NHỮNG
NĂM ĐẦU ĐỜI
Khyentse
Rinpoche sinh năm 1910, là con trai thứ tư của gia đình Dilgo
mà dòng dõi của nó được truy nguyên từ Trisong Detsen, vị
vua vĩ đại của Tây Tạng vào thế kỷ thứ chín. Ngôi nhà
của gia đình, nơi ngài sinh ra, ở trong thung lũng Denkhok trong
miền Kham – cực đông của bốn tỉnh chính của Tây Tạng.
Kham được hình thành từ nhiều vương quốc nhỏ, trong đó
vương quốc rộng lớn và có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất là
Derge.
Ông
nội của Khyentse Rinpoche là Tashi Tsering và sau này cha Ngài,
cả hai đều là những bộ trưởng của vua xứ Derge. Trong
tự truyện của Ngài, Khyentse Rinpoche thuật lại:
“Một
người trong tổ tiên của tôi thiệt mạng trong trận chiến
đấu cho vua xứ Derge. Để đền bù, gia đình Dilgo được
tưởng thưởng một vùng đất mầu mỡ trong thung lũng Denkhok.
Vào thời của ông nội tôi, gia đình thường phái một cặp
vợ chồng người giúp việc tới Denkhok mỗi mùa xuân để
làm việc đồng áng và giám sát những gì xảy ra ở đó,
và sau đó trở về nhà ở Derge vào mùa đông. Cặp vợ chồng
này rất quý mến một trong những người con trai trong gia đình
Dilgo, đó là Tashi Tsering, ông nội tôi. Ông không phải là
một cậu bé được yêu mến. Thật ra, có quá nhiều cậu
con trai khiến ông khó có thể được chăm sóc một cách đặc
biệt, vì thế vợ chồng người giúp việc đã hoàn toàn nuôi
nấng ông như con nuôi trừ cái tên của gia đình.
“Một
hôm, vợ chồng người giúp việc được quyết định sẽ
tới định cư vĩnh viễn ở Denkhok. Họ cố giữ kín sự ra
đi không cho Tashi Tsering biết để tránh cho cậu khỏi đau
buồn vì sự chia ly, nhưng đứa trẻ đã khám phá ra việc
ấy. Khi họ lên đường, cậu đã sửa soạn y phục cho chuyến
du hành và nài nỉ đi theo họ. Cuối cùng thì gia đình quyết
định cho cậu tới sống với họ ở Denkhok.
“Khi
lớn lên, ông nội tôi trở thành một người đàn ông rất
có ảnh hưởng ở Derge và là một bộ trưởng quan trọng
trong chính phủ Derge, rất được kính phục nhờ tánh trung
thực cũng như sự thông tuệ và uyên thâm. Bà nội tôi là
một Phật tử sùng mộ và đã trải qua những thời gian dài
trong việc thiền định về Chenrezi, Đức Phật của lòng bi
mẫn. Con trai của họ là cha tôi.
“Các
Lạt ma[1] chính của gia đình chúng tôi là Jamyang Khyentse
Wangpo và Jamgon Kongtrul. Mặc dù ông nội tôi đã cảnh cáo
rằng nhất định là ngài Jamyang Khyentse sẽ phản đối, nhưng
là một thanh niên, cha tôi vẫn thường đi săn. Một hôm cả
gia đình đi tới Tu viện Dzongsar thăm Jamyang Khyentse, ngài đã
gọi cha tôi vào phòng ngài và hỏi: ‘Con vẫn chưa thôi giết
thú vật à?’
“
‘Vâng,’ cha tôi đáp một cách lo lắng, ‘Con đã giết một
ít.’ Nói dối Lạt ma là điều không thể tưởng tượng
nổi.
‘Gia
đình Dilgo rất giàu có; con không cần phải săn bắn,’ Jamyang
Khyentse nói. ‘Ngày hôm nay con phải hứa sẽ không bao giờ
đi săn nữa.’ Ngài cầm một hình tượng thiêng liêng và
đặt nó lên đầu cha tôi. Cha tôi cảm thấy không thoải mái
và xấu hổ.
“Khi
ông trở về trang trại, ông nội tôi hỏi: ‘Rinpoche nói gì
với con?’ Cha tôi quá bối rối nên không trả lời được.
‘Có phải ngài bảo con đừng đi săn nữa?’ ông tôi khăng
khăng hỏi.
“
‘Vâng, ngài đã nói thế,’ cha tôi thừa nhận.
“Ông
nội tôi đã không nói gì về việc đi săn của cha tôi với
Jamyang Khyentse, ngài chỉ có thể biết được điều đó nhờ
sự thấu thị tuyệt diệu của ngài. Từ lúc đó trở đi
cha tôi không bao giờ đi săn nữa.
“Mẹ
tôi là con gái của một bộ trưởng khác trong chính phủ xứ
Derge. Bà luôn luôn thật dịu dàng, trong khi tánh khí của cha
tôi thì nghiêm khắc hơn.
“Nhà
tôi đồ sộ như một cung điện, và nó có hơn một trăm phòng,
kể cả một vài điện thờ tráng lệ. Ở chái phía tây là
điện thờ chính, và dù những nhạc cụ được tấu lên ở
đó có ầm ĩ tới đâu chăng nữa, nhưng ở chái đông nơi
có trang trại của cha mẹ tôi cũng không nghe thấy. Khi tôi
được khoảng bảy tuổi, tôi thường quấn quanh mình một
khăn choàng đỏ như một tu sĩ, yêu cầu những người giúp
việc của chúng tôi cũng làm như thế, và chúng tôi gồm tám
người hay khoảng ấy đã cùng nhau cử hành những buổi lễ.
Khi nhiều vị khách của cha tôi nhìn thấy chúng tôi, họ hỏi
chúng tôi ở tu viện nào, điều ấy làm chúng tôi cười rúc
rích.
“Vào
mùa hè, sau một vài môn học trong buổi sáng, tôi thường
bắt đầu đi lên núi và dựng một chiếc lều trên một bãi
cỏ đẹp đầy hoa. Tôi ở đó cả ngày dài và chơi đùa trong
một dòng suối. Vào cuối buổi chiều, khoảng bốn giờ, tôi
trở về nhà để học thêm nữa.
“Gia
đình tôi có hơn mười ngàn thú vật. Phần lớn chúng được
những gia đình du cư chăn giữ để đền đáp lại một phần
lợi tức mà những con thú này mang lại cho họ. Những cánh
đồng của chúng tôi có việc làm cho nhiều người trong khoảng
hai tháng, vào cuối mùa xuân sau khi tuyết tan, và trong hai tháng
vào mùa gặt hái trong mùa thu.
“Khi
cha tôi trên năm mươi tuổi, căn nhà của chúng tôi ỏ Denkhok
sụp đổ trong một trận động đất, giết chết ông bà nội
và anh cả tôi.
“Không
lâu trước khi cha mẹ tôi sinh đứa con trai thứ ba, vị Lạt
Ma của gia đình có vài giấc mơ lành. Trong một giấc mơ ngài
thấy một cặp xập xỗ được lưu giữ ở Tu viện Benchen
được tấu lên trong một tập hội tại nhà tôi. Ngài giải
thích điều này có nghĩa là đứa con trai sắp ra đời sẽ
là Hoá thân của Sangye Nyenpa, một vị Thầy vĩ đại mà trụ
xứ của ngài là Benchen. Nhưng cha tôi đã giận dữ bởi ông
không ước mong bị mất những đứa con trai của ông cho hệ
thống tu viện. Ông nói với vị Lạt Ma rằng là người đã
sống quá lâu với gia đình và từng là một người bạn tốt
như thế, vậy mà vị Lạt Ma đã tặng cho ông một trăm cú
roi da. Ông cũng buộc vị Lạt Ma phải thề giữ kín giấc
mơ này. Tuy nhiên, một thời gian sau Đức Karmapa đã tuyên
bố rằng quả thật đứa trẻ này là Sangye Nyenpa Rinpoche,
và cha tôi bị buộc phải hiến tặng đứa con trai của ông
một cách miễn cưỡng cho Tu viện Benchen. Ông lo lắng rằng
bất kỳ những đứa con trai nào khác mà ông có thể có cũng
sẽ bị tuyên bố là những Lạt Ma hoá thân.
“Trong
khi mẹ tôi mang thai tôi, đứa con trai thứ tư của bà, gia
đình đi thăm Mipham Rinpoche, một Lạt Ma vĩ đại sống trong
một ẩn thất cách trang trại của chúng tôi khoảng một giờ
đi bộ. Mipham Rinpoche lập tức hỏi rằng có phải mẹ tôi
đang mang thai. Cha mẹ tôi xác nhận điều này và hỏi ngài
nó là con trai hay con gái.
“
‘Nó là con trai,’ Mipham Rinpoche nói, ‘và khi nó sanh ra các
con phải cho ta biết.’
“Ngài
cho mẹ tôi một giây bảo hộ và vài viên thuốc ban phước
của Đức Manjushri (Văn Thù), Đức Phật của trí tuệ, để
cho tôi khi ra đời. Vào ngày tôi sinh ra, trước khi tôi được
uống sữa mẹ, một Lạt Ma có mặt đúng lúc để viết trên
lưỡi tôi chủng tự Dhi,[2]1 cốt tuỷ của thần chú Manjushri,
bằng cách dùng những viên thuốc bột hoà với nước nghệ.
“Khi
tôi sanh được ba ngày cha mẹ tôi bế tôi lại thăm Mipham
Rinpoche, ngài nói điều gì đó hàm ý rằng tôi là một đứa
trẻ đặc biệt. Từ lúc sinh ra, tôi đã có một mái tóc dài
rủ xuống tận mắt. Cha tôi hỏi có nên cắt nó không, nhưng
Mipham Rinpoche bảo không và chính ngài thắt nó thành năm búi,
giống như mái tóc của Đức Manjushri. Theo thỉnh cầu của
mẹ tôi, ngài ban cho tôi một pháp danh là Tashi Paljor (sự vinh
quang tốt lành), chính ngài viết nó trên một mảnh giấy nhỏ
mà sau này mẹ tôi luôn luôn giữ nó trong sách cầu nguyện
của bà.
“Một
khoảng thời gian sau, cha mẹ tôi lại đưa tôi tới thăm Mipham
Rinpoche. Ngài ban phước cho tôi bằng cách cử hành một lễ
quán đảnh Manjushri và nói: ‘Ta sẽ chăm sóc con suốt mọi
đời tương lai của con.’ Tôi cảm thấy rằng sự ban phước
này của ngài là sự kiện tối quan trọng duy nhất trong đời
tôi.
“Khi
tôi được một tuổi, một đại Lạt Ma của dòng Sakya là
ngài Loter Wangpon tới nhà chúng tôi. Ngài là đệ tử
Sakya lỗi lạc của Jamyang Khyentse Wangpo. Vào lúc đó có một
trận dịch trong vùng và cha mẹ tôi sợ tôi bị nhiễm bệnh,
đã sắp xếp để tôi và mẹ tôi ở trên cao trên sườn núi
với một trong những tá điền du cư của chúng tôi. Khi ngài
Loter Wangpo tới nơi, mẹ tôi đưa tôi xuống thăm ngài.
“Ngài
ban phước cho tôi, tụng một vài lời khẩn cầu và nói với
mẹ tôi: ‘Đây là một đứa trẻ khác biệt với tất cả
những người khác. Ta muốn xem những đường chỉ tay của
nó.’ Ngài đứng dậy khó nhọc vì ngài rất nặng nề và
bế tôi tới cửa điện thờ. Nhìn đôi bàn tay tôi trong ánh
nắng ngài nói: ‘Đây quả là một đứa trẻ đáng lưu ý.’
Ngài
đưa tôi trở về trại của ngài và cho tôi một hột lấy
từ chuỗi tràng của Jamyang Khyentse mà ngài đeo quanh cổ trong
một túi nhỏ bằng gấm thêu kim tuyến đỏ của ngài. Ngài
cũng làm một giây bảo vệ bằng lụa và bảo thị giả của
ngài mang một khăn lễ dài bằng lụa trắng có dệt những
lời ước nguyện tốt lành. Vị thị giả là người hơi keo
kiệt, đã mang vào một cái khăn lụa tầm thường, và Loter
Wangpo đã giận dữ buộc ông ta quay trở lại tìm một cái
khăn đặc biệt hơn. Vị thị giả trở lại với một cái
khăn cũ, bị vấy bẩn. Còn giận dữ hơn nữa, ngài Loter Wangpo
phái ông ta tìm một khăn trắng mới và tinh sạch.
“Mẹ
tôi rất khiêm tốn và nói: ‘Ồ, không, cái đó tốt rồi.’
“Nhưng
Loter Wangpo nói: ‘Không, ta phải có một chiếc khăn tinh khiết.
Cậu bé này là Hoá Thân của vị Thầy ta, ngài Jamyang Khyentse
Wangpo. Trong ba ngày liên tiếp ta có những giấc mơ và linh
kiến về Khyentse Wangpo, và khi nhìn thấy cậu bé ta đã không
hề nghi ngờ chút nào.’
“Khi
gặp bất kỳ vấn đề quan trọng nào, cha tôi đều tìm lời
khuyên bảo từ Mipham Rinpoche, và vào lúc này Mipham Rinpoche
nói: ‘ Vẫn còn hơi quá sớm để công khai xác nhận đứa
bé là Hoá Thân của Khyentse. Điều đó có thể gây nên những
chướng ngại.’
“Vì
thế trong lúc này cha tôi không dâng tôi cho ngài Loter Wangpo,
cũng không gởi tôi tới Tu viện Dzongsar.
“Khi
tôi được hai tuổi, Mipham Rinpoche chết, và Shechen Gyaltsap
Rinpoche tới tham dự các tang lễ. Trong thời gian ngài ở đó,
tôi tới thăm ngài đều đặn. Ngài bảo cha tôi rằng sau này
phải đem tôi lại cho ngài tại Tu viện Shechen, bởi tôi sẽ
làm lợi lạc cho Phật Pháp và tất cả chúng sinh. Cha tôi
hỏi ngài có những dấu hiệu nào về điều này. Shechen Gyaltsap
Rinpoche, người rất hiếm khi nói về những điều như thế,
đã trả lời rằng đêm hôm trước ngài đã có một giấc
mộng. Trong giấc mộng đó nơi điện thờ của chúng tôi,
hình ảnh của Tseringma, vị nữ Bảo hộ Trường Thọ, đã
biến thành thiên nữ và bảo Rinpoche hãy chăm sóc đứa trẻ
này, là người sẽ làm lợi ích cho Giáo Pháp. Cha tôi, người
rất trực tính, nói rằng nếu điều này là chân thực thì
ông sẽ cho phép tôi tới Tu viện Shechen. Nhưng nếu nó chỉ
khiến cho tôi chiếm được một ngai tòa trong tu viện và bị
dính mắc trong những vấn đề chính trị của giáo hội thì
ông sẽ không cho tôi đi. Gyaltsap Rinpoche cam đoan với ông là
tôi sẽ làm lợi lạc cho Giáo Pháp và tất cả chúng sinh,
vì thế cha tôi đồng ý để tôi đi. Tuy nhiên khi ấy tôi
vẫn còn quá trẻ không thể gởi tới Shechen được.
“Ngay
trước khi Mipham Rinpoche tịch, ngài bảo Lạt Ma Osel, vị thị
giả và đệ tử suốt đời của ngài: ‘Khi ta chết con sẽ
cảm thấy đau buồn ghê gớm, nhưng không lâu đâu.’ Sau cái
chết của Mipham Rinpoche, Lạt Ma Osel hầu như điên cuồng.
Ông nhịn đói và không ngừng ra vào căn phòng của mình. Sau
một trăm ngày ông có một thị kiến trong đó ông thấy Mipham
Rinpoche trong bầu trời, đội một cái mũ pandita (học giả)
và biên soạn một bản văn. Khi ngài hoàn tất mỗi trang ngài
ném nó xuống cho Lạt Ma Osel. Chữ ngài viết không bằng mực
đen mà bằng ánh sáng vàng chói lọi. Lạt Ma Osel nhìn một
trong những trang giấy và có thể đọc được một ít, ‘Osel
.. Jalu .. Dorje .. Ánh sáng Chói lọi .. thân cầu vồng .. kim
cương ..’ Sau đó Mipham Rinpoche làm cử chỉ hướng về bầu
trời và nói ba lần: ‘Osel Jalu Dorje!’ Từ lúc đó trở đi,
nỗi buồn của Lạt Ma Osel hoàn toàn biến mất.
“Một
thời gian ngắn sau, tôi được đưa tới gặp Kunzang Dechen
Dorje, một Đạo Sư thành tựu cao cấp. Ngài nói: ‘Đứa trẻ
này và tôi đã biết nhau trước đây,’ và hỏi tôi: ‘Con
nhớ ta không?’
“
‘Con có nhớ ngài không?’ cha tôi lập lại.
“
‘Có, con biết ngài,’ tôi nói, hơi hoảng sợ.
“Kunzang
Dechen Dorje nói: ‘Trong nhiều đời trước chúng tôi có một
mối liên hệ. Ta sẽ tặng cho cậu bé một món quà đẹp.’
Ngài có một bộ sưu tập gồm những cái tách quý hiếm. Ngài
không quan tâm tới vàng, bạc, và những tài sản khác, nhưng
ngài rất quý những chiếc tách của ngài. Ngài nói với vợ
ngài: ‘Đem cho tôi hộp tách,’ và tặng tôi một cái tách
cực kỳ đẹp mà ngài đổ đầy nho.
“Cha
tôi nói với Dechen Dorje là chúng tôi đang đi hành hương Lhasa
và xin ngài gia hộ.
“
‘Ta sẽ cầu nguyện cho các con,’ ngài nói. ‘Ta thường
quên mất những người mà ta phải nhớ tới trong những lời
cầu nguyện trừ phi vợ ta nhắc nhở – nhưng ta sẽ không
bao giờ quên đứa trẻ này.’
“Chúng
tôi đi hành hương Lhasa. Ở đó, một Lạt Ma khác là Taklung
Matrul bảo cha tôi: ‘Ông nên chăm sóc đứa trẻ này thật
cẩn thận bởi chắc hẳn nó là một Lạt Ma Hóa thân.’
“Cha
tôi không nói gì. Nhưng khi chúng tôi trở về phòng trọ, ông
tuyên bố: ‘Các Lạt Ma không cho tôi giữ bé trai này, nhưng
tôi sẽ không để nó trở thành một Lạt Ma. Chúng tôi có
một gia đình lớn, một di sản, và nhiều đất đai phải
chăm sóc. Tôi muốn nó là một cư sĩ để có thể cai quản
tất cả chúng.’
“Khi
chúng tôi trở về Kham, cha tôi, anh cả Sheldrup và tôi gặp
vị thầy vĩ đại Adzom Drukpa. Ngài là một người rất uy
nghi. Ngài mặc một áo sơ mi bằng lụa trắng thô với cổ
áo bằng gấm đỏ thêu kim tuyến và một chuỗi mã não quanh
cổ. Ngài có mái tóc đen dài hơi bạc, thắt lại trên đỉnh
đầu bằng một cái khăn. Ngài hỏi tôi có phải là cậu bé
sẽ nắm giữ di sản của gia đình không, bởi tôi đang mặc
một chiếc y cư sĩ và để mái tóc dài quấn quanh đầu theo
kiểu Derge.
“Sau
đó ngài cười và nói: ‘Phải, cậu ta sẽ nắm giữ di sản
của gia đình theo một cách nào đó. Nhưng đó là một trở
ngại lớn. Ta sẽ chờ đợi điều đó chứ?’ Cha tôi đã
tán thành.
“Một
lát sau, Adzom Drukpa nói: ‘Ông cho nó làm một tu sĩ thì tốt
hơn.’
“Cha
tôi trả lời rằng việc cho tôi làm một tu sĩ sẽ rất khó
khăn.
“Trong
trường hợp đó ta sẽ giải trừ các chướng ngại,’ Adzom
Drukpa nói.
“Một
mũi tên biểu tượng cho sự trường thọ được mang tới,
và người ta đo chiều dài của nó. Adzom Drukpa tụng một bài
khẩn nguyện dài, và người ta lại đo mũi tên. Nó đã ngắn
hơn trước một ngón tay.
“
‘Đó,’ Adzom Drukpa nói, ‘đó là chướng ngại ta đã nói
với ông!’
“Cha
tôi không có vẻ đặc biệt xúc động. Adzom Drukpa tụng bài
cầu nguyện ba lần nữa, và kéo mũi tên ra. Người ta đo lại
một lần nữa, và lúc này nó dài hơn lúc ban đầu.
“
‘Ta hoàn toàn không phải là một người bình thường,’
Adzom Drukpa nói, ‘và ta lập lại rằng sẽ tốt hơn nếu ông
cho cậu bé làm tu sĩ.’
“Nhưng
cha tôi vẫn không phản ứng. Trong bảy ngày, mỗi ngày Adzom
Drukpa ban cho tôi một lễ ban phước trường thọ. Vào ngày
cuối cùng ngài tuyên bố: ‘Giờ đây ta đã giải trừ chướng
ngại.’
“Ngay
sau đó chúng tôi trở về nhà, không bàn luận thêm về việc
tôi trở thành tu sĩ.
“Trên
đường trở về Denkhok tôi gặp Dzogchen Rinpoche, ngài đang
điều khiển một cuộc dã ngoại gần một tảng đá lớn
trước mặt Tu viện Dzogchen. Ngài cũng nói rằng tôi gặp những
chướng ngại và chúng tôi nên phóng sanh thú vật để chống
lại chúng. Chúng tôi trở về nhà, và bởi cha tôi sở hữu
nhiều con thú nên chúng tôi có thể cứu thoát vài ngàn cừu,
bò yak, và dê khỏi tay đồ tể.
“Cũng
năm đó tôi bị phỏng nồi súp. Ở trang trại của chúng tôi,
mùa hè là thời gian bận rộn nhất trong năm theo nông nghiệp,
trong thời gian này chúng tôi thuê mướn nhiều người lao động.
Để nuôi ăn tất cả những người này, những lượng súp
khổng lồ được nấu trong một cái vạc lớn. Một hôm, khi
chơi đùa với anh tôi, tôi ngã vào cái vạc súp đang sôi.
Nửa thân dưới của tôi bị phỏng tới nỗi tôi phải nằm
liệt giường trong nhiều tháng và bệnh nặng mặc dù gia đình
tôi tụng nhiều bài cầu nguyện trường thọ dài cho tôi.
“Cha
tôi hỏi tôi trong nỗi tuyệt vọng: ‘Theo con thì những buổi
lễ nào sẽ giúp con khá hơn? Nếu có bất kỳ điều gì có
thể cứu mạng con thì chúng ta phải thực hiện nó!’
“Điều
tôi mong muốn nhất là làm một tu sĩ, vì thế tôi trả lời:
‘Nếu con có thể khoác y tu sĩ thì điều đó có thể giúp
ích cho con.’ Cha tôi hứa với tôi và nhanh chóng tìm được
vài chiếc y. Khi chúng được trải trên giường, tôi vui mừng
khôn xiết. Tôi cũng đặt trên gối một cái chuông và trống
tay dùng trong buổi lễ.
“Ngay
ngày hôm sau tôi mời Lạt ma Osel tới cạo đầu cho tôi. Tôi
được thuật lại là ngày hôm đó một vài người quản gia
già của chúng tôi đã khóc lóc than van: ‘Bây giờ người
con trai cuối cùng của gia đình Dilgo đã phát nguyện, vậy
là dòng tộc đã chấm dứt.’ Nhưng tôi sung sướng tới nỗi
chẳng bao lâu sức khoẻ của tôi được cải thiện, và sự
nguy hiểm của một cái chết non yểu đã lùi dần. Khi đó
tôi mười tuổi.”
Khi
tôi an trụ ở một nơi như thế,
Một
nơi vốn không của riêng ai, không bị ai thúc ép,
Phải chăng đó là nơi rộng rãi, tự do tôi có thể sống
Tự
tại không vướng bận?
Trong
sự cô tịch, tâm và thân
Không
bị sự phóng tâm phiền nhiễu.
Vì
thế, hãy bỏ lại sau lưng đời sống thế tục này
Và
hoàn toàn từ bỏ tâm thức lang thang.
Quán
chiếu sâu xa kết hợp thiền định tĩnh lặng
Tiệt
trừ tận gốc những trạng thái buồn đau,
Hiểu
rõ điều này, trước tiên hãy tìm sự an định,
Mà
những người hoan hỉ từ bỏ thế gian đã tìm thấy.
Vì thế trong những khu rừng lập lòe đáng yêu này,
Không
bị ưu phiền phá vỡ niềm vui,
Tôi
sẽ hoàn toàn an định tâm thức lang thang,
Và
ở đó an trụ trong tịch liêu tràn trề hỉ lạc.
Trong
các động đá to lớn vừa ý,
Và
mát mẻ nhờ những rặng đàn hương dưới ánh trăng,
Trong
núi rừng thoảng làn gió nhẹ,
Tâm
ta phấn chấn khi mang lại điều tốt lành cho người khác.
Những
người thực hành tâm theo cách này
Hạnh
phúc của họ là làm an dịu nỗi khổ của chúng sinh,
Sẽ
liều thân trong địa ngục thống khổ vô gián
Như
những con thiên nga lăn xả trên một hồ sen.
Niềm
hỉ lạc bao la như đại dương
Phát
khởi khi mọi chúng sinh được giải thoát,
Điều
này vẫn còn chưa đủ? Nó không làm ta mãn nguyện hay sao?
Ước
muốn giải thoát riêng mình, nó được dành cho tôi ư?
Shantideva
Như
dòng thác núi chảy về đại dương,
Như
mặt trời và mặt trăng chìm gần những dải núi phương tây,
Như
những ngày, đêm, giờ, phút trôi qua thật mau chóng –
Hoàn
toàn giống như thế, một đời người cạn kiệt không chút
động tâm.
Padmasambhava
Đời
sống lập lòe trong những cơn giông gió của một ngàn điều
bất hạnh,
Còn
mỏng manh hơn một bọt nước trong dòng suối.
Trong
giấc ngủ, mỗi hơi thở bắt đầu và lại được hít vào;
Kỳ
diệu biết bao khi ta thức dậy mà vẫn còn sống!
Nagarjuna
Như
một vì sao lung linh, một ảo ảnh, hay một ngọn lửa,
Như
một ảo tưởng thần diệu, một giọt sương, hay một bọt
nước trên dòng suối,
Như
một giấc mộng, ánh chớp, hay một đám mây –
Hãy
nhận ra mọi sự đều duyên hợp như những điều này.
Chandrakirti
Bởi
tiếng chim hót và tiếng rì rào của những rặng cây,
Bởi
những tia chớp và bởi chính bầu trời,
Cầu
mong mỗi một và mọi chúng sinh,
Nhận
ra được âm thanh miên viễn của Pháp.
Shantideva
Mọi
niềm vui mà thế gian gồm chứa
Đến
từ việc ước muốn hạnh phúc cho người khác.
Mọi
khổ đau mà thế gian chất chứa
Đến
từ việc mong muốn lạc thú cho bản thân.
Shantideva
Vì
sợ chết, ta đi vào núi.
Ta
thiền định liên tục về sự xuất hiện không thể tiên
đoán của cái chết,
Và
nắm giữ thành trì của bản tánh vô sanh bất biến.
Giờ
đây ta hoàn toàn vượt lên mọi nỗi sợ chết!
Milarepa
Quê
hương tôi là mọi xứ sở – không có phương nào đặc biệt.
Tu
viện của tôi là những núi non cô tịch – không có nơi nào
riêng biệt.
Gia
đình tôi là tất cả chúng sinh trong sáu cõi.
Tên
tôi là “Ẩn sĩ được Tam Bảo Che chở.”
Shabkar
Kyema!
Kyehu! Cha mẹ yêu quý của con,
Cha
mẹ đã sinh ra con với mọi sự tự do và điều thuận lợi
của một đời người,
Và
cha mẹ đã chăm sóc con với lòng yêu thương, từ khi con còn
nhỏ dại đến tận bây giờ.
Bởi
cha mẹ đã giới thiệu con với một vị Thầy chân chính,
Chính
nhờ lòng tốt của cha mẹ mà con đã gặp được con đường
giải thoát.
Khi
đã lắng nghe, nghĩ tưởng, và thiền định về
Cuộc
đời của vị Thầy toàn hảo của con,
Con
đã quyết định lặng lẽ thoát khỏi mọi bận tâm của cuộc
đời này
Và
lang thang qua những thung lũng trống, không một bóng người.
Cha
và mẹ ơi, hãy ở lại trong ngôi nhà sừng sững, tuyệt đẹp
của các ngài;
Còn con, đứa con trai nhỏ của cha mẹ, chỉ mong mỏi những
hang động trống không.
Xin
cảm ơn những y phục tốt lành, mềm mại cha mẹ cho con;
Nhưng
con không cần tới chúng – con thích mặc nỉ trắng đơn sơ
hơn.
Con
bỏ lại những vật sở hữu phía sau –
Một
bình bát, một cây gậy, và Pháp phục là những gì con cần.
Con
vứt đi sự xa hoa và của cải mà không hối tiếc;
Một
cẩm nang chỉ dạy sâu xa là tất cả những gì con ước ao
thâu thập.
Con
bỏ lại khu vườn này đầy những bông hoa lộng lẫy,
Và
hướng về chốn hoang vu có những vách đá đơn độc nhô
ra.
Con
không cần những người hầu, họ chỉ cung cấp nhiên liệu
sân si và tham ái:
Chim
muông và dã thú là bầu bạn duy nhất con ao ước.
Trước
đây, trước mặt vị Thầy tuyệt hảo của con,
Khi
ngài ban quán đảnh Tâm Yếu Bí Mật,
Con
đã nguyện từ bỏ mọi hoạt động của đời này
Và
thực hành phù hợp với Pháp.
Trong
tim con lời hứa ấy rõ ràng như thể được khắc trên đá
–
Con
không thể không lên đường tới một sơn thất quạnh hiu.
Mặc
dù giờ đây con trai của cha mẹ sẽ ẩn náu trong thung lũng
hẹp
Khuôn
mặt tươi vui của cha mẹ sẽ luôn ở bên con,
Con
cũng không quên sự chăm sóc thương yêu của cha mẹ;
Và
nếu con đoạt được thành trì kinh nghiệm và chứng ngộ,
Con
sẽ đền đáp thiện tâm của cha mẹ, điều ấy cha mẹ có
thể quyết chắc!
Khyentse Rinpoche viết khi ngài mười ba tuổi
Giống
như mọi sự từng cái một luôn luôn tiến gần tới sự tan
rã cuối cùng của chúng không chút động tâm, cuộc đời
của riêng bạn thì cũng thế, giống như một ngọn đèn bơ,
nó sẽ nhanh chóng lụi tàn. Thật là ngu xuẩn khi nghĩ rằng
trước tiên bạn có thể hoàn thành mọi công việc của bạn
và sau đó lui về sử dụng những giai đoạn sau của đời
mình để thực hành Pháp. Bạn có thể chắc chắn rằng bạn
sẽ sống lâu? Cái chết đã chẳng tấn công người trẻ cũng
như người già? Vì thế, dù bạn đang làm gì, hãy nhớ tới
cái chết và giữ cho tâm bạn luôn tập trung vào Pháp.
Khyentse Rinpoche
Bơ
có thể được làm bằng cách đánh sữa bởi chất béo đã
có ở trong sữa rồi; chưa từng có ai khuấy nước để làm
bơ. Một người đào vàng tìm vàng trong đá chứ không tìm
trong gỗ. Hoàn toàn giống như thế, nỗ lực đạt được
Phật Quả là một việc có ý nghĩa bởi Phật tánh vốn có
trong tất cả chúng sinh. Nếu không có tiềm năng ấy, bất
kỳ nỗ lực nào cũng chỉ là một sự lãng phí thời gian.
Jamgon Kongtrul
Khi
một thủy thủ có một con tàu, anh ta nên vượt đại dương;
khi một người chỉ huy có một nhóm người dũng cảm cùng
tụ hội, anh ta nên đánh bại quân thù; khi một người nghèo
khổ có một con bò như ý, anh ta nên vắt sữa nó; khi một
lữ khách có một con ngựa oai phong, anh ta nên cưỡi nó tới
những chốn xa xôi. Giờ đây, khi bạn có một đời người
quý báu và một vị Thầy hiện thân của chư Phật trong quá
khứ, hiện tại và tương lai, hãy nghĩ tưởng với sự hoan
hỉ và nhiệt tâm bạn sẽ du hành trên con đường Thánh Pháp
ra sao, trong khi liên tục tiến gần tới mục đích tối hậu
là sự giải thoát và Giác ngộ.
Shabkar