Chương
3
Một Cuộc
Chạy Trốn
Khi cởi bỏ y áo rời chùa, trong đầu tôi chỉ có một ý
nghĩ: về nhà.
Tuy nhiên, trước hết, tôi ghé qua nhà chị gái. Anh rể
tôi hình như chỉ hơi ngạc nhiên khi thấy tôi. Anh đã nghe
kể về những khó khăn của tôi, nên anh mỉm cười nói: “Em
rời chỗ đó là đúng rồi. Cứ ở đây một lúc, anh sẽ
tìm cho em một ngôi chùa khác.” Nhưng tôi lo sợ rằng nếu
tôi ở đó, đại đức Sonuttara sẽ đến tìm tôi. Vì thế
tôi chạy về nhà cha mẹ tôi.
Mẹ tôi bị sốc khi nhìn thấy tôi. Bà hỏi tại sao tôi
bỏ chùa, vì thế tôi kể cho mẹ nghe những gì đã xảy ra.
Bà không nói gì nhiều, chỉ bắt đầu khóc.
Buổi tối cha tôi từ ngoài ruộng lúa trở về nhà. Tôi kể
với ông về những sự ngược đãi mà tôi đã phải chịu
đựng ở chùa. Nhìn nét mặt cha, tôi biết rằng ông không
tin tôi, nhưng ông vẫn giữ bình tĩnh. Các anh chị em tôi,
tất cả đều rất vui được gặp lại tôi, nhưng không ai
nói gì nhiều. Họ chỉ chấp nhận sự có mặt của tôi ở
đó.
Tuy nhiên, tất cả chúng tôi dường như đều biết rằng việc
này không thể kéo dài lâu hơn. Việc nhà sư cởi bỏ y áo
là điều cấm kỵ. Nó sẽ mang lại những điều bất
hạnh, hay ngay cả sự tủi nhục, cho cả gia đình.
Ngay chiều hôm sau, thầy tôi đã có mặt ở nhà tôi. Cha mẹ
tôi, vì lòng kính trọng đối với tăng sĩ, đã không đòi
ông giải thích tại sao tôi phải chạy trốn khỏi chùa. Họ
giả vờ như không biết bất cứ điều gì đã xảy ra.
Sau vài phút chuyện trò xã giao, sư Sonuttara yêu cầu tôi trở
về chùa với ông. Tôi nhìn cha mẹ, cầu khẩn trong im lặng
sự giúp đỡ của họ, hy vọng rằng họ sẽ đứng lên để
bảo vệ tôi, và nói rằng họ muốn tôi ở nhà với họ.
Nhưng không ai nói gì trong những giây phút đó. Hoàn toàn im
lặng. Cha mẹ hình như không dám nhìn tôi. Sau đó thầy tôi
lặp lại yêu cầu của ông.
Cha tôi gật đầu, nói nhỏ, “Con phải đi theo Thầy.”
Tim tôi chùn xuống. Tôi biết rằng nếu tôi cố ở lại, thì
cha tôi cũng sẽ dùng sức mạnh để bắt tôi về chùa ngày
hôm sau, hay ngày hôm sau nữa. Và tôi không muốn mang lại sự
tủi nhục cho gia đình.
Vì thế tôi ra đi theo sư Sonuttara. Ngay khi chúng tôi trở lại
chùa, Sư lại làm lễ xuất gia cho tôi lần nữa, trong một
buổi lễ kém quan trọng hơn lần đầu rất nhiều. Lần thứ
hai trong cuộc đời, tôi lại mặc lên mình bộ y vàng. Tôi
chỉ có thể hy vọng rằng lần này nó sẽ tốt hơn.
Sư Sonuttara, thầy tôi, là một thành viên của hội đồng
Tăng già, bộ phận quản lý tông phái của chúng tôi,
phải trải qua một tháng giữa rằm tháng sáu và rằm tháng
bảy ở Kandy. Trong tháng đó, hội đồng Tăng già tổ chức
các buổi lễ thọ đại giới cho các sadi, đôi khi truyền
giới tỳ kheo cho đến ba mươi vị trong một ngày. Trong lúc
thầy tôi vắng mặt, tôi đảm nhiệm việc quản lý chùa,
dầu rằng tôi chỉ mới mười ba tuổi và hãy còn là
một Sadi.
Một ngày kia, khi thầy tôi vắng mặt, và tôi coi sóc chùa,
có một người đàn ông đã đến chùa xin cam. Chúng tôi có
hai cây cam trong khuôn viên chùa, vì thế khi nào dân làng cần
cam, họ đến xin chúng tôi. Anh ta trả cho tôi khoảng gần
một rupee, tương đương với khoảng hai mươi lăm xu tiền
Mỹ.
Một trong những đứa trẻ ở chùa đã đi Kandy với sư Sonuttara,
vì thế chỉ còn một đứa ở lại với tôi, tên là Hinnimahattaya.
Thường thì chúng tôi chia sẻ với nhau mọi thứ, giống như
cặp bài trùng. Vì thế ngay khi người đó đã ra đi với một
bao cam, Hinnimahattaya đòi tôi phải chia phần cho hắn.
"Ông ta chỉ đưa cho tôi hai mươi lăm xu," tôi nói với Hinnimahattaya,
"mà trong đó chúng ta phải mua đường, trà, và một ít dầu
cho đèn tối nay."
Hinnimahattaya rất bực mình. Hắn xổ ra một tràng chửi
rủa tục tĩu, nên tôi đánh hắn một trận.
Một lần khác, chúng tôi không còn diêm để đốt đèn dầu.
Tôi bảo Hinnimahattaya chạy qua nhà hàng xóm mượn đốm lửa.
Đó là việc rất thường vào thời ấy, ‘đi mượn’ lửa
từ nhà hàng xóm.
Nhưng Hinnimahattaya từ chối không đi. Nên tôi đe dọa
hắn: nếu hắn không đi lấy lửa, tôi sẽ không chia cho hắn
nửa điếu thuốc của tôi. (Thường thì chúng tôi chia nhau
thuốc hút; tôi sẽ hút một nửa rồi đưa cho hắn một nửa.)
Nhưng Hinnimahattaya không nghe. Nó thà là không có nửa điếu
thuốc hơn là phải chạy đi công việc.
Vì thế tôi phải tự đi, và khi tôi trở lại với cây lửa,
tôi đốt một điếu thuốc. Hinnimahattaya nhìn tôi nôn nóng.
Khi điếu thuốc vừa hết một nửa, nó đòi tôi chia phân
nửa còn laị.
"Hãy quên đi," tôi nói. "Luật là luật. Tao đã phải
chạy đi lấy lửa, thì mầy đừng hòng được hút chút thuốc
nào.’
Hinnimahattaya bắt đầu chửi rủa tôi. Quá tức giận, tôi
đẩy nó vào tường, rồi dí thuốc vào hai khóe miệng của
nó.
Cũng có chuyện xảy ra nữa là, trong lúc Thầy tôi đi Kandy,
có vài thiếu niên trong làng lên chùa ở với chúng tôi. Chúng
tôi bày ra nhiều trò chơi. Dĩ nhiên là một sadi, đáng lý
ra tôi không được tham dự những trò chơi này, nhưng ai mà
biết được khi thầy không có ở nhà?
Một trong những trò chơi mà chúng tôi rất thích, được gọi
là panca ganahava, có nghĩa là ‘trò chơi năm số’. Chúng tôi
thấy các vỏ sò trên sàn nhà và tính điểm tuỳ thuộc vào
số vỏ sò lật úp hay ngửa.
Một ngày kia người hàng xóm kế bên đến, bảo rằng anh
ta muốn dạy chúng tôi chơi đánh bài. Anh ta chỉ cách chơi,
và tất cả chúng tôi đều thích. Anh ta cho chúng tôi thắng
liên tiếp mấy ván, rồi nói, "Nếu mấy em có tiền, thì đặt
cược trong ván bài này. Hôm nay là ngày may mắn của mấy
em. Mấy em chắc sẽ thắng."
Tôi nói rằng tôi chỉ có một rupee. Anh ta nói, "Tốt.
Hãy chơi bằng tiền."
Tôi cá đồng rupee của mình và lập tức ăn được thêm hai
cái nữa! Tôi khoái quá. Anh ta khuyến khích tôi chơi nữa.
Dĩ nhiên, sau đó tôi thua. Người hàng xóm bỏ túi ba đồng
rupee rồi ra về, mỉm cười.
Vậy là kết thúc sự nghiệp cờ bạc ngắn ngủi của tôi,
và tôi đã được một bài học chỉ trong lần thử duy nhất
đó.
Chiều hôm đó thầy tôi từ Kandy trở về, việc đầu tiên
sư làm là xem xét cái tô chúng tôi dùng đựng thức ăn cúng
Phật trong chánh điện. Chúng tôi đã được dặn là phải
rửa sạch nó mỗi ngày trước ngọ.
Ngày hôm đó, sư Sonuttara thấy là nó vẫn còn đầy thức
ăn lúc một giờ trưa. Lúc đó tôi đang ở trong bếp, chuẩn
bị trà cho sư. Sư gọi tôi và tôi bước ra khỏi nhà bếp,
bắt đầu bước xuống những bậc thềm để vào gian nhà
chính.
Bỗng nhiên tôi thấy một vật đang bay về phía mình -cái
tô đựng thực phẩm trong chánh điện! Thầy tôi quá giận
đến nỗi ông đã liệng cái tô về phía tôi ngay trước khi
hỏi tại sao nó vẫn còn đầy. Cái tô trúng ngay trán tôi,
rất mạnh, và tôi ngã xuống đất, chảy máu đầu.
Cho đến ngày nay tôi vẫn còn vết thẹo trên trán.
Thầy chúng tôi cũng thấy vết bỏng quanh miệng của
Hinnimahattaya.
"Đã xảy ra chuyện gì?" Sư hỏi tôi.
Tôi đã dặn Hinnimahattaya không được nói với thầy về vụ
hút thuốc. Nếu nó nói, cả hai chúng tôi sẽ bị phạt vì
đã hút thuốc. May mắn thay, Hinnimahattaya đã không nói gì.
Tôi thưa với sư Sonuttara rằng thằng bé đã chửi tôi, vì
thế tôi châm lửa vào miệng hắn để phạt. Ngạc nhiên thay,
hình như Sư đã tin như thế, nên không nói gì thêm nữa.
Tuy nhiên, đó chỉ là một trong những trường hợp hiếm hoi
mà tôi có thể trốn tránh tội mình. Tánh thầy tôi nóng nảy,
ít khi kiềm chế được, và việc đánh đập vẫn tiếp diễn,
đôi khi chỉ vì những sự vi phạm luật lệ nhỏ nhặt nhất.
Sư là một nhà độc tài, và chúng tôi phải thi hành tất
cả mệnh lệnh của sư mà không được thắc mắc hay bàn
cãi.
Ngoài tính độc đoán và nóng nảy, sư Sonuttara thật sự cũng
có những điều tử tế. Đặc biệt, sư rất thương
thú vật; đó là lý do tại sao sư cho tất cả đám mèo chó
hoang trong vùng được ăn. Và nếu có những người bệnh
tìm đến chùa để nhờ giúp đỡ, sư cũng cho họ thuốc,
miễn phí. Thỉnh thoảng có những đứa trẻ trong chùa chạy
trốn, đem theo một vật gì đó có giá trị, như là một cây
đèn dầu bằng đồng hay ngay cả một trong những bức tượng
Phật.
"Hãy tha cho nó," thầy tôi sẽ nói. "Nó cũng nghèo. Nó
có thể bán những thứ đó để kiếm chút tiền. Chúng ta
có thể mua cái khác để thay cho cái đã bị lấy đi."
Giờ xét lại những hành động của sư Sonuttara, tôi nghĩ
rằng sư thực sự chỉ muốn tôi trở thành một người tu
sĩ tốt, không bị lôi cuốn theo các bản năng của tuổi trẻ,
chỉ muốn được tự do, độc lập. Và sư ‘khuyến khích’
thiện tánh bằng cách dùng những hình thức trừng phạt phổ
biến thời đó: sự đánh đập.
Dĩ nhiên, tôi không thể hiểu được như thế cho đến mãi
sau này, khi tôi đã trưởng thành. Còn lúc tôi là sadi, sống
ở chùa của sư, thì tôi rất khổ đau. Tôi luôn bị hành
hạ dưới sự cai quản của sư.
Đến một lúc, tôi bắt đầu bàn với một trong những đứa
trẻ ở chùa về việc bỏ trốn. Nó cũng rất bất mãn. Cả
hai chúng tôi đều để dành tiền, và tích trữ đèn cầy,
chúng tôi dự định đêm nào đó sẽ bỏ trốn. Một ngày
kia cả hai chúng tôi đồng ý sẽ trốn đi đêm đó. Ngày hôm
đó cả hai chúng tôi đều làm việc chăm chỉ hơn ngày thường,
cố gắng làm vừa lòng sư để ông không nghi ngờ gì.
Đêm đó, sau khi mọi người trong chùa đã đi ngủ, tôi cởi
y ra, mặc trở lại áo sơmi và xà rong. Tôi và người bạn
đồng lõa lén lút ra đi bằng cửa sau.
Trước hết chúng tôi phải đi qua một nghĩa trang, là việc
cả hai đều rất sợ. Rồi chúng tôi đi trên một chiếc
cầu gỗ bắc qua một con suối nhỏ. Chúng tôi đã nghe nhiều
câu chuyện từ dân địa phương, rằng đây là nơi mà những
con quỷ dữ và chằng tinh thường ăn thịt người. Truyền
thuyết cũng nói rằng dấu hiệu đầu tiên về sự có mặt
của chúng, sẽ là một con chó đen to lớn.
Thông thường, nếu người ta phải đi qua chiếc cầu đó,
họ sẽ đi thành từng nhóm, mọi người sẽ nói lớn tiếng,
và cầm những bó đuốc cháy bùng để xua đuổi lũ quỷ.
Nhưng vì đang chạy trốn, chúng tôi phải im lặng và
không thể đốt đèn cầy mà chúng tôi đã mang theo mình, vì
sợ rằng ai đó sẽ phát hiện ra chúng tôi.
Chúng tôi đi qua cầu đúng lúc giữa đêm. Chúng tôi run rẩy,
miệng khô đắng. Tóc dựng đứng. Chúng tôi không thể nói
lời nào với nhau, chỉ chầm chậm bước đi trong bóng tối
dày đặc.
Thình lình, một con chó đen to lớn hiện trước mặt chúng
tôi, và tim tôi bắt đầu đập mạnh hơn. Rồi cả hai chúng
tôi đều bị tát vào mặt, mạnh đến nỗi suýt té khỏi
cầu, và rơi xuống nước.
Thì ra con chó đen to lớn đó là con chó ở chùa và những
cái tát tay là của thầy chúng tôi, người đã nghe được
chúng tôi lén lút trốn đi ở cửa sau, nên đã đi theo chúng
tôi đến tận cây cầu. Theo lệnh của ông, chúng tôi đành
theo ông trở lại chùa, nơi tôi lập tức được thọ giới
lần thứ ba, giữa đêm khuya.
Không có một đứa trẻ nào khác ở chùa biết về chuyện
này, cả dân làng cũng thế. Ngày hôm sau, mặc trở lại chiếc
áo người tu, tôi ôm bình bát vào làng để khất thực như
lệ thường.
Khi tôi được mười lăm tuổi hay khoảng đó, tôi bắt đầu
để ý đến một cô gái trong làng khoảng tuổi tôi. Mỗi
ngày cô đứng trước cửa nhà khi tôi ôm bình bát đi ngang
qua. Cô cao gần bằng tôi, với mái tóc đen dài. Cô cũng có
khuôn mặt tròn như tôi, với màu da trắng hơn da của người
Sinhala bình thường, và một hàm răng hoàn hảo được phô
bày mỗi khi cô cười. Theo tôi cô rất đẹp. Một ngày kia,
khi cô bỏ gạo vào bình bát của tôi, chúng tôi thầm thì
trao đổi vài lời ngắn ngủi -một điều rất trái với giới
luật người tu.
Tối hôm đó, khi ra giếng tắm, tôi cố ý va mạnh chiếc thùng
vào thành giếng để gây tiếng động đủ lớn cho cô có
thể nghe thấy từ nhà. Đó là tín hiệu mà chúng tôi đã
đồng ý với nhau.
Chỉ một lúc sau cô đã chạy ra giếng, mang theo một
chiếc bình như thể cô cần lấy thêm nước. Tôi rất sung
sướng thấy cô đến.
Chuyện như thế kéo dài khoảng mười ngày. Tôi sẽ va thùng
vào giếng; cô ta sẽ chụp lấy bất cứ bình nước nào trong
nhà và nếu nó còn đầy nước thì cô sẽ đổ nước đi
để có lý do ra giếng. Dầu còn e dè chưa dám bày tỏ tình
cảm thân thiết dành cho nhau, nhưng chúng tôi cũng có những
buổi chuyện trò rất lâu, rất dễ thương, và càng ngày chúng
càng dài hơn. Tôi kể với cô rằng cuộc sống ở chùa giống
như ở tù. Chúng tôi cũng nói chuyện người khác trong làng.
Cô kể cho tôi nghe về cuộc sống ở nhà cô.
Dần dần thầy tôi cũng bắt đầu thắc mắc tại sao tôi
tắm quá lâu, và một ngày ông ra đó xem, bắt gặp chúng tôi
đang nói chuyện và cười đùa.
Dĩ nhiên là ông rất giận. Tăng sĩ ở bất cứ độ tuổi
nào cũng không được tiếp xúc thân mật với nữ giới.
Ông cấm cô gái không được ra giếng khi tôi ở đó. Trở
về chùa, ông nặng lời rầy la tôi, và ra lệnh cho tôi phải
đi tắm trễ hơn, vào lúc mà ông nghĩ rằng sẽ quá trễ cho
cô gái ra giếng.
Thực ra, điều đó còn tốt hơn vì tôi biết rằng chúng tôi
sẽ được trò chuyện kín đáo lúc đêm khuya, khi không ai
có thể thấy chúng tôi bên nhau. Vì thế chúng tôi tiếp tục
những cuộc gặp gỡ thầm lén này.
Dĩ nhiên, thầy tôi lại bắt gặp chúng tôi lần nữa, và
lần này sự phản kháng của ông còn mạnh mẽ hơn. Ông cấm
cô gái không bao giờ được ra giếng nữa. Ông dọa rằng
ông sẽ báo cho cha mẹ cô biết về những hành động của
cô.
Cô gái khóc, van xin ông đừng nói cho cha mẹ cô biết. Cô
hứa không ra giếng nữa và cô đã giữ lời. Tôi chẳng bao
giờ gặp lại cô nữa.
Giờ khi nhìn lại sự việc đó, sau nhiều năm học và thực
hành pháp, tôi thấy rõ ràng là người ta không nên xuất gia
quá sớm, như thường xảy ra vào thời của tôi. Trước hết
họ cần được học thế học, được phép chơi thể thao,
trò chơi, bạn bè và hội hè - tất cả những thứ mà người
trẻ thường ham thích. Rồi khi đã trưởng thành, họ có thể
chọn lựa một cách chín chắn về việc có nên xuất gia hay
không. Gia nhập Tăng đoàn là một việc rất nghiêm trọng,
và tôi không nghĩ rằng một người còn nhỏ tuổi có thể
sẵn sàng chọn lựa một cách đúng đắn. Và cũng ít có đứa
trẻ nào có thể chuẩn bị tinh thần, sẵn sàng chấp nhận
những gian khổ và trói buộc của đời sống xuất gia.
Cách suy nghĩ cũ xưa ở xứ tôi là các chú bé, với tâm nhạy
bén trẻ trung, có thể học thuộc các thánh điển dễ dàng
hơn là người lớn. Cá tính của chúng cũng có thể được
uốn nắn và rèn luyện để có được phong thái tự tại
của một tăng sĩ thiền định. Nhưng giờ tôi cũng không
dám chắc rằng điều đó là đúng. Tôi cũng đã thấy rất
nhiều người trưởng thành xuất gia ở tuổi trung niên hay
lớn hơn thế nữa, sau khi đã lập gia đình, có con cái, và
họ cũng là những tỳ kheo xuất sắc. Ngược lại, tôi cũng
đã thấy rất nhiều vị tu sĩ xuất gia trước tuổi trưởng
thành, vẫn tiếp tục cư xử như trẻ con.
Sau khi sư Sonuttara cắt đứt sự lãng mạn thân thiết
của tôi với cô gái bên giếng, thì sự bất mãn với đời
sống ở chùa trong tôi càng sâu nặng hơn. Tôi là một thiếu
niên, với tâm tính bướng bỉnh và ước muốn được giáo
dục một cách chính thống hơn là những gì mà thầy tôi có
thể mang đến cho tôi. Tôi vẫn muốn làm người tu sĩ nhưng
không phải dưới sự cai quản của vị thầy này. Tôi không
thể tìm ra giải pháp nào ngoại trừ lại chạy trốn lần
nữa, nhưng đi đâu chứ? Tôi biết rằng tôi không còn thể
nào trở lại nhà được nữa. Cha mẹ tôi sẽ rất đau lòng
nếu tôi lại hoàn tục. Tôi không thể mang lại sự tủi
nhục cho họ nữa.
Vào khoảng thời gian đó, có hai cha con người kia đến sống
ở chùa. Đứa con trai tên là Gunawardhena, và tôi với nó trở
thành bạn tốt của nhau. Nó luôn nói với tôi rằng nó
biết một nơi tốt hơn là chùa này, vì thế chúng tôi lại
rấp tâm chuẩn bị chạy trốn với nhau. Lần này, tôi quyết
định phải làm cho chắc ăn. Tôi phải chạy trốn làm sao
mà không ai có thể tìm được tôi.
Vào ngày đã định, tôi nhờ người thợ hớt tóc trong làng
cạo tóc cho tôi như thường lệ. Cả ngày hôm đó tôi luôn
ở trong tình trạng phấn chấn với những dự tính của mình;
và Gunawardhena cũng thế. Mười một giờ đêm hôm đó,
tôi đi nhà vệ sinh, và khi trở lại tôi để cửa trước
hơi hé mở.
Khoảng mười hai giờ rưỡi khuya, chúng tôi nghe tiếng sư
phụ đã ngáy ngủ. Chúng tôi lấy một ít đèn cầy rồi xuống
nhà bếp, nơi tôi lại cởi bỏ y áo và một lần nữa lại
mặc vào chiếc áo sơ-mi và cái xà rong.
Rời khỏi khuôn viên chùa, chúng tôi đi về hướng ngược
lại với hướng mà tôi đã đi trong lần chạy trốn trước.
Với tất cả sức lực, chúng tôi chạy băng qua những ruộng
lúa ra con đường chánh, cách đó khoảng ba cây số. Chung quanh
chúng tôi chỉ có âm thanh của các con chim đi ăn đêm, cóc
nhái, dế, và tiếng chó sủa ở đằng xa.
Khi ra đến đường lộ, chúng tôi bước chậm lại. Chẳng
lâu sau chúng tôi thấy hai người cầm đèn tiến về phía
chúng tôi. Đó là năm 1942, thời thế chiến thứ hai, và luật
giới nghiêm đã được áp dụng ở khắp nơi trên Ceylon.
Gunawardhena run rẩy nói với tôi, không dùng pháp danh nhưng
gọi tên thế tục của tôi. "Ukkubanda, đó là cảnh sát.
Họ sắp tra vấn chúng ta với đủ các câu hỏi đây. Chúng
ta phải nói với họ làm sao?"
Trong chớp mắt, tôi đã nghĩ ra một câu chuyện hoàn toàn
tưởng tượng: "Hãy nói rằng mẹ tôi chết hôm qua, và đã
sai người đến chùa nhắn tin với chúng ta. Chúng ta trễ chuyến
xe buýt đi dự đám tang của bà, nên giờ chúng ta phải đi
dọc theo đường, hy vọng sáng nay sẽ có thể bắt được
chuyến xe buýt khác."
Mấy người cảnh sát đến gần, nhìn tôi một cách nghi ngờ.
Tôi đã dùng một khăn tay cột quanh cái đầu không tóc của
mình, và một cái nữa cột chung quanh cổ. Vì không có dây
nịt, nên tôi lại dùng một cái khăn nữa cột ngang thắt
lưng để giữ chiếc xà rong. Số đèn cầy trong tay tôi cũng
được gói trong một chiếc khăn tay.
"Hãy nhìn thằng quỷ này," một người cảnh sát nói. "Cả
người nó đầy khăn mùi xoa."
Họ tách tôi ra khỏi Gunawardhena và dẫn chúng tôi ra xa nhau
khoảng mười thước, rồi hỏi mỗi đứa chúng tôi cùng một
câu hỏi: Chúng tôi đi đâu giữa đêm hôm khuya khắt thế
này?
Cả hai chúng tôi đều nói giống nhau, nên hai người cảnh
sát để chúng tôi đi, không đá động gì đến chuyện giới
nghiêm. Họ chỉ nói là khi đi chúng tôi cần phải đốt đèn
cầy lên.
Hai tiếng sau chúng tôi đến Kurunegala, cách chùa khoảng hơn
mười lăm cây số. Giờ thì chúng tôi cảm thấy an toàn
hơn, vì chắc chắn rằng sư Sonuttara không thể nào đi theo
chúng tôi xa đến vậy.
Khi trời bắt đầu sáng, chúng tôi tìm được một nơi trú
ẩn bên đường, một trong những hình thức thường được
biết đến như là những nhà nghỉ dành cho người hành hương.
Căn lều có tường thấp, mái tranh, nền đất mà người ta
trải chiếu nằm lên đó. Phần lớn, những căn lều thô sơ,
trống trải này được người lữ hành sử dụng để tránh
nắng mưa và mấy gã ăn mày dùng làm nơi nấu nướng bất
cứ thứ gì mà họ đã cuỗm được.
Gunawardhena và tôi thật may mắn. Buổi sáng đó không có ai
ở trong căn lều nọ. Mừng rỡ, chúng tôi nhào xuống
đất và đánh một giấc ngay tức thì.
Vài giờ sau, chúng tôi thức dậy rửa mặt với nước giếng
lạnh. Chúng tôi lại bắt đầu đi tiếp, không rõ mình sẽ
đi về đâu. Chúng tôi chỉ đi tới.
Cảnh vật chuyển đổi không ngừng. Chúng tôi đi qua những
hàng dừa, những đồn điền cao su và trà, những thửa ruộng
lúa, vườn chuối và các khu vườn trồng rau nhỏ bên ngoài
những túp lều một gian. Hình như ở đâu cũng có chó hoang,
nhiều con đã hoàn toàn rụng hết lông, và cũng lắm con mình
đầy thương tích, vì bị chó khác cắn hay bị người ta đánh.
Chúng tôi cũng thường thấy khỉ rừng đong đưa trên cây
hay chạy rong dưới đất. Thỉnh thoảng chúng tôi nghe từ
xa xa tiếng voi rống.
Đôi khi cũng có xe hơi, xe hàng, xe buýt, xe máy và xe kéo, tất
cả đều nhấn kèn để cảnh báo cho người đi bộ và người
bên đường.
Nhưng phần lớn lưu thông trên đường là người đi bộ.
Chúng tôi đã đi qua bao người đàn ông, phụ nữ, và trẻ
em đi trên đường hay chăn bò, đuổi gà. Có người đánh
những chiếc xe bò bằng gỗ thô sơ.
Dọc theo đường có những căn nhà nhỏ làm bằng bùn là những
tiệm buôn bán. Người ta ngồi trước các cửa tiệm này,
nhai trầu, uống trà và tán gẫu. Khách qua đường có thể
dừng chân mua trà, bánh mì, cau ăn trầu, khô, dây thừng làm
từ các sợi dây dừa và lương thực như đường, muối, gạo,
đậu, và dầu lửa.
Gunawardhena và tôi đã lấy cắp được ít tiền trong phòng
của sư Sonuttara trước khi rời chùa, nên chúng tôi có tiền
mua ít ổ bánh mì. Chúng tôi thấy một trong đống dừa
trong vườn nhà ai đó cạnh bên đường. Chúng tôi ăn
cắp một trái, đập xuống đất cho đến khi bể ra.
Thịt dừa, cùng với bánh mì, là bữa ăn đầu tiên của chúng
tôi trong cuộc hành trình này.
Ngày hôm đó chúng tôi đã đi ba mươi lăm cây số. Chiều
tối chúng tôi đến một thành phố gọi là Dambulla. Chúng
tôi lại tìm được một nhà nghỉ cho người hành hương còn
trống nữa. Chúng tôi trải vài tàu lá dừa trên sàn nhà,
và nằm xuống. Chúng tôi hoàn toàn kiệt sức.
Sáng hôm sau thức dậy chúng tôi thấy cả người đầy rận
và ruồi đất. Chúng tôi ra một giếng gần bên, bẻ vài cọng
cây trong bụi rậm và bắt đầu đánh răng bằng cọng cây
đầy sơ.
Một tăng sĩ tiến lại phía chúng tôi, nhìn tôi lom lom.
Tôi cố gắng phớt lờ ông.
"Con là tu sĩ?" ông hỏi, nhìn cái đầu không tóc của tôi.
"Không," tôi nói dối một cách dễ dàng. "Tôi bị bệnh. Tôi
vừa ra viện hôm qua."
"Con trông không giống người bệnh," vị tăng nói. "Sư
nghĩ con là tu sĩ. Hãy theo sư. Sư sẽ truyền giới
lại cho con, ở chùa của sư."
Tôi suy nghĩ về điều đó. Tự đáy lòng, tôi vẫn còn muốn
làm người tu. Tôi chỉ cởi bỏ y áo vì thầy tôi quá ác
độc. Vị sư này có vẻ tử tế hơn. Nhưng dĩ nhiên là tôi
không thể đi mà không bàn với bạn tôi.
Tôi quay qua Gunawardhena.
"Bạn nghĩ sao?" tôi hỏi nó. "Tôi thật sự không muốn
hoàn tục. Đây là cơ hội để tôi được trở về làm
người tu sĩ."
"Bạn điên à?" Gunawardhena nói. "Bạn không nhớ thầy mình
đã làm gì chúng ta à? Tất cả các thầy đều giống nhau.
Họ không có trái tim. Họ chỉ nghĩ về luật lệ và giới
cấm. Đừng có điên, hãy đi thôi."
Vị tăng sĩ càng dỗ ngọt. Ông bảo rằng ông quen biết vài
viên chức người Anh ở một phi trường quân sự cạnh bên.
Ông hứa sẽ tìm cho Gunawardhena một việc làm ở đó.
Cả hai chúng tôi đều có thể sống ở chùa, tôi có thể
là tu sĩ trong khi Gunawardhena làm việc ở phi trường.
Gunawardhena không muốn nghe bất cứ điều gì, và tôi không
muốn bỏ rơi bạn mình. Vì thế chúng tôi từ giã vị sư
và bắt đầu đi tiếp.
Ngày hôm sau chúng tôi gặp một người đàn ông, làm việc
cho một nhà thầu xây dựng nhân sự. "Nếu muốn kiếm việc
làm thì hãy đi theo tôi," hắn nói với chúng tôi. "Chúng tôi
có rất nhiều việc cần người làm."
Chúng tôi đồng ý.
Công việc của chúng tôi thật ra là công việc lao động tay
chân nặng nề. Họ trao hai cái xẻng và hai cái cần xé cho
chúng tôi, rồi bảo chúng tôi đi xúc cát dưới suối, đổ
thành đống lớn.
Nhiều tháng qua, chúng tôi đã làm việc ở đó trong một nhóm
khoảng hai mươi thanh niên, từ bảy giờ sáng đến bảy giờ
tối. Lương là một chấm hai rubi một ngày, tương đương
với khoảng năm mươi xu. Từ số lương đó, chủ còn trừ
hai mươi lăm xu ăn uống. Mặc dù, điểm tâm là một
ly trà với đường, và buổi tối là cơm với súp. Chúng tôi
ngủ trong những chiếc võng được làm bằng cách cột một
bao tải giữa hai thân cây.
Rừng đầy muỗi. Chúng tôi bị chúng cắn ngày đêm và không
lâu sau đó thì Gunawardhena bị sốt rét. Nó bị sốt cao và
không thể làm việc.
Tôi xin ông chủ hai ngày phép, để tôi có thể chăm sóc bạn
mình. Ông ta từ chối.
"Tôi đã làm cho ông hàng tháng, bảy ngày một tuần, mười
hai giờ một ngày," tôi nói. "Mà tôi chỉ xin một vài ngày
nghỉ."
Ông ta nhất định từ chối. Một là tôi phải tiếp tục
làm việc, hai là cả tôi và Gunawardhena phải rời trại lao
động.
"Được rồi," tôi nói. "Hãy trả hết lương cho chúng tôi
đi."
Ông chủ trả tiền và chúng tôi ra đi.
Thế là chúng tôi bắt đầu cuộc đời của những kẻ ăn
mày. Ban ngày chúng tôi lang thang dọc theo những con đường
bụi bặm. Ban đêm chúng tôi chia phần thức ăn ít ỏi của
những người ăn xin khác trong các căn lều bên đường, rồi
đùa giỡn, ca hát, nhảy múa và kể chuyện phím để
giết thì giờ.
Mấy tuần chúng tôi không tắm. Quần áo chúng tôi dơ bẩn
và chúng tôi hôi thối. Mỗi sáng những người ăn xin khác
sẽ rời nhà đi "làm việc" và hỏi chúng tôi định ngày đó
xin ăn ở địa điểm nào.
"Không biết," luôn là câu trả lời của chúng tôi. Sự thật
là, chúng tôi không đi xin chỗ nào hết. Chúng tôi chỉ ăn
bất cứ thứ gì mà người khác muốn chia sẻ với chúng tôi.
Chúng tôi là những người ăn xin lười biếng.
Dần dần Gunawardhena khỏi bệnh sốt rét và hồi phục sức
khoẻ trở lại. Nhưng rồi, một buổi sáng kia, khi thức dậy
tôi cảm thấy đau buốt ở chân phải và gây gây sốt. Quan
sát kỹ, tôi thấy một vết đỏ ở trên đùi cách đầu gối
khoảng mười centimet. Một người ăn xin ở chung chỗ,
săm soi vết thương và bảo rằng đó là vết rắn cắn. Sự
đau nhức tăng dần lên, và tôi gần như không thể nhấc nổi
chân.
Gunawardhena và tôi phải ở lại phía sau khi những người ăn
xin khác ra đi. Khoảng hai giờ sau đó, tôi cố gắng đứng
lên và đi cà nhắc ra khỏi lều.
Chúng tôi chỉ mới đi được khoảng mười thước thì gặp
một thanh niên khoảng hai mươi lăm tuổi. Chúng tôi chưa từng
gặp anh ta trước đó. Nhưng vì một lý do gì đó tôi không
biết, anh ta và Gunawardhena trở nên thân thiết ngay. Họ bắt
đầu cười đùa giống như những người bạn thân lâu ngày.
Có lẽ Gunawardhena cảm thấy tôi và cái chân cà nhắc của
tôi là một trở ngại cho anh; anh ta như trút được gánh nặng
khi gặp một người vui vẻ hơn.
Ba người chúng tôi đi với nhau, nhưng tôi đi chậm ở đằng
sau. Khoảng chừng năm phút sau Gunawardhena quay lại nói với
tôi.
"Ukkubanda, vì bạn không thể đi nhanh, tôi sẽ đi trước với
anh bạn này? Còn bạn, cứ thong thả, cần đi chậm cứ đi.
Chúng tôi sẽ đợi bạn ở Lovamahapaya."
Ngay lập tức tôi cảm thấy vô cùng sợ hãi. Muốn đến Lovamahapaya
phải đi bộ sáu đến bảy tiếng.
"Không, đừng bỏ tôi lại một mình," tôi van nài. "Tôi không
thể đi một mình. Tôi cần bạn giúp đỡ. Xin hãy ở lại
với tôi."
Rồi thì chuyện không thể hiểu được đã xảy ra: Gunawardhena
phớt lờ tôi và bước thẳng tới với người bạn mới của
mình.
Tôi ngồi xuống và bắt đầu khóc. Chân tôi buốt đau. Tôi
không thể tin điều gì đã xảy ra.
Gunawardhena thật là vô ơn. Chúng tôi đã sắp đặt cuộc hành
trình này với nhau, nhiều tuần trước đó, và tôi đã từ
bỏ cuộc sống tu hành để chạy trốn theo nó. Khi nó bị
bệnh trong rừng, tôi đã bỏ luôn việc làm của mình. Bao
nhiêu ngày tháng, chúng tôi đã đi với nhau như bạn bè. Chúng
tôi đã dựa vào nhau để sống. Vậy mà bây giờ, khi tôi
cần nó, nó lại bỏ rơi tôi.
Tôi không có bạn bè, không nhà cửa, không tiền bạc, không
lương thực. Tôi ở tận cùng vực thẳm và tôi hoàn
toàn cô đơn.
Bây giờ tôi phải làm sao đây?
Chương
4
Xuất Gia Lần
Nữa
Sau khi Gunawardhena bỏ đi đột ngột, tôi chỉ ngồi đó, cô
đơn và bối rối. Những gì đã bắt đầu như một cuộc
phiêu lưu kỳ thú, từ việc bỏ trốn khỏi chùa đã biến
thành một thử thách đáng sợ. Chiếc chân bị rắn cắn đã
sưng lên dữ dội, tôi lại đói khát và người bạn đồng
hành đã mất hút. Hoàn cảnh lúc đó của tôi là như
thế! Chưa bao giờ trong cuộc đời, tôi cảm thấy chán
nản như thế.
Tuy nhiên, dần dần một điều gì đó bên trong thôi thúc khiến
tôi đứng dậy: "Hãy đi tới," hình như đó là tiếng nói
bên trong tôi.
Vì thế tôi đứng dậy và bắt đầu lết dọc theo con đường
vắng vẻ. Tôi đi như thế hàng giờ, cho đến khi cuối cùng
tôi gặp một cô gái ngồi dưới bóng cây. Cô đang bán trái
cây, đậu, bánh mì, trà và rau quả.
Tôi ngồi xuống trên một chiếc ghế đẩu.
"Tại sao anh lê lết như thế?" cô hỏi tôi.
Tôi giải thích rằng một con rắn đã cắn chân tôi đêm hôm
trước đó.
Cô gái lại hỏi tôi thêm nhiều điều nữa: tên tôi là gì,
tôi từ đâu đến, và tại sao tôi đi chỉ một mình. Tôi
đã kể cho cô nghe tất cả câu chuyện.
Cô cho tôi một miếng bánh mì với cà ri rau cải, và một
ly trà nóng hổi thật ngon. Tôi tiếp nhận bữa ăn với
lòng vô cùng biết ơn.
Cô đi vào căn lều nhỏ bé của mình và mang ra một miếng
chanh. Cô chà chanh lên vết thương ở đùi tôi, rồi xát ít
dầu lên đó. Cô bảo tôi ở lại đó cho đến khi cha cô trở
về nhà, nhưng tôi bảo rằng tôi phải đến Lovamahapaya để
gặp bạn tôi. Tôi vẫn hy vọng Gunawardhena thật sự đang chờ
đợi tôi ở đó.
Tôi lại tiếp tục lên đường, với cái chân lết. Chẳng
bao lâu tôi đến một thành phố tên là Anuradhapura. Một trong
những nơi đầu tiên tôi đến là một quán ăn gọi là khách
sạn Siyasiri (thời đó người ta gọi quán ăn là khách sạn).
Vị quản lý chào đón tôi, rồi hỏi tại sao tôi đi cà nhắc.
Tôi kể với ông về chuyện rắn cắn. Ông hỏi tại sao tôi
chỉ có một mình. Tôi bảo với ông là tôi không theo kịp
người bạn đồng hành, vì thế anh ta đã đi trước đến
Lovamahapaya.
"Ai đi qua đây cũng ghé vào quán này," người chủ quán nói.
"Hãy ở lại đây. Nếu họ đi ngang qua thành phố này, em sẽ
gặp họ."
Tôi đồng ý, và ngồi xuống đợi. Tới khoảng mười một
giờ đêm, tôi bắt đầu ngủ gục. Người quản lý có
thể thấy là tôi rất mệt mỏi.
Ông nói: "Em hãy ở lại đêm nay." Rồi ông đưa cho tôi
một chiếc chiếu để ngủ.
Và đó là điều cuối cùng tôi nhớ cho đến tám giờ sáng
hôm sau.
Ngay khi vừa thức dậy, tôi đã hỏi người quản lý rằng
Gunawardhena đã đến chưa?
"Không," ông lắc đầu nói. "Không có ai đến tìm em cả. Nhưng
thôi em hãy ở lại đây, tôi sẽ cho em một công việc làm."
Tôi không biết phải làm gì khác hay đi đâu nữa, nên tôi
chấp nhận lời đề nghị của ông.
Và
thế là tôi trở thành một người bồi bàn ở khách sạn
Siyasiri ở Anuradhapura. Công việc cũng khá nhàn hạ. Có một
số thanh niên khác làm ở quán, và chúng tôi hòa hợp vui vẻ
với nhau. Tôi phục vụ khách hàng, lau dọn bàn ghế, và rửa
chén.
Một ngày kia, khoảng vài tuần sau đó, tôi lại bị sốt rét
và cảm thấy quá mệt mỏi không thể làm việc. Trong khi nghỉ
ngơi, tôi viết cho mẹ một lá thư để báo cho bà biết tôi
đang ở đâu. Tôi cảm thấy hối hận, biết rằng bà có lẽ
đã nghe được tin tôi trốn khỏi chùa, và mẹ tôi chắc hẳn
đang rất lo rầu về tôi.
Vài ngày sau đó, khi tôi trở lại làm việc, tôi ra giếng
gần đó để lấy nước cho quán ăn. Có một cậu bé cũng
đang ở đó. Tôi mượn cái gàu của nó để dùng kéo nước
đổ vào thùng của tôi. Khi tôi đưa trở lại cho cậu bé
cái thùng, nó làm rớt tất cả xuống giếng kể cả dây thừng.
Nó bắt đầu khóc, vì đã đánh mất cái thùng thì nó sẽ
gặp rắc rối.
Nhưng khách hàng ở quán ăn đang đợi nước nấu trà. Tôi
phải trở về đó ngay. Tôi bảo với cậu bé rằng tôi
xách nước về quán rồi tôi sẽ trở lại ngay để giúp nó
kéo chiếc thùng lên khỏi giếng.
Nhưng khi tôi bước vào quán với chiếc thùng đầy nước
thì anh cả của tôi, Tikiribanda, đang đứng ở cửa quán. Ngay
khi vừa thấy tôi, anh bắt tôi phải về nhà với anh. Mẹ
đã khóc suốt, anh nói, kể từ khi bà nghe tin tôi chạy trốn
khỏi chùa.
Anh tôi cũng đáng sợ gần như cha tôi. Tôi không dám cãi lệnh
của anh.
Tôi hoàn toàn quên mất cậu bé đáng thương đang chờ đợi
tôi ngoài giếng, để giúp nó vớt cái thùng ra khỏi giếng.
Tôi cũng quên người quản lý quán tử tế đã giúp tôi có
cơ hội bắt đầu một cuộc đời mới.
"Anh đã mở được một tiệm buôn nhỏ," anh tôi nói.
"Em có thể về giúp anh buôn bán."
Sau này tôi được biết rằng sau ngày Gunawardhena và tôi rời
chùa, sư Sonuttara đã báo với cảnh sát về sự ra đi của
chúng tôi. Cha tôi đã đến chùa và yêu cầu thầy tôi phải
tìm tôi trở về nhà. Tới lúc đó, cha tôi mới nhận thức
được rằng sư Sonuttara là người nóng tánh, tàn nhẫn, và
những vấn đề ở chùa không phải chỉ là do tôi hành động
sai trái. Cha tôi biết những câu chuyện về việc đối
xử thô bạo của thầy tôi là sự thật, nhưng dĩ nhiên, lúc
đó đã quá trễ. Tôi đã bỏ trốn khỏi chùa, và lần đó,
tôi đã không chạy về nhà.
Trong lúc đó, các nhân viên cảnh sát lùng sục khắp nơi để
tìm tôi.
Rồi khi lá thư của tôi đến từ Anuradhapura, mẹ và cha tôi
lập tức sai anh cả đi tìm tôi.
Cha mẹ tôi, nhất là mẹ tôi quá vui mừng thấy tôi còn sống
và khoẻ mạnh, nhưng tôi thật không thoải mái khi trở về
nhà. Tất cả mọi người láng giềng đều gọi tôi là
"tu sĩ hoàn tục," là một sỉ nhục lớn. Cha tôi không muốn
có đứa con ‘bất hạnh' này ở gần ông; ông bắt tôi phải
xuất gia trở lại.
Để lảng tránh cha, để không phải nói chuyện nhiều với
ông, tôi kiếm đủ chuyện lặt vặt để làm. Một trong những
công việc đó là đào kênh chống lũ, trên đồn điền cao
su gần nhà chúng tôi.
Đồn điền này do một công ty lớn cai quản. Họ trả lương
rất tệ mà công việc rất nặng nhọc. Tôi phải xúc từng
thúng đất đầy, rồi các chị phụ nữ khiêng chúng đến
chỗ đổ đất. Một lần, một chị thấy các vết phồng
dộp trên tay tôi vì phải cầm xuổng xúc đất, nên chị đề
nghị đổi công việc với tôi. Vì thế chị xúc cát, còn
tôi thì khiêng mấy thúng cát đầy.
Sau công việc đó, tôi quay qua hái trà. Đó cũng là một công
việc cực nhọc, nhàm chán. Dĩ nhiên là tôi thích làm việc
ở tiệm của anh tôi hơn, nhưng anh đã phải đóng cửa tiệm
chỉ vài tháng sau khi mở. Người dân trong làng nghèo quá không
thể mua gì ở tiệm của anh. Phần lớn không có khả năng
mua ngay cả những thứ tầm thường nhất.
Thời gian rảnh rỗi tôi thường đến nhà chị gái của tôi,
người đã chăm sóc tôi thuở nhỏ, người mà tôi coi như
người mẹ thứ hai. Kể từ khi chồng chị mất, không có
người đàn ông trong nhà, chỉ có chị tôi, đứa con trai nhỏ
của chị và một đứa con gái, cháu tôi, chỉ lớn hơn tôi
năm tháng.
Họ rất tử tế với tôi và tôi cảm thấy thoải mái
ở bên họ hơn là ở nhà cha mẹ ruột của mình. Vì thế
một vài tuần sau khi trở về nhà, tôi dọn từ nhà cha mẹ
đến nhà chị gái của tôi. Đó là một sự thay đổi dễ
chịu hơn, nhưng tôi vẫn thực sự không cảm thấy thoải
mái với đời sống tại gia. Niềm ước muốn ban đầu của
tôi là được trở thành một tăng sĩ vẫn còn nung nấu trong
tôi, không kể bao nhiêu chuyện đã xảy ra.
Tôi bắt đầu nghĩ nhiều hơn về thầy tôi và ngôi chùa tôi
đã rời bỏ năm tháng trước đây. Tôi cảm thấy hối hận
vì đã bỏ trốn. Lòng tôi dịu lại đối với sư Sonuttara,
và tôi nhớ đến những tính tốt của ông. Tôi đã nghĩ rằng
ít nhất tôi cũng phải đến xin lỗi ông. Một ngày kia, khi
chị tôi đã đi viếng bà con bên chồng, tôi quyết định
bí mật đi gặp thầy tôi. Cuộc viếng thăm đó phải qua đêm
vì đường xá xa xôi, nhưng tôi dự tính là tôi có thể trở
về nhà trước chị tôi. Tôi biết rằng chị sẽ không đồng
ý cho sự thăm viếng này. Chị muốn tôi sống ở nhà chị
mãi và từ bỏ giấc mơ trở thành tăng sĩ.
Khi tôi chuẩn bị ra đi, cháu tôi khóc, van nài tôi đừng đi.
Tôi khuyên cháu đừng lo lắng và rằng tôi sẽ trở về ngày
hôm sau. Cháu tiếp tục khóc khi tôi rời khỏi nhà đi về
hướng chùa.
Khi sư Sonuttara thấy tôi, ông như trút được gánh nặng. Mặc
dầu không phải lúc nào ông cũng là người thầy tử tế
nhất, nhưng ông không muốn tôi bỏ tu, mà tôi cũng không muốn
thế. Tôi xin lỗi sư vì đã chạy trốn, và ông hỏi
tôi có sẵn sàng để xuất gia lần nữa không.
"Dạ có," tôi trả lời, rất chắc chắn về quyết định
của mình. "Nhưng con không muốn chỉ làm chú tiểu sống ở
chùa. Con muốn được đi học trường Phật học."
Thầy lập tức nhận lời.
Hai ngày sau đó, sau một buổi lễ đơn giản, tôi lại mặc
lên mình chiếc y màu vàng lần nữa. Lần này, tôi sẽ không
bao giờ cởi nó ra nữa.
Sư Sonuttara liên hệ với một vị sư khác, đại đức Siyambalangamuwe
Dhammakkhandha, người quản lý một ngôi trường tiểu học
nhỏ dành cho tăng sĩ ở huyện Gampaha, cách chùa khoảng tám
mươi bốn cây số. Vì đại đức Siyambalangamuwe và thầy
tôi là bạn, nên ông sẵn sàng chấp nhận đơn xin nhập học
của tôi, và vào tháng tư năm 1944, một tháng sau lần xuất
gia gần đây nhất của tôi, tôi bắt đầu chương trình tu
học một cách chính thức. Tôi học ở trường Vidyasekhara
Pirivena (vidyasekhara có nghĩa là 'vương miện của sự học,'
và pirivena có nghĩa 'trường dành cho tăng sĩ'). Có khoảng
hai mươi vị tỳ kheo trẻ và ba thầy giáo thọ sống ở đó.
Chúng tôi học lịch sử Ceylon và các kinh điển quan trọng
như là Tương Ưng Bộ Kinh (Anguttara Nikaya) và Trung Bộ Kinh
(Majjhima Nikaya). Chúng tôi cũng được học nhiều sinh
ngữ: Sinhale, Tamil, Ấn Độ, Anh, Pali và Sanskrit.
Tôi rất sung sướng ở ngôi trường mới này, sống giữa
những vị tăng trẻ và suốt ngày được học hành. Nhưng
tôi ở đó chưa được bao lâu thì Đại Đức Siyambalangamuwe
đã tìm gặp tôi với một yêu cầu. Ông bảo rằng có một
ngôi chùa ở làng Napagoda, nơi vị sư trưởng đã hoàn tục,
để lại ngôi chùa không ai trông coi.
Sư hỏi tôi có vui lòng đến đó, quản lý ngôi chùa không.
Tôi nghĩ rằng đó chỉ là một sự xếp đặt tạm thời,
rằng tôi sẽ ở đó chỉ vài tuần rồi trở lại trường
Phật học, nên tôi đã nhận lời.
Nhưng mà hoá ra tôi phải sống ở chùa đó đến tám tháng.
Không có việc học Phật pháp hay tiếng Pali ở đó, chỉ là
những công việc thường nhật ở chùa, những công việc nhàm
chán không dừng dứt. Một ngày kia không còn gì để ăn. Tôi
yêu cầu một cậu bé ở chùa, khoảng tuổi tôi, đi mua bánh
mì ở một tiệm trong làng. Nó từ chối. Tôi lại yêu cầu
lần nữa. Lần nữa nó lại từ chối. “Tôi sẽ nhờ người
khác đi mua, nhưng sau đó tôi sẽ không chia cho bạn đâu,”
tôi bảo với nó.
Nó phản ứng lại bằng cách chửi rủa tôi. Tôi đá cho nó
mấy cái.
Chiều hôm đó, một tăng sĩ khác, người đã sống với chúng
tôi ở đó một thời gian trở về chùa. Ông lại là
anh của cậu bé kia. Ông hỏi tôi chuyện gì đã xảy
ra, tại sao cậu bé không còn ở chùa nữa. Sau khi nghe tôi
kể chuyện, ông rất bực tức.
“Vì chú đã đuổi cậu bé duy nhất ở đây để giúp đỡ
chúng ta, vậy thì bây giờ công việc của chú là trèo lên
cây hái mấy trái dừa xuống.”
Tôi từ chối. “Người tu không trèo cây,” tôi giải thích.
"Làm vậy là trái luật. Ngoài ra, thầy tôi không gửi tôi
đến đây để trèo cây, hái trái.”
Sau bảy tháng sống trong căng thẳng và những sự cãi vả
nhỏ mọn như thế, lòng ham muốn được học hỏi khiến tôi
không thể ngồi yên, đến nỗi tôi phải viết thư cho thầy
tôi. “Xin thầy vui lòng cho con trở lại trường học,” tôi
van nài.
Không lâu sau đó, tôi mừng rỡ khi nhận được một bưu thiếp
từ đại đức Siyambalangamuwe nói rằng, “Được, con có thể
trở về trường.”
Tôi lập tức mướn một chiếc xe bò chở tôi ra trạm xe lửa
ở Veyangoda, cách đó hơn năm cây số. Tôi nôn nóng được
trở lại Gampaha để ghi danh nhập học trở lại.
Khi đến nhà ga, được biết chuyến xe lửa đi Gampaha phải
chờ đến năm tiếng nữa, vì thế tôi đi viếng một ngôi
chùa gần đó.
Ở ngôi chùa đó có một chú điệu trẻ, khoảng tám hay chín
tuổi, tỏ vẻ rất thích tôi. Chú rủ tôi đi tắm với
chú ở một con sông cạnh bên ga xe lửa và tôi miễn cưỡng
nghe theo.
Dầu đã gần mười bảy tuổi, tôi chưa bao giờ học bơi,
nhưng tôi quá tự ái để thú nhận với chú điệu trẻ như
thế. Tôi không biết rằng hành động tự ái đó suýt nữa
là hại đời tôi.
Kiêu mạn, theo Phật giáo, là một trong năm chướng ngại cuối
cùng sẽ bị đoạn diệt khi hành giả đạt được giác ngộ.
Đó là một trong hai mươi bảy uế nhiễm của tâm, mà Đức
Phật đã cảnh báo rằng chúng có thể trở ngại ta. Để
chế ngự kiêu mạn nơi bản thân, Đức Phật chỉ bày một
số quán tưởng mà ta cần thực hiện:
Tôi phải bị hoại diệt; tôi không thể chế ngự hoại diệt.
Tôi phải bệnh hoạn; tôi không thể chế ngự bệnh hoạn.
Tôi phải chết; tôi không thể chế ngự cái chết.
Tất cả những gì là của tôi, thân thiết và quý báu, sẽ
biến đổi và hoại diệt.
Tôi
làm chủ nghiệp của tôi, thừa hưởng nghiệp của tôi, sinh
ra từ nghiệp, liên hệ với nghiệp, tôi gánh chịu nghiệp
của mình. Bất cứ nghiệp gì tôi đã tạo ra, dầu tốt hay
xấu, tôi cũng sẽ là người lãnh hậu quả.
Ở bờ sông, chú điệu cởi áo ngoài ra và nhảy xuống nước.
Chú lội như một con cá. Tôi đứng trên bờ, ngưỡng mộ
những sãi tay nhuần nhuyễn, điệu nghệ của chú. Coi thì
không thấy khó, nhưng thật sự tôi không muốn nhảy vào dòng
nước đục ngầu, đầy bùn đó.
Chú điệu thấy tôi đứng trên bờ sông ngại ngần, thúc
giục tôi xuống nước với chú. Miễn cưỡng tôi phải cởi
áo ngoài ra và cột thắt nút chiếc áo bên trong để nó không
tụt ra. Rồi tôi nín thở nhảy xuống.
Ngay lập tức tôi bị nguy khốn.
Chân tôi chạm tìm đáy sông, nhưng chỉ cảm thấy bùn nhão.
Không có gì cứng rắn để đứng lên đó. Tôi cảm thấy
mình đang chìm xuống, và tôi bắt đầu vùng vẫy. Sự hoảng
hốt trào dâng trong tôi giống như một dòng điện. Tay chân
tôi chới với, và khi há miệng thở, tôi uống vào dòng nước
sông dơ bẩn đó.
Chú điệu nhỏ biết chuyện gì đã xảy ra, cố gắng giúp
tôi. Chú bơi lại bên tôi, nắm được lỗ tai tôi và kéo
đầu tôi lên khỏi mặt nước – ui da! Nhưng chú yếu quá
không đủ sức để kéo người tôi lên khỏi mặt nước.
Tôi hoảng sợ túm lấy áo chú, khiến nó tuột ra.
Ba lần tôi bị chìm xuống, tay nắm chặt chiếc áo kia như
thể nó sẽ cứu tôi. Ba lần tôi vùng trở lên, tìm kiếm
sự giúp đỡ.
Lần cuối cùng, tất cả chỉ là một màu đỏ phủ đầy
trước mắt tôi.
Tôi hoàn toàn bất tĩnh.
Chương
5
Trường Phật
Học
Khi tỉnh lại, tôi thấy mình đang nằm trên mặt đất bên
bờ sông, một người đàn ông đang quỳ cạnh tôi. Tôi bắt
đầu ói nước sông ra khi đám đông bu quanh đứng nhìn. Sau
đó tôi được kể rằng chú điệu nhỏ, người đã cùng
lội với tôi không thể bước lên khỏi sông, vì trong lúc
hoảng loạn, tôi đã níu rách áo quần của chú. Trần truồng,
chú phải đứng nép ở bờ sông, giấu mình dưới nước và
la cầu cứu.
May là có một người đàn ông vừa bước ra khỏi quán trà
cạnh bên ga xe lửa, hỏi cớ sự. Chú điệu nhỏ đã
chỉ nơi tôi bị chìm xuống.
"Giờ nầy chắc anh ta đã chết rồi," chú la lên.
Người đàn ông mặc nguyên cả đồ, nhảy xuống sông, mò
mẫm dưới nước. Đến khi ông tìm được, tôi đã bất tỉnh
ở dưới đáy sông. Ông kéo tôi lên bờ sông và bắt đầu
cứu tôi bằng phương pháp hô hấp nhân tạo trong khi đám
đông tụ lại xem.
Dần dần tôi ngồi dậy, ho và ói nước. Tôi hơi run sợ,
nhưng cảm thấy an toàn. Chú điệu nhỏ đi tìm sư phụ của
mình, và hai người đã đưa tôi trở lại chùa của họ, cách
đó khoảng năm mươi thước. Họ cho tôi một tách cà phê
nóng với rất nhiều đường và một bộ y khô. Không lâu
sau đó thì tôi trở lại bình thường.
Vị sư trưởng rất tử tế. Ông hỏi tên tôi và nơi tôi
đi đến. Sau khi tôi trả lời, ông sai người ra ga xe lửa
mua vé cho tôi đi Gampaha.
Sau một vài giờ nghỉ ngơi, tôi lại lên đường. Trớ trêu
thay, khi tôi đến trường Phật học ở Gampaha, người đầu
tiên bắt chuyện với tôi, hỏi tại sao giọng tôi nói giống
như người bị chết đuối.
“Tôi chỉ bị cảm,” tôi trả lời. Tôi quá xấu hổ không
thể nói sự thật.
Nhưng ngày hôm sau, trên trang đầu của một tờ báo có tiếng
ở Ceylon đã có in hình của tôi với câu chuyện về một
tăng sĩ trẻ suýt chết đuối dưới sông ở ga xe lửa Veyangoda.
Bạn bè ở trường Phật học đã trêu ghẹo tôi về chuyện
đó hàng năm trời.
Mặc dầu trường Phật học miễn học phí, nhưng tăng sinh
nội trú phải trả khoảng năm rupee một tháng. Tiếc thay,
tôi không có đồng nào để trả, vì thế tôi được cho một
căn lều bỏ hoang để ở. Căn lều chỉ có nền đất, tường
lửng chỉ cao khoảng hơn một thước, không có cửa. Tôi gom
mấy bao tải gạo, vài cây tre và dây nhợ để làm một cánh
cửa tạm bợ và che chắn cửa sổ. Để có ánh sáng, tôi
dùng một cây đèn đất đốt bằng dầu dừa. Đó là cái
kuti đầu tiên của tôi, loại thất một gian mà các tăng sĩ
hay trú ngụ trong đó, và tôi cũng rất vui được ở đó.
Phần lớn tôi học hành ở trong thất. Chẳng lâu sau, tôi
nổi tiếng là một tăng sinh thông minh nhất ở trường. Tôi
khám phá ra rằng tôi có một trí nhớ như in, rõ ràng là một
quà tặng của thiện nghiệp. Tôi có thể đọc một quyển
sách dài trong mười phút và nhớ tất cả mọi thứ trong đó.
Tôi không biết bằng cách nào; chỉ biết rằng mỗi trang sách
trụ lại trong tâm tôi như một bức ảnh.
Tôi rất hãnh diện về khả năng thiên phú này của mình,
và thường yêu cầu bạn bè thử thách tôi, bằng cách đặt
những câu hỏi từ trong sách. Tôi có thể trả lời câu
họ hỏi ở trang số mấy, và ngay cả dấu chấm phẩy trong
câu hỏi.
Có lẽ vì vậy, thầy hiệu trưởng của trường rất thích
tôi, cho tôi làm phụ tá cho ông. Tôi cũng được bầu chọn
làm thủ quỹ, có nghĩa là tôi quản lý, cất giữ tất cả
tiền đóng góp được gửi tới trường, và cả các vật
dụng khác như là y áo, thuốc men. Rồi sau đó tôi sẽ
phân phát lại cho các tăng sinh nếu cần.
Vì quyền hạn và bổn phận này của tôi mà một số bạn
học trở nên ganh tỵ với tôi, đã thế, tôi lại còn sanh
tánh hay thóc mách khuyết điểm của các bạn khác với thầy
hiệu trưởng; tóm lại, tôi là một kẻ tồi tệ. Tôi
gửi báo cáo này đến báo cáo khác, kẻ vạch từng chi tiết
những sai trái của bạn bè. Tôi biết rằng, lý ra tôi phải
quan tâm về các hành động của mình hơn là tìm kiếm lỗi
của người, nhưng vì muốn duy trì lòng tin yêu của thầy
hiệu trưởng nên tôi đã làm thế.
Tôi đã không thực hành lời dạy của Đức Phật trong kinh
Pháp Cú:
Thấy lỗi người thì dễ, nhưng lỗi mình khó thay. Ta
sàng lọc lỗi người như rơm trấu, mà lại giấu lỗi mình,
hay như gã thợ săn giảo quyệt núp sau những cành cây ngụy
tạo. Người luôn tìm lỗi người, luôn xét nét, (vì
thế) uế nhiễm của họ càng tăng. Họ rất khó đoạn
trừ uế nhiễm.
Vào những ngày rằm, tôi được giảng pháp khoảng nửa giờ
tại trường. Thường thường những bài Pháp này dựa trên
các sách tôi đã đọc. Nhưng một lần kia tôi nghĩ rằng
làm thế sẽ khiến cho thính giả của tôi nhàm chán, vì thế
tôi quyết định “sáng tạo”. Tôi chỉ học thuộc một
bài kinh dài ba trang, một trong những bài giảng của Đức
Phật gọi là kinh Visakhuposatha. Rồi tôi lặp lại với
thính giả của mình.
Bài thuyết pháp thể nghiệm thất bại. Tôi đọc xong bài
kinh chỉ trong mười phút, sau đó tôi chỉ lảm nhảm thêm
năm phút nữa về điều gì, tôi cũng không nhớ nữa.
Thật xấu hổ. Đó là một bài học quý giá cho tôi về giá
trị của sự chuẩn bị chu đáo. Từ đó, tôi luôn chuẩn
bị cẩn thận từng bài thuyết pháp của mình. Tôi thường
chọn một câu trong kinh Pháp Cú rồi giảng rộng ra dùng những
câu chuyện trong phần chú giải. Kinh Pháp Cú bao gồm
423 câu, phần lớn dạy về giới luật và đạo đức. Ngoài
ra cũng có hàng trăm câu chuyện rải rác khắp nơi trong tàng
kinh Phật giáo để minh họa cho các đề tài được nói đến
trong kinh Pháp Cú. Tôi rất thích kể những câu chuyện này,
để tạo cho người nghe một căn bản về đạo đức Phật
giáo.
Mãi lâu sau này, qua bao năm tu tập, tôi mới cảm thấy đủ
tự tin để thuyết pháp mà không cần chuẩn bị trước.
Ở trường Phật học, vào tuổi mười bảy, cuối cùng tôi
cũng bỏ được tật hút thuốc lá. Đó là một thói quen tôi
đã huân tập nhiều năm, nhưng tiếc thay tôi chỉ thay đổi
cái ghiền này bằng cái ghiền khác. Thói quen mới của tôi
là ăn trầu, một hỗn hợp gồm lá trầu, cau, vôi và sợi
thuốc lá.
Chẳng bao lâu sau tôi trở thành cây hài của trường. Mỗi
tối, tôi đều tụ tập bạn bè lại, kể chuyện tiếu lâm
cho họ nghe hằng giờ đồng hồ. Tôi rất thích làm cho họ
cười.
Một trong những câu chuyện tiếu của tôi là về một vị
bảo trợ của chùa, người rất bực tức vì quý tu sĩ ở
đó không bao giờ mang đồ cúng dường của ông dâng trước
tượng Phật. Vì thế ông cột một sợi dây quanh cổ tượng
Phật rồi treo tượng lên xà nhà. Khi các tăng sĩ khám phá
ra điều đó, hỏi ông tại sao, ông bảo đó là một sự tự
tử. “Tượng Phật bảo rằng không thể sống ở một nơi
như thế,” ông giải thích.
Cũng lạ là thầy hiệu trưởng không phản đối những câu
chuyện tiếu lâm bất kính đó. Thường thường, sau màn trình
diễn của tôi, chúng tôi vào phòng ông, cùng thưởng thức
việc ăn trầu với ông. Ông là một người rất tinh
tế trong việc đối xử với các tăng sinh trẻ. Ông nghiêm
khắc, nhưng cũng rất hoà nhã. Ông biết cách khuyến khích
chúng tôi mà không ép buộc, nếu không, chúng tôi cũng chẳng
màng đến chuyện học hành. Ông khuyến khích chúng tôi
trở nên những tăng sĩ gương mẫu. “Các cư sĩ luôn ngưỡng
mộ quý thầy,” ông nói. “Họ biết rằng quý thầy
đã hy sinh các dục lạc để dâng hiến cuộc đời cho việc
hành pháp, vì thế quý thầy phải xứng đáng với lòng kính
trọng đó.”
Gần như không bao giờ tôi có đồng nào, nhưng không hề gì.
Chỗ ở khiêm nhường của tôi được miễn phí, đồ ăn thì
do đi khất thực, và thay vì phải mua sách giáo khoa, tôi mượn
các bạn và chép lại bằng cách viết tay. Tôi chỉ nghĩ
đơn giản là tôi đã có tất cả mọi thứ cấn thiết để
hoàn tất chương trình học của mình. Tôi rất tự tin ở
bản thân cũng như ở Tam Bảo -Phật, Pháp và Tăng.
Tôi cảm thấy như là Đức Phật vẫn còn sống và đi
bên tôi xuyên suốt cuộc đời, hỗ trợ tôi bất cứ những
gì tôi cần. Tôi tin chắc rằng Phật pháp sẽ bảo vệ tôi
vì tôi đã phấn đấu không ngừng để học hỏi những điều
Phật dạy. Và tôi nghĩ rằng vì tôi là thành viên của Tăng
đoàn, tôi sẽ không gặp khó khăn, trở ngại để có những
thứ tôi cần. Ngay cả bây giờ, nhiều thế kỷ sau, tôi vẫn
cảm thấy Tam Bảo luôn hộ trì cho tôi. Tất cả những nhu
cầu vật chất của tôi dần dần đều được thoả mãn,
mà không cần vất vả kiếm tìm.
Một ngày kia, một sư huynh nhờ tôi cạo tóc giùm. Đó là
việc thường xảy ra trong tu viện, nhưng tôi chưa bao giờ
cạo tóc cho ai, ngay chính cho bản thân. Tôi bảo với
ông điều đó, nhưng ông khư khư nói, “Cũng đến lúc thầy
phải học.”
Việc cạo râu tóc là một phần quan trọng của giới luật
trong các tu viện Phật giáo. Cả tăng và ni đều
phải làm thế. Một chiếc đầu cạo nói lên sự sạch sẽ,
khiêm cung và nó cũng giúp ta tránh được vấn đề phải giết
chí trên đầu! Đó cũng là biểu tượng của sự xả bỏ,
nhằm giúp tăng ni bớt bám víu vào vẻ đẹp hình thức bên
ngoài. Nếu quý tăng ni không phải mất nhiều thì giờ
gội, chải, sửa soạn tóc tai, thì họ có nhiều thời gian
hơn dành cho việc theo đuổi những vấn đề tâm linh.
Vinaya hay là giới luật ở tu viện, dạy rằng tăng ni có thể
để tóc dài chừng năm centimét. Có người thì cạo tóc mỗi
tháng một lần, thường là ngay trước ngày rằm. Người khác
thì cạo mỗi tuần, hay có khi mỗi ngày.
Điều lệ này quan trọng đến nỗi một lưỡi dao cạo bén
là một trong tám thứ được kể trong nhóm sở hữu (thường
được gọi là nhu yếu phẩm) mà người tu sĩ được tiếp
nhận lúc thọ giới. (Những vật dụng khác là nội y;
áo để quấn quanh mình; áo ngoài hai lớp như một tấm mền;
một dây nịt vải; một đồ lược nước; một bộ kim chỉ;
và một bình bát.)
Khi vị sư huynh nhất định là tôi phải cạo tóc cho ông,
tôi đảnh lễ và đồng ý làm theo truyền thống. Tôi thấm
nước lên đầu ông, chà xà bông lên đó, và cầm lưỡi lam
lên. Đứng phía sau ông, tôi kéo lưỡi dao trên da đầu và
một miếng da khoảng hai centimét tụt khỏi đầu ông! Ngay
lập tức máu tuôn ra. Tôi sợ quá đến nỗi tôi bắt đầu
run lên.
“Thưa đại đức, xin hãy tha thứ cho con,” tôi nói, rồi
chạy đi tìm một tăng sinh khác. Thầy ấy mang vào một
ít nước lạnh để rửa vết thương. Rồi trong khi tôi đứng
nhìn trong sự xấu hổ và sợ hãi, thầy cạo nốt phần tóc
còn lại của vị đại đức không may. Dĩ nhiên vào thời
đó chúng tôi không có băng cá nhân, nên vị sư huynh kia phải
đi khất thực với một cục thuốc dán trên đầu.
Nhờ vào trí nhớ như chụp ảnh, tôi học rất nhanh.
Tiếng Sinhala, Pali và Santrit là những môn bắt buộc. Và tiếng
Tamil, Ấn Độ và tiếng Anh là tuỳ chọn. Không cần
nhiều cố gắng, tôi học được tất cả các môn. Như
để thưởng tôi, cuối cùng tôi được phép vào sống trong
ký túc xá với các tăng sinh khác, mặc dầu tôi tiếp tục
không có khả năng để trả tiền trọ. Tôi được phép
đến ở chung phòng với một sadi khác.
Rủi thay, người bạn cùng phòng ganh tỵ với tôi. Một
ngày kia tôi kéo trong túi ra một quyển sách giáo khoa tiếng
Anh mỏng, mà tôi đã mượn của người khác, tôi thấy nó
đã bị xé hai. Tôi lo lắng không biết làm sao để đền
tiền quyển sách, và bắt đầu khóc. Một tăng sinh khác
ở phòng bên cạnh nghe tôi thút thít, đã hứa giúp đỡ bằng
cách mua một quyển sách khác.
Vài ngày sau đó, người bạn cùng phòng đã thú nhận rằng
thầy đã xé sách của tôi vì ganh tỵ với sự nổi tiếng
và học giỏi của tôi ở trường. Chiều hôm đó chúng
tôi giải quyết mọi khúc mắc và dần trở thành bạn tốt
của nhau.
Dần dần, ngày thọ đại giới của tôi cũng đã được định.
Đó là ngày 25 tháng 6, năm 1947. Tôi rất phấn khởi và
hạnh phúc. Cuối cùng tôi cũng sẽ được làm một vị tỳ
kheo với đầy đủ giới luật, ước mơ của tôi cũng đã
thành hiện thực. Trước một hội đồng tăng già trang
nghiêm, tôi sẽ thọ các giới luật mới khắt khe hơn.
Thay vì là một sadi với mười giới luật, giờ tôi sẽ chấp
nhận thọ 227 giới luật -những giới luật mà một tỳ kheo
Phật giáo nguyên thủy phải tuân hành.
Tôi gần như không thể chờ đợi lâu hơn.
Buồn thay, ngay từ ban đầu, đã có một bóng mây trong quá
trình đó. Vấn đề không phải là tôi có đủ tư cách
để trở thành một tỳ kheo không, mà là vấn đề chính trị
trong hội đồng Tăng Già Phật giáo ở Ceylon. Những vấn
đề chính trị nầy đe dọa sẽ trì hoãn giấc mơ mà tôi
đã ấp ủ cả đời.
Chương
6
Thọ Đại
Giới
Ở Tích Lan, có ba tông phái chánh của Phật giáo nguyên thủy.
Tông phái xưa nhất và lớn nhất, mà tôi là một thành viên,
là Siyam Nikaya. Tông phái này có nhiều tăng sĩ và chùa chiền
hơn là các tông phái khác. Nó cũng có những ngôi chùa cổ
xưa nhất ở đất nước này. Cái tên Siyam, có từ khi Tăng
già, hay là tăng đoàn, đã rơi xuống con số thấp nhất dưới
sự cai trị của người Anh ở Ceylon, và cũng do ảnh hưởng
của các nhà truyền đạo người Hòa Lan và Bồ Đào Nha. Có
rất nhiều Sadi nhưng không còn lại một vị tỳ kheo đã thọ
đại giới với 227 giới luật nào –do đó không thể truyền
giới cho người khác.
Một Sadi người Ceylon du hành qua Xiêm (Siam), là tên gọi của
Thái Lan thời đó (hay "Siyama" trong tiếng Pali), để được
thọ đại giới làm tỳ kheo. Rồi sau đó ông trở về Ceylon,
thiết lập lại tăng đoàn vào năm 1753.
Chỉ có những người thuộc giai cấp cao quý nhất trong xã
hội Ceylon, gọi là Goyigama, mới được phép thọ đại giới
trong tông phái Siyam Nikaya. Gia đình của tôi, tuy nghèo,
lại thuộc vào giai cấp này. Ở Ceylon, giai cấp không dựa
vào sự giàu có, nhưng vào dòng dõi gia đình. Nhiều năm sau
đó, một nhóm Sadi không thuộc dòng dõi Goyigama du hành đến
Amarapura, ở Burma, và được thọ đại giới ở đó. Nhóm
người này trở lại Ceylon và thành lập tông phái Amarapura
Nikaya vào năm 1800. Tông thứ ba, thành lập vào năm 1810 bởi
các tăng sĩ đã đến khu vực Ramanna của Burma, trở thành
tông phái Ramanna Nikaya.
Lúc đầu giữa các tông phái có rất nhiều tranh chấp. Mỗi
tông phái đều nghĩ rằng tông phái khác không gìn giữ các
giới luật tăng đoàn nghiêm chỉnh đủ. Các tăng sĩ thuộc
dòng Siyam Nikaya, thí dụ, cạo cả lông mày cũng như tóc. Tăng
sĩ thuộc các tông phái khác thì không. Mặt khác, khi ra khỏi
chùa, tăng sĩ thuộc tông phái Siyam được phép để một vai
trần khi họ quấn y quanh mình. Tăng sĩ thuộc các tông phái
khác thì phải che phủ cả hai vai.
Sư phụ của tôi, sư Sonuttara, thuộc về tông phái Siyam Nikaya.
Thầy của ông là một thành viên của hội đồng chứng minh
cao nhất của tông phái này, hoà thượng Pahamune Sumangala.
Năm 1911, lúc thầy tôi được hai mươi lăm tuổi, ông được
gửi đến trông coi một ngôi chùa ở làng Malandeniya. Lập
tức vị sư trưởng ở một chùa trong làng kế bên, Kebilitigoda,
không bằng lòng. Ngôi chùa ở Kebilitigoda đã có mặt
hơn mười năm trước khi thầy tôi đến Malandeniya. Dù thế,
vị sư trưởng này cũng ganh tỵ với thầy tôi, vì thế ông
khiếu nại ra luật pháp rằng ngôi chùa mới đó thuộc quyền
sở hữu của ông. Do đó, thầy tôi phải đến đảnh lễ
và thăm viếng vị sư ở Kebilitigoda mỗi ngày để tỏ lòng
kính trọng.
Thì ra, vị sư ở Kebilitigoda là đại đức Sumanatissa, là người
đã truyền giới sadi cho tôi năm tôi mười ba tuổi. Ông cũng
có thể "khiếu nại" rằng tôi là đệ tử của ông, nhưng
ông không làm thế. Tôi đoán có lẽ lúc đó tôi không
có dấu hiệu gì là một tăng sĩ có nhiều triển vọng.
Qua thời gian, sự hiềm khích giữa hai chùa càng tăng lên.
Và đến thời điểm tôi thọ đại giới năm 1947, tôi bị
vướng vào cuộc tranh chấp này.
Theo truyền thống, khi một sadi sắp thọ đại giới, thông
báo về buổi lễ được gửi đến cho bạn bè, người thân,
các vị tăng sĩ ở chùa, và tất cả những chùa mà người
sadi đó đã từng lưu trú. Tờ thông báo được in trên giấy
rẻ tiền rồi được gửi hay đưa tận tay.
Thầy hiệu trưởng trường Phật học viết tờ thông báo
cho tôi, và theo truyền thống, tôi phải mang về cho thầy tôi
ký. Nhưng vì lý do gì đó, sư Sonuttara ngại ngùng khi phải
ký tên ông như là trụ trì chùa ở Malandeniya.
“Nhưng sư bắt đầu ở chùa này từ năm 1911,” tôi nói.
“Sư đã gầy dựng nó và sư là vị tăng sĩ duy nhất sống
ở đây. Còn ai có thể là trụ trì của chùa?”
Sư Sonuttara không nói gì nhưng cuối cùng ông cũng ký tờ giấy.
Tôi làm nhiều bản copy và tự tay mang tờ đầu tiên đến
cho đại đức Sumanatissa, vị thầy đầu tiên của tôi, ở
ngôi chùa trong làng kế bên. Ngay khi vừa thấy chữ ký của
sư phụ tôi như là trụ trì của ngôi chùa kia, ông nổi giận.
“Đại đức Sonuttara không phải là trụ trì ở chùa đó,”
ông la to. “Tôi mới là! Và tôi cũng không có tên trong danh
sách các sư phụ của thầy.”
Ông lập tức đi ra trụ sở của tông phái Siyam Nikaya ở Kandy
và yêu cầu hoãn buổi lễ thọ giới của tôi lại. Sư
phụ và tôi cảm thấy bàng hoàng, nhưng chúng tôi vẫn tiếp
tục chuẩn bị cho buổi lễ, hy vọng rằng sự tranh chấp
bằng cách nào đó sẽ được giải quyết.
Vào đêm trước lễ thọ đại giới của tôi, theo tục lệ,
người dân làng Malandeniya đã sắp xếp một nghi thức trọng
thể và một buổi tiếp đón ở chùa dành cho tôi. Mặc dầu
đại đức Sumanatissa đe doạ sẽ cản trở buổi lễ, nó vẫn
được diễn ra mà không có vấn đề gì.
Ngày hôm sau, 25 tháng 6, chúng tôi đến Kandy. Nghi lễ thọ
giới sẽ được tổ chức trong sima, một tòa thánh trong khuôn
viên của trụ sở tông phái Siyam Nikaya. Vào ngày đó, hai mươi
sáu vị sadi, kể cả tôi, được chuẩn bị để thọ
đại giới. Bạn bè, người thân và những người đến chúc
phúc đã có mặt ở sima.
Như tôi đã lo ngại, đại đức Sumanatissa không để yên cho
việc này. Ông đã đệ đơn chính thức khiếu nại, chống
lại sự thọ giới của tôi, vì ông, chứ không phải sư phụ
tôi, là trụ trì của chùa ở Malandeniya. Vì thế, sư
phụ tôi không có quyền ký tên vào giấy chứng nhận thọ
giới của tôi với tư cách là “sư trưởng.” Đại
đức Sumanatissa nhất quyết rằng sư phụ tôi chỉ được
ký tên với tư cách là vị "sư thường trú" tại chùa.
Sư phụ tôi, sư Sonuttara, là người ít học, không rành chữ
nghĩa. Ông rất sợ phải chống đối với bất cứ vị
sư nào trưởng thượng hơn. Nhưng trên tất cả, ông
không muốn sự tranh chấp này sẽ phá hỏng cơ hôi được
thọ giới của tôi. Tôi rất giận đại đức Sumanatissa, một
phần vì ông quá khó khăn với sư phụ tôi, phần vì ông đã
muốn làm hỏng một ngày quan trọng nhất trong đời tôi. Tôi
cảm thấy tính chính trị trong tất cả mọi thứ thật là
kinh khủng, nhưng tôi không thể làm được gì hơn.
Không một lời cãi vả, sư phụ tôi ký vào giấy chứng nhận
theo như đại đức Sumanatissa yêu cầu, với mấy chữ 'sư
thường trú' cạnh bên tên ông.
Vài giờ trước khi buổi lễ bắt đầu, hai vị sư huynh vận
y cho tôi toàn trắng, với một cái mũ giống như vương miện
trên đầu. Nếu người sắp thọ giới có bà con hay người
bảo trợ giàu có, thì có thể cưỡi voi, một biểu tượng
của sự oai nghiêm và đẳng cấp. Vị đó cũng có thể có
hàng trăm người đi theo, đánh trống, thổi kèn, sáo, và nhảy
múa. Vì gia đình tôi không giàu có, nghi lễ dành cho tôi đơn
giản hơn.
Trong lúc tôi đang thay y áo, bà con họ hàng và các thầy của
tôi đã chuẩn bị sẵn những mâm quà cho các thành viên của
hội đồng chứng minh. Mỗi mâm gồm có trầu cau để
ăn, thuốc để hút, một cái khăn lông, một bánh xà bông,
kem đánh răng, bàn chải đánh răng làm từ những cọng cỏ
nhỏ và một hộp bánh.
Có khoảng hai mươi vị chức sắc đến dự: hòa thượng trưởng
môn của tông phái Siyam Nikaya; hai thị giả của ngài, cũng
là những người cao hạ, uy nghi; một tăng sĩ thư ký, người
quản lý mọi giấy tờ trong tông phái; và mười sáu người
khác. Theo một tôn ti trật tự rất khắt khe, tôi phải đến
lễ mỗi vị sư ở thất của họ, theo thứ tự, và dâng cúng
cho họ những mâm quà. Nghi lễ này kéo dài khoảng một tiếng
đồng hồ.
Mặc dầu có vẻ rườm rà, nhưng mỗi vị sắp thọ giới
trọng, phải thọ giới sadi trở lại và mặc chiếc y mới
màu vàng chói trong những giờ phút cuối cùng, trước khi người
đó trở thành một vị tỳ kheo. Điều đó nhắc nhở người
sắp thọ giới, một lần nữa, về sự từ bỏ cuộc sống
vương giả của thái tử Siddhattha, chỉ quấn quanh người
Ngài một mảnh vải màu vàng khi Ngài bắt đầu cuộc sống
không nhà. Nó cũng được dùng để "lau sạch mọi tội lỗi"
trong trường hợp người sắp thọ giới đã phạm lỗi gì
trong giai đoạn làm sadi, và đã không kịp sám hối với sư
phụ của mình.
Khoảng sáu giờ chiều, buổi lễ bắt đầu.
Một sợi dây ngăn tòa sima làm hai- một bên dành cho quý sư,
bên kia cho cư sĩ. Phía bên cư sĩ thì đông nghẹt với hàng
trăm khách khứa ồn ào. Trẻ con đùa giỡn, em bé khóc lóc,
và người lớn trò chuyện cười đùa.
Ở cuối phòng họp là một tượng Phật to lớn. Tượng Phật
được đặt trên một bàn thờ gỗ đen đã tróc nước sơn,
tràn đầy những đèn cầy dâng cúng và đèn đất nhỏ, các
lư hương ngun ngút khói, các bình hoa, các ly nhỏ chứa đầy
nước trái cây, nước trà hay nước lã. Một mâm đựng những
trầu cau theo truyền thống. Một đôi đèn dầu bằng đồng
to được đặt hai bên hông bàn thờ, chiếu ánh sáng lung linh
trên khuôn mặt trầm tĩnh của Đức Phật.
Ngồi bên phải bức tượng là vị thượng tọa trưởng môn,
hai bên là hai thị giả. Các vị tăng khác trong hội đồng
chứng minh ngồi trên sàn gỗ, hai hàng đối mặt nhau.
Các sadi chúng tôi được dặn phải ngồi trên sàn nhà theo
thứ tự tuổi tác. Còn sáu tháng nữa mới được hai mươi
tuổi, tôi là người trẻ nhất. Một sadi ít nhất phải hai
mươi tuổi mới được thọ giới trọng, nhưng vì tôi đã
hoàn tất mọi điều kiện khác, tôi được thọ giới sáu
tháng sớm hơn.
Đầu tiên là một cuộc sát hạch bằng miệng, qua đó một
vị sư cao niên sẽ hỏi các sadi, từng người một, tụng
lại các kinh và trả lời câu hỏi. Người giám khảo buổi
chiều hôm đó là vị sư cao niên cấp bậc thứ hai, một người
được biết là rất khắt khe. Cách của ông là đọc một
dòng đầu tiên trong các kinh Phật, rồi yêu cầu người sắp
thọ giới phải hoàn tất bài kinh.
Phần đông các sadi khác chỉ thuộc các đoạn kinh bắt buộc.
Còn tôi, với trí nhớ như in và lòng muốn chứng tỏ sự
vượt trội, đã học thuộc lòng nhiều hơn. Dầu thế, trước
đám đông tôi cũng rất run.
Cuối cùng, sau hai mươi lăm vị sadi khác, cũng đến phiên
tôi. Vị giám khảo đã làm việc hơn một tiếng rưỡi rồi
và ông có vẻ mệt nhoài.
Ông yêu cầu tôi đọc một đoạn trong kinh Pháp Cú. Tôi
hít một hơi thở sâu, nhắm mắt lại và đọc một mạch
không ngừng tám đoạn kinh.
"Thôi đủ rồi,” vị giám khảo nói. "Thầy rất thuộc
bài."
Kế tiếp, mỗi sadi phải được chấp nhận một cách chính
thức là người sẽ được thọ giới. Giống như các sadi
trước tôi, tôi đứng dậy và đến trước một trong các
vị sư chứng minh. Ông hỏi tôi theo như thể thức bắt buộc:
tên tôi; giới tính; tên cha mẹ; tên sư phụ; tôi có bệnh
truyền nhiễm gì không; tôi có ở trong quân đội hay là một
người thường dân; và cả câu hỏi về tôi là người hay
ma quỷ.
Trong khi phần lớn chỉ là hình thức, những câu hỏi này
nhằm xác nhận rằng, tôi không phải là một kẻ tội đồ
đang tìm cách trốn tránh pháp luật bằng màu áo người tu.
Câu hỏi về bệnh truyền nhiễm để chắc chắn rằng tôi
không có những chứng bệnh có thể lây lan cho cộng đồng
các tăng sĩ. Những câu hỏi khác, hơi kỳ hoặc, là những
câu hỏi truyền thống đã có từ thời Đức Phật.
Sau khi tôi đã trả lời tất cả các câu hỏi, vị sư tuyên
bố với vị trưởng môn rằng tôi hội đủ điều kiện để
được truyền giới. Tôi quỳ trước vị trưởng môn và đảnh
lễ, chạm trán xuống sàn nhà trước mặt ông ba lần. Lần
nữa, tôi lại trả lời một số câu hỏi, lần này cho vị
trưởng môn nghe.
Sau đó tôi được dạy ngồi xuống với các sadi khác. Hai
vị sư thuyết giảng cho chúng tôi nghe về sự quan trọng của
227 giới mà chúng tôi phải tuân giữ sau khi thọ giới, nhấn
mạnh đến bốn giới trọng: không dâm dục; không lấy bất
cứ gì không phải là cho mình; không sát hại; và không khoe
khoang về các khả năng siêu nhiên. Ngoài ra, chúng tôi cũng
được nhắc nhở về việc vun trồng tâm xả đối với bốn
vật dụng mà các cư sĩ cúng dường: y áo, thực phẩm, nơi
ở và thuốc men. Tất cả những lời khuyên này đều xuất
phát từ những lời dạy ban đầu của Đức Phật đối với
đệ tử của Ngài.
Cuối cùng, với chiếc bình bát mới tinh đeo trên cổ, chúng
tôi đảnh lễ từng vị sư trong hội đồng chứng minh, bắt
đầu từ vị trưởng môn. Sau đó chúng tôi ngồi xuống
thành hàng dài, và tất cả các cư sĩ xếp hàng đến cúng
dường vật dụng cho chúng tôi. Đây là phần vui nhất
của buổi lễ. Nó nhấn mạnh đến sự tương quan tùy
thuộc giữa tăng đoàn và cư sĩ. Nhiều cư sĩ khóc khi họ
vái chào và đặt đồ cúng dường của họ trước mặt chúng
tôi.
Nghi lễ cúng dường là một trong những nét văn hóa trong Phật
giáo, nhưng đôi khi bị hiểu lầm bởi người ngoại đạo
cho rằng tăng sĩ là những hành khất lười biếng, được
đám đông khờ dại hỗ trợ. Thật ra, điều đó hoàn toàn
ngược lại: người cho cũng nhận được nhiều như, nếu
không nói là hơn, người nhận vì họ đã thực hành hạnh
bố thí, hay sự rộng lượng.
Bất cứ ai cúng dường cũng là đang thực hành tâm rộng lượng.
Đức Phật dạy rằng cách thực hành này là một phương tiện
thiện xảo để đoạn diệt lòng tham chấp. Trong rất
nhiều bài kinh, Đức Phật đã khuyến khích các Phật tử
thực hành hạnh bố thí bất cứ khi nào và ở bất cứ nơi
nào có thể:
NHƯ MỘT BÌNH CHỨA NƯỚC ĐẦY,
NẾU DỐC NGƯỢC BÌNH,
TẤT CẢ NƯỚC CHẢY RA
KHÔNG GIỮ GÌ LẠI CẢ.
HƠN THẾ NỮA, NẾU BẠN GẶP NGƯỜI CẦN GIÚP ĐỠ
DẦU Ở GIAI CẤP THẤP, TRUNG HAY SANG CẢ,
THÌ HÃY BỐ THÍ NHƯ CHIẾC BÌNH DỐC NGƯỢC
KHÔNG GIỮ LẠI GÌ CẢ.
Trong một bài thuyết giảng khác, Đức Phật dạy rằng có
ba cách để tạo công đức. Ba cách đó là giữ giới, thiền
định và bố thí.
Hình thức bố thí giữa người cư sĩ và tu sĩ gần giống
như một sự hỗ tương lẫn nhau. Người cư sĩ cúng dường
các vật dụng cần thiết để giúp vị tu sĩ có thể bước
trên con đường đạo, mà không phải lo lắng về những vật
dụng cần thiết. Đáp lại, người tu sĩ cầu an, cũng như
thuyết pháp -là Pháp thí cho cư sĩ.
Trong buổi lễ thọ giới của tôi, khi các vật dụng cúng
dường dần dần chất cao trên sàn nhà trước mặt tôi, tôi
ngồi đó và tưởng nhớ đến mẹ. Tôi ước chi bà có thể
chứng kiến buổi lễ này! Tôi biết nó có ý nghĩa xiết bao
đối với bà, và nếu có bà ở đây thì nó cũng có ý nghĩa
với tôi xiết bao. Nhưng vì lưng mẹ tôi bị chấn thương,
bà không thể đi bộ hơn mười mấy cây số từ làng đến
đây, và bà cũng không có phương tiện gì khác để có thể
đến đây. Nếu bà có mặt ở Kandy ngày hôm đó, chắc chắn
rằng bà sẽ khóc những giọt nước mắt vui mừng, thấy rằng
đứa con trai út của bà, cuối cùng cũng đã trở thành một
vị tỳ kheo với đầy đủ giới luật.
Chương
7
Thuốc Chữa
Cuối Cùng: Thiền Quán
Một vài ngày sau lễ thọ đại giới, tôi sốt sắng tham gia
vào một trong những Phật sự của một vị tỳ kheo với đầy
đủ giới luật, là đả Phật thất. Nghi lễ này, được
gọi trong tiếng Pali là paritta, được thực hiện nhằm xua
đuổi những vong linh xấu ác -một thí dụ khác nữa về việc
niềm tin dân gian và Phật giáo vẫn có mặt cạnh nhau. Nếu
có người bệnh, hay dân làng đang gánh chịu một trận đói
hay hạn hán (những bất hạnh mà có thể là do những linh
hồn xấu ác tạo ra), người ta thường yêu cầu quý sư thực
hiện việc tụng niệm đặc biệt này. Suốt cả tuần, từng
hai tu sĩ luôn phiên tụng niệm không dừng. Mỗi lần,
họ tụng khoảng một giờ, rồi hai người khác thay phiên
tụng. Sự tụng niệm này rất nhiệt huyết, gần như là hét
hơn là xướng tụng. Chỉ có các vị sư với giọng tụng
mạnh mẽ mới được lựa chọn, và họ được coi trọng
vì sự nỗ lực này. Các tăng sĩ trẻ thường nôn nóng để
được đến lượt mình gia nhập nhóm