpoche đã sử dụng suốt đời ngài. Như biểu tượng
của các phẩm tính, ngài ban cho tôi những vật phẩm cần
thiết cho việc ban các lễ quán đảnh. Cuối cùng, như biểu
tượng của sự hoạt động, ngài ban cho tôi ấn của Mipham
Rinpoche. Sau đó ngài trao cho tôi một văn kiện viết tay, trong
đó viết: ‘Hôm nay tôi nhận con trai của gia đình Dilgo và
xác nhận cậu là tái sanh của Jamyang Khyentse Wangpo. Tôi đặt
tên cho cậu là Gyurme Thekchog Tenpai Gyaltsen, Cờ Chiến Thắng
Bất Biến của Tối Thượng Thừa. Tôi phó thác cho cậu những
giáo lý của các Đạo Sư vĩ đại trong quá khứ. Giờ đây,
nếu tôi chết tôi sẽ không hối tiếc.’
“Vì
thế những cơ hội này và những dịp khác trải qua một thời
gian khoảng năm năm là những thời gian tôi sống với Gyaltsap
Rinpoche tại Shechen. Trong thời gian ở đó, tôi không sống
ngay ở tu viện mà tại trung tâm nhập thất trên đồi.
“Sau
đó tôi trở về nhà. Tôi ở trong thất khoảng một năm trong
một hang động được gọi là Boyam Samphutri. Suốt mùa đông,
tôi không ra khỏi ẩn thất, tôi mời Khenpo Thubga uyên bác
tới và ban cho tôi những giáo lý chi tiết Tantra Tinh tuý Bí
mật. Ngài tới đó cả thảy ba lần, và tôi học thuộc lòng
bản văn gốc lẫn bình giảng ba trăm trang của Longchenpa.
“Một
thời gian sau, tôi tới Kyangma Ritro, nơi Khenpo Thubga đã sống.
Ở đó không có tu viện hay những toà nhà khác, chỉ có những
căn lều. Chính ở nơi đó, năm mười lăm tuổi, từ một
lá thư của cha tôi, tôi được biết Gyaltsap Rinpoche đã mất.
Trong một lát tâm tôi trở nên trống rỗng. Sau đó, bất thình
lình, ký ức về vị Thầy phát khởi mạnh mẽ trong tâm tôi
tới nỗi tôi bị xáo trộn và oà khóc. Ngày hôm đó tôi có
cảm tưởng như thể trái tim tôi bị giật tung ra khỏi lồng
ngựx. Tôi trở về Denkhok và bắt đầu một thời kỳ nhập
thất kéo dài mười ba năm trong những núi non.”
Một
miếng pha lê nhận vào mọi màu sắc của miếng vải mà nó
được đặt lên đó, dù là trắng, vàng, đỏ, hay đen. Cũng
thế, những người mà bạn sống qua một thời gian với họ,
dù ảnh hưởng của họ là xấu hay tốt, cũng sẽ có một
tác động to lớn đối với đường hướng của cuộc đời
hay sự thực hành của bạn.
Việc
bạn sống một thời gian với những thiện tri thức đích
thực sẽ làm tâm hồn bạn tràn đầy lòng thương yêu đối
với tất cả chúng sinh và giúp cho bạn thấy rõ sự tham luyến
và sân hận tiêu cực ra sao. Việc sống với những vị ấy,
và noi theo mẫu mực của họ, sẽ làm bạn thấm đẫm một
cách tự nhiên những phẩm tính tốt đẹp của họ, giống
như mọi loài chim muông bay quanh một ngọn núi vàng sẽ được
đầm mình trong ánh sáng vàng chói lọi của nó.
Để
giải thoát chính mình ra khỏi samsara, vòng luân hồi sinh tử
khắc nghiệt, và đạt được sự Toàn Giác, bạn phải nương
tựa một vị Thầy đích thực. Một vị Thầy như thế luôn
luôn suy nghĩ, nói năng, và hành động hoàn toàn phù hợp với
Pháp. Ngài chỉ cho bạn điều cần phải làm để tiến bộ
trên con đường, và những chướng ngại cần phải tránh.
Một thiện tri thức đích thực thì như cánh buồm cho phép
con thuyền nhanh chóng vượt đại dương.
Nếu
bạn tin tưởng điều ngài nói, bạn sẽ tìm thấy con đường
ra khỏi sinh tử một cách dễ dàng; đó là lý do khiến vị
Thầy được coi là vô cùng quý báu. Sự Giác ngộ không phải
là cái gì có thể được thành tựu chỉ bằng cách theo đuổi
những ý tưởng của riêng bạn; mỗi giai đoạn riêng biệt
của việc thực hành của bạn, dù được đặt nền trên
các Kinh điển hay tantra, đều đòi hỏi một sự giảng dạy
từ một vị Thầy có phẩm tính.
Chúng
ta được dạy rằng tất cả chư Phật trong quá khứ, chư
Phật trong hiện tại và chư Phật trong tương lai đều đã
thành tựu hay sẽ thành tựu Phật Quả bằng cách đi theo một
vị Thầy.
Giáo
lý của Đức Phật thật bao la, sự truyền dạy của giáo
lý ấy thì không kể xiết, và những loại chủ đề mà nó
bao gồm thì vô tận. Nếu không theo những giáo huấn cốt
tủy của một vị Thầy thì chúng ta sẽ chẳng bao giờ biết
được cách đúc kết tất cả những giáo lý ấy thành những
điều cốt yếu nhất và đưa chúng vào thực hành.
Mặc
dù vị Thầy xuất hiện với chúng ta trong thân tướng con
người, và dường như hành xử trong cách thế một con người
bình thường, nhưng thực ra tâm ngài không khác biệt tâm Đức
Phật. Sự khác biệt duy nhất giữa vị Thầy và Đức Phật
nằm ở chỗ lòng tốt của vị Thầy đối với bạn, là điều
trong thực tế vượt trội lòng tốt của tất cả chư Phật
trong quá khứ – bởi lẽ mặc dù chư Phật đã hoàn toàn
giác ngộ, bạn không thể gặp được các Ngài bằng xương
bằng thịt mà cũng không được nghe giáo lý của các Ngài.
Trái lại, vị Thầy tâm linh của bạn đã xuất hiện trong
thế giới này, ngay trong thời đại của bạn. Bạn có thể
gặp ngài và nhận từ ngài những giáo huấn sẽ đưa bạn
ra khỏi vũng lầy sinh tử để đi tới Giác ngộ.
Khyentse
Rinpoche